i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận “Quy hoạch phát triển mạng lưới khám,
chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 - 2025” là do bản thân tôi nghiên
cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn là
Thầy Hoàng Sỹ Động.
Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Thái iii
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ QUY
HOẠCH Y TẾ 5
1.1. Dịch vụ y tế 5
1.1.1. Khái niệm 5
1.1.2. Đặc điểm 7
1.1.3. Phân loại dịch vụ y tế 8
1.1.4. Khu vực cung cấp dịch vụ y tế 10
1.2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quy hoạch y tế 11
1.2.1. Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực và quy hoạch y tế 11
1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển quy hoạch y tế ở Việt Nam 12
1.2.3. Tình hình quy hoạch y tế Việt Nam những năm gần đây và một số
kinh nghiệm phát triển y học của các nước trên thế giới 13
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI KHÁM,
CHỮA BỆNH TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2013 21
2.1. Tình hình hoạt động y tế của tỉnh Nghệ An đến năm 2013 21
2.1.1. Công tác phòng chống dịch bệnh 21
2.1.2. Công tác khám, chữa bệnh - Phục hồi chức năng 21
2.1.3. Thực hiện Chương trình mục tiêu y tế quốc gia 24
2.2. Thực trạng phát triển mạng lƣới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An
đến năm 2013 28
2.2.1. Phát triển hệ y tế công lập 28
2.2.2. Mạng lưới khám, chữa bệnh – phục hồi chức năng 30
2.2.3. Phát triển mạng lưới phân phối thuốc, công nghiệp dược 33
3.3.3. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường 62
3.3.4. Phát triển nguồn nhân lực 63
3.3.5. Một số giải pháp khác 63
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATVSTT : An toàn vệ sinh thực phẩm
BHYT : Bảo hiểm y tế
BSGĐ : Bác sĩ gia đình
BVĐK : Bệnh viện Đa khoa
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
DSĐH : Dược sĩ Đại học
DS/KHHGĐ : Dân số/Kế hoạch hóa gia đình
ĐKKV : Đa khoa khu vực
GB : Giường bệnh
GDSK : Giáo dục sức khỏe
KCB : Khám chữa bệnh
NSNN : Ngân sách nhà nước
HNĐK : Hữu nghị Đa khoa
TYT : Trạm y tế
TW : Trung Ương
VSATTP : Vệ sinh An toàn thực phẩm
PKĐKKV : Phòng khám Đa khoa khu vực
UBND : Ủy ban Nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nhiều năm qua nước ta nói chung và tại tỉnh Nghệ An nói riêng
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe nhân dân, thể hiện bằng việc huy động các nguồn lực cho nền y tế,
đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe; phát huy tính chủ động, sáng
tạo của các địa phương, các ngành, các đoàn thể xã hội và toàn dân vào nhiệm
vụ chăm lo sức khỏe.
Tỉnh Nghệ An đã rất chú trọng đến việc phát triển quy hoạch mạng lưới
khám, chữa bệnh trong những năm qua và đã đạt được nhiều bước chuyển
biến tích cực cho nền y tế của tỉnh. Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và
phát triển, nhiều cơ sở y tế mới được quy hoạch, xây dựng với đội ngũ cán bộ
y tế có trình độ chuyên môn ngày càng được tập trung, chú trọng để nâng cao
trình độ; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều công nghệ mới được
nghiên cứu và ứng dụng, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị đã được tăng
cường quản lý. Nhân dân ở các vùng miền hầu hết đã được chăm sóc sức
khỏe nhiều hơn trước.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và yếu
kém. Hệ thống kinh tế chậm đổi mới chưa phù hợp với sự thay đổi của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh
tật; chất lượng, dịch vụ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân; điều kiện chăm sóc cho người nghèo, vùng sâu vùng xa, dân tộc
thiểu số còn nhiều khó khăn và hạn chế; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc
còn yếu; vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm còn chưa được kiểm soát chặt chẽ.
nhằm quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh của tỉnh Nghệ An
trong giai đoạn 2014 - 2025.
+ Nhiệm vụ của đề tài
Đúc kết cơ sở lý luận và thực tiễn về việc quy hoạch y tế.
Phân tích thực trạng quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh
Nghệ An đến năm 2013.
3
Đưa ra giải pháp phát triển quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh của
tỉnh Nghệ An trong giai đoạn mới, giai đoạn 2014 - 2025.
3. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
+ Về mặt không gian
Địa bàn nghiên cứu của đề tài bao gồm các cơ sở y tế công lập và ngoài
công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (không tính đến các cơ sở khám, chữa
bệnh ngoài ngành đóng trên địa bàn tỉnh).
+ Về mặt thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện quy hoạch phát triển
mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh Nghệ An tính đến năm 2013.
+ Về mặt nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển quy hoạch
mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh Nghệ An trong những năm qua. Các số
liệu sẽ lấy chi tiết đánh giá thực trạng qua những năm gần đây để từ đó đưa ra
những định hướng và giải pháp cho quá trình quy hoạch phát triển mạng lưới
khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tiếp theo.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập tài liệu
Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn như các giáo trình, số liệu
phục vụ bệnh nhân và gia đình. Trên thực tế, người bệnh rất ít khi đánh giá
chính xác chất lượng dịch vụ y tế mặc dù họ có thể cảm nhận qua việc tiếp
xúc với nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất, bởi vì một người bệnh
được phẫu thuật khó lòng biết được chất lượng của ca mổ đó như thế nào.
Chất lượng dịch vụ y tế bao gồm 2 thành phần: chất lượng kĩ thuật và
chất lượng chức năng. Chất lượng kĩ thuật là sự chính xác trong kĩ thuật
chuẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính khác
nhau như: Cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ
chức quy trình khám, chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức
bệnh viện chăm sóc bệnh nhân.
Trên thực tế các dịch vụ y tế vẫn ít nhiều mang tính chất của hàng hóa:
có nhu cầu, có người cung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (người trả
tiền có thể là cá nhân, tập thể, Nhà nước)
Thị trường y tế không phải là thị trường tự do, bởi trong thị trường tự
do giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa nguyện của người
mua và người bán. Còn trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận
này, bởi giá dịch vụ do người bán quyết định.
Chính vì vậy, việc bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và
bên sử dụng dịch vụ dẫn đến việc người dân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các
chủ định điều trị, do vậy người bệnh hầu như phải dựa vào các quyết định của
thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế. Vấn đề này cần phải được
6
kiểm soát chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía
cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế
nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế.
có thể tự lựa chọn nơi điều trị và ở một chừng mực nào đó thì có thể lựa chọn
người chữa bệnh cho mình chứ không thể tự bản thân lựa chọn phương pháp
chữa bệnh cho mình. Mặt khác do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với
tính mạng con người nên mặc dù không có tiền nhưng vẫn cần phải khám,
điều trị bệnh. Đây cũng chính là điểm khác biệt so với các loại hàng hóa khác.
Với các loại hàng hóa khác, người mua có nhiều phương pháp để lựa chọn,
thậm chí có thể không mua nếu như khả năng tài chính không cho phép.
1.1.2. Đặc điểm
Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tế có các đặc điểm sau:
- Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng
không tồn tại ở một mô hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa.
- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, nếu như không thỏa
mãn hai điều kiện này thì dịch vụ không có giá trị.
- Do phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm
lý, hoàn cảnh của các bên tham gia nên chất lượng dịch vụ mang tính chất
không đồng đều.
- Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn
trong việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ. Tuy nhiên, vẫn có thể xác định được một
mức độ phục vụ nhất định nào đó.
- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo ra dịch vụ.
Khác với hàng hóa, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người
tạo ra dịch vụ.
- Chính từ sự yêu cầu của người sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá
trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ. Đó là sự ảnh
hưởng mật thiết của người tiêu dùng với sự tồn tại của dịch vụ.
Tuy nhiên, dịch vụ y tế có những đặc điểm riêng không giống với các
dịch vụ khác như:
9
b. Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám,
chữa bệnh
Danh mục kỹ thuật trong khám, chữa bệnh là những dịch vụ y tế mà
các cơ sở y tế đăng ký với Nhà nước được cung cấp tại đơn vị mình. Danh
mục kỹ thuật trong khám, chữa bệnh được sắp xếp theo chuyên khoa, chuyên
ngành dịch vụ như: dịch vụ khoa ngoại, chấn thương, nội, sản, nhi,
Phân tuyến kỹ thuật là những quy định của cơ quan Nhà nước trong
phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến từ tuyến xã, huyện, tỉnh đến
Trung ương.
Theo tiêu thức này, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động y tế dự phòng (bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực
phẩm).
- Hoạt động khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng.
- Hoạt động khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền.
- Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc.
c. Phân loại theo tiêu thức của WTO
- Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự
phòng, chuẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không
có chăm sóc tại bệnh viện
- Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế
cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kì và sinh con chăm sóc
(không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia.
- Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của
bác sĩ chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi
và/ hoặc duy trì tình trạng sức khỏe
điểm riêng biệt là con người mặc dù không có khả năng chi trả nhưng vẫn
phải tiêu dùng. Nhưng mục tiêu cuối cùng của các nhà tư nhân này đều là đạt
lợi nhuận tối đa. Chính vì vậy, nhiều lĩnh vực của dịch vụ y tế sẽ không được
các nhà tư nhân tham gia vào vì họ không đạt được mục tiêu lợi nhuận. Mặt
khác, cũng có những nhà tư nhân vì mục tiêu lợi nhuận mà họ bất chấp tất cả
11
để có thể đạt được lợi nhuận như: Khám chữa bệnh với giá mắc, thái độ phục
vụ không tốt, ai có tiền thì phục vụ tốt còn không có thì phục vụ với thái độ
thờ ơ
1.2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quy hoạch y tế
1.2.1. Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực và quy hoạch y tế
1.2.1.1. Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực
Hiện nay trên thực tế có 2 cách định nghĩa cơ bản như sau:
- Cách thứ nhất là định nghĩa theo cách làm quy hoạch: Quy hoạch
ngành, lĩnh vực là một môn khoa học, dựa trên cơ sở của nhiều môn khoa học
khác và mang tính sáng tạo về phương pháp tiếp cận, bộ công cụ và mục
tiêu, kịch bản, phương hướng phát triển, giải pháp thực hiện trên không gian
xác định và theo thời gian, chú trọng tương lai gần, đặt trong xu thế phát triển
chung (Định nghĩa theo cách làm quy hoạch).
Tuy nhiên, khái niệm đưa ra như vậy chưa phản ánh đầy đủ công việc
chính mà mới chỉ phản ánh bước thứ nhất là làm quy hoạch.
Từ cách định nghĩa trên, có thể đưa ra sơ đồ, thể hiện khái niệm về làm
quy hoạch ngành, lĩnh vực như sau:
Không gian quy hoạch
Thực hiện quy hoạch
Bƣớc 3
Giám sát, đánh giá quy
hoạch
Sơ đồ 1.2: Biểu thị quy trình quy hoạch
Cách định nghĩa thứ hai này biểu thị đầy đủ, đúng bản chất hơn so với
cách định nghĩa thứ nhất. Định nghĩa này còn đưa vào những vấn đề mới là
cạnh tranh trong thời đại toàn cầu hóa vào khái niệm như khai thác, phát huy
tiềm năng, lợi thế và quan trọng hơn nữa đã đưa vấn đề nội dung tổ chức
không gian – một nội dung quan trọng của quy hoạch nhưng Việt Nam luôn
yếu kém và cần khắc phục.
1.2.1.2. Khái niệm quy hoạch y tế
Quy hoạch y tế - là quá trình xác định vấn đề sức khỏe cộng đồng. Xác
định nhu cầu và nguồn lực, xây dựng mục tiêu ưu tiên, và đề ra những hành vi
hành chính cần thiết để đạt được những mục tiêu này.
Hệ thống y tế theo quy hoạch này gồm mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế
dự phòng, y tế cơ sở, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng, mạng
lưới sản xuất, lưu thông, phân phối và cung ứng thuốc.
1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển quy hoạch y tế ở Việt Nam
Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, nền
kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực, uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế và khu vực ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh
những cơ hội phát triển trên mọi lĩnh vực thì cũng có không ít những thách
thức, khó khăn mà nước ta phải đối mặt – đó là cạnh tranh quốc tế. Chúng ta
13
phải cạnh tranh trên về mọi mặt, vì vậy, cạnh tranh về y tế không nằm ngoài
14
Giảm dần số trường hợp mắc và chết do HIV/AIDS hằng năm. Các
chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm được mở rộng cả về phạm
vi bao phủ, đối tượng được sàng lọc, quản lý điều trị. Chương trình phòng
chống tăng huyết áp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch truyền thông. Xây
dựng mạng lưới tổ chức chương trình phòng chống đái tháo đường. Triển khai
có hiệu quả việc kiểm soát các bệnh gây mù có thể phòng chữa được theo Kế
hoạch quốc gia phòng chống mù lòa giai đoạn 2009 - 2013.
Đạt và vượt kế hoạch các chỉ tiêu sức khỏe bà mẹ và chăm sóc thai sản
năm 2012 như sàng lọc trước sinh và sơ sinh, số người mới sử dụng các biện
pháp tránh thai, quản lý và chăm sóc thai sản. Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở
trẻ em dưới 5 tuổi ước tính là 16,2%, giảm 0,6% so với năm 2011.
b. Cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng
Mạng lưới tổ chức KCB ngày càng được mở rộng. Đến hết năm 2012,
cả nước có 1.180 bệnh viện với 25,04 giường bệnh/10.000 dân (24,3 giường
công lập). Có 35 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến TW; 382 bệnh viện
đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh tập trung ở tỉnh lỵ. Hầu hết các huyện
(561) đều có bệnh viện đa khoa thực hiện cung ứng dịch vụ KCB ban đầu. Có
150 bệnh viện tư nhân được cấp phép hoạt động với 9.611 giường bệnh.
Ngoài ra 78,8% các TYT xã đã triển khai KCB BHYT.
Dịch vụ KCB tại bệnh viện gia tăng đáng kể. Năm 2012 đã có gần 132
triệu lượt khám tại bệnh viện, tăng 6,8% so với năm 2011, trong đó tăng nhiều
nhất là khối bệnh viện tư nhân (19,1%). Tình hình quá tải tại các bệnh viện
tuyến trung ương và tuyến tỉnh được cải thiện một phần, tỷ lệ sử dụng giường
bệnh giảm nhẹ.
Khả năng cung ứng dịch vụ của mạng lưới y tế cơ sở được cải thiện.
Từ các đề án 225 và 47, đã có 145 bệnh viện huyện, 46 phòng khám đa khoa
khu vực hoàn thành và đưa vào sử dụng. Tại tuyến huyện, sau 10 năm, số
bệnh viện đa khoa tăng 17%, số giường bệnh tăng 64%. 76,8% số trạm y tế xã
chẩn trị y dược học cổ truyền tư nhân. Tỷ lệ KCB bằng YHCT chiếm 8,8% ở
tuyến tỉnh, 9,1% ở tuyến huyện và 24,6% ở tuyến xã.
c. Củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở
- Củng cố tổ chức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã.
Bảo đảm 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, trong đó 100% các trạm y tế xã ở
16
đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sĩ; 100% trạm y tế xã có
nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm
y tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ
trạm y tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân. Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y
tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã. Ở các thành phố
lớn, số lượng cán bộ trạm y tế được cân đối theo tỷ lệ cứ 1.400 đến 1.500 dân
có một cán bộ trạm y tế phường phục vụ.
- Bảo đảm mỗi thôn, bản có từ 1 đến 2 nhân viên y tế có trình độ từ sơ
học y trở lên hoạt động.
- Các doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 200 đến dưới 500 người
phải có từ 01 - 03 cán bộ y tế phục vụ. Các doanh nghiệp có từ 500 công nhân
trở lên phải thành lập trạm y tế của doanh nghiệp.
- Bảo đảm mỗi trường phổ thông có từ 01 - 02 cán bộ y tế phục vụ. Các
trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trạm y tế cơ sở.
d. Củng cố và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về dược, phát triển
hệ thống sản xuất, lưu thông phân phối và cung ứng thuốc. Bảo đảm an toàn
vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm
- Kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về dược phẩm, an
toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm từ trung ương đến địa phương.
+ Kiện toàn Phòng quản lý dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ
qua sự kiểm định và chứng nhận của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO). Cuba
hiện là nước có tuổi thọ trung bình của người dân thuộc loại cao nhất tại Mỹ
Latinh (78 tuổi). Nhờ áp dụng công nghệ gen, các trung tâm sinh học Cuba đã
sản xuất hàng loạt các dược phẩm công nghệ cao cấp, có uy tín trên thị trường
quốc tế như Vaccine chống viêm não Nhật Bản B,C, điều trị ung thư phổi,
phòng viêm gan B, chữa nhồi máu cơ tim… Cuba đã xuất khẩu 38 loại dược
phẩm tới 40 quốc gia trên Thế giới mang về cho ngân sách nhà nước hàng
trăm triệu USD/năm.
Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Cuba trở thành quốc gia đầu tiên
phát triển và tung ra thị trường vaccine viêm não Nhật Bản, sau đó là vaccine
18
viêm gan siêu vi B. Hiện vaccine viêm gan siêu vi B của nước này được xuất
khẩu sang 30 nước trên Thế giới, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Nga,
Pakistan.
Nối tiếp các thành công vang dội đó, đến năm 2012 các nhà khoa học
Cuba đã mang đến cho bệnh nhân ung thư một niềm hy vọng lớn đó là việc
bào chế thành công sản phẩm chống ung thư từ nọc độc của bọ cạp xanh, một
loại bọ cạp đặc chủng của Cuba. Loại sản phẩm này được coi là thành tựu mới
của nền y học Cuba. Bước tiến đột phá trong nền Y học Cuba không những
chứng minh đất nước Cuba có nền y học tiến bộ nhất Thế giới mà còn là cánh
tay chìa ra giành lấy sinh mạng của những con người đang cố gắng vượt qua
căn bệnh ung thư quái ác.
- Phát triển y học ở Singapore
Là một quốc đảo nhỏ bé với hơn năm triệu dân, không có tài nguyên
thiên nhiên, Singapore chỉ dựa vào nguồn tài nguyên duy nhất là con người.
Từ lâu Singapore đã xác định muốn tồn tại, phát triển và phồn thịnh, họ phải
thực hiện thông qua chính sách bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội cho người
già để họ vẫn tiếp tục lao động và đóng góp cho xã hội.
Ở Nhật, thực hiện BHYT bắt buộc. Trước đây, hệ thống BHYT toàn
dân của Nhật không chi trả cho kiểm tra sức khỏe ban đầu, nhưng hiện nay đã
bắt đầu thay đổi và sử dụng nguồn tài chính BHYT cho khám sức khỏe. Sự
phát triển của khối y tế tư nhân góp phần giảm gánh nặng cho tầng lớp trung
lưu, trong đó thẻ BHYT sẽ được chi trả tại các cơ sở y tế tư nhân này.
Đó là mô hình hay mà Việt Nam có thể áp dụng trong 10-15 năm tới
nhằm giảm quá tải bệnh viện, giảm chi phí đầu tư công.
- Kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực y tế của một số nước trong khu
vực:
Thiếu hụt bác sĩ và mất cân đối trong phân bổ nhân lực y tế là một vấn
đề của nhiều quốc gia, giải pháp nhằm giải quyết tình trạng này ở một số
nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Myanmar, Philippines,… là:
+ Tăng cường đào tạo: Mở rộng mạng lưới đào tạo nhân lực y tế. Các
chương trình đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo chuyên khoa được phát triển
theo nhu cầu thực tế của đất nước trong từng giai đoạn.