i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong khóa luận này hoàn toàn trung thực và khách quan. Các
thông tin tài liệu trích dẫn trong khóa luận đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trần Thuý Hằng
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và sâu sắc, tôi xin cảm ơn TS. Lê Kim Chi đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Tôi chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển đã
tạo mọi điều kiện giúp chúng tôi có môi trường học hỏi và trau dồi kiến thức. Tôi
xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Quy hoạch phát triển, cùng toàn
thể các thầy cô Học viện, đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập.
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến phòng Tổng hợp - Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh, phòng Quản lý doanh nghiệp - Ban quản lý
KKT Vũng Áng đã cung cấp cho tôi các số liệu liên quan để em hoàn thành
khóa luận này.
Mặc dù đã rất cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tôi
rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo để khoá luận của tôi
được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2.1. KHÁI QUÁT KHU KINH TẾ VŨNG ÁNG: 21
2.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KKT
VŨNG ÁNG 21
2.2.1. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên 21
2.2.2. Nguồn lao động 22
2.2.3. Nguồn vốn đầu tư 22
2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA KKT VŨNG ÁNG TRONG GIAI ĐOẠN
VỪA QUA 23
iv
2.3.1. Thực trạng về thu hút đầu tư 23
2.3.2. Thực trạng phát triển các ngành trong KKT Vũng Áng và Hà Tĩnh 26
2.3.3 Thực trạng kết cấu hạ tầng KKT Vũng Áng 35
2.3.4 Thực trạng về lao động, việc làm 39
2.4. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KKT VŨNG ÁNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ TĨNH 41
2.4.1. Về mặt kinh tế: 41
2.4.2. Về mặt xã hội 52
Chƣơng III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KKT VŨNG ÁNG
NHẰM NÂNG CAO ĐÓNG GÓP KKT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KT- XH TỈNH
57
3.1. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KKT VŨNG ÁNG 57
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KKT VŨNG ÁNG NHẰM
NÂNG CAO ĐÓNG GÓP CỦA KKT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI
CỦA TỈNH HÀ TĨNH 58
3.2.1. Giải pháp về thu hút vốn đầu tư 58
3.2.2.Về hoạt động thu ngân sách nhà nước 59
3.2.3. Giải pháp phát triển các ngành Kinh tế 59
3.2.4. Giải pháp về nguồn nhân lực 63
3.2.5. Giải pháp về chế độ chính sách 65
Khu đô thị
Kinh tế - xã hội
Uỷ ban nhân dân
Giá trị sản xuất
Hội đồng nhân dân
Nông – Lâm – Ngư nghiệp
Ngân sách nhà nước
Lao động
Thương mại - dịch vụ
Công nghiệp - xây dựng
Sản xuất kinh doanh vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Danh sách các KKT ở ven biển Miền Trung tính đến tháng 11/2011 19
Bảng 2.1: Số vốn đầu tư thu hút được theo loại hình vốn đầu tư giai đoạn 2007 –
2011 24
Bảng 2.2: Số dự án đầu tư theo lĩnh vực Giai đoạn 2007-2011 25
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất trên địa bàn khu kinh tế Vũng Áng trong giai đoạn 2007-
2011 32
Bảng 2.4: Số lượng lao động làm việc trong Khu kinh tế 39
Bảng 2.5: Bảng thể hiện cơ cấu các ngành kinh tế trong tỉnh Hà Tĩnh 42
Bảng 2.6: Kết quả đạt được trong ngành N- L -NN trong 2011-2013 45
Bảng 2.7: Bảng giá trị đạt được của ngành Thương mại - dịch vụ 47
Bảng 2.8: Bảng cơ cấu vốn đầu tư trong giai đoạn 2011-2013 của Tỉnh Hà Tĩnh 49
Bảng 2.9: Bảng thể hiện số tiền đóng góp cho NSNN tỉnh Hà Tĩnh theo lĩnh vực
giai đoạn 2011-2013 50
Bảng 2.10: Bảng hiện trạng và dự báo dân số 52
phương. Mặt khác việc xây dựng và phát triển các KKT ở Việt Nam trong thời
gian qua là một bước đi đúng hướng và phù hợp với chủ trương chung của Đảng,
Nhà nước ta, là chìa khoá để thúc đẩy quá trình CNH-HĐH cũng như hội nhập
kinh tế quốc tế thành công ở nước ta.
Cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước, việc hình thành và phát
triển KKT Vũng Áng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
chung của tỉnh Hà Tĩnh đồng thời tác động mạnh mẽ đến quá trình CNH – HĐH
đất nước, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Sau 8 năm
xây dựng và phát triển, KKT Vũng Áng đã đóng góp vào ngân sách nhà nước
hàng nghìn tỷ đồng và trở thành một điểm sáng trong thu hút đầu tư, đặc biệt là
đầu tư nước ngoài với các dự án đầu tư công nghiệp quy mô lớn với vốn đầu tư
hàng nghìn tỷ đồng, hàng tỷ USD. Tiến tới đưa KKT Vũng Áng trở thành một
trong những KKT năng động nhất cả nước, có vai trò là vùng kinh tế động lực,
tạo bước phát triển đột phá về công nghiệp, dịch vụ, đưa nền kinh tế Hà Tĩnh lên
một tầm cao mới. Mặc dù KKT Vũng Áng đã đạt được những thành tựu đáng kể
nhưng việc phát triển KKT Vũng Áng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Đánh giá đầy
2
đủ các tác động của KKT Vũng Áng đến sự phát triển chung của tỉnh Hà Tĩnh, từ
đó đưa ra những giải pháp giải quyết những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao khả
năng đóng góp cho sự phát triển kinh tế- xã hội của KKT Vũng Áng nói chung và
của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong giai đọan từ nay đến năm 2020 thực sự là một
việc làm cần thiết. Nhận thấy được tầm quan trọng của KKT Vũng Áng đến sự
phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh nhà và qua một quá trình tìm hiểu thực tế tại
KKT Vũng Áng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Tác động của Khu kinh tế
Vũng Áng đến sự phát triển KT- XH trong Quy hoạch tổng thể phát triển
KT – XH tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn đến năm 2020” để làm đề tài nghiên
cứu trong khóa luận tốt nghiệp này.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tác động của Khu kinh tế Vũng Áng đối với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh. Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển
nước.
6.2. Quan điểm hệ thống
KKT Vũng áng là một bộ phận quan trọng không thể tách rời trong hệ
thống lãnh thổ kinh tế cũng như các KKT trên cả nước. Dựa trên quá trình này, đề
tài nghiên cứu tác động của KKT Vũng Áng phải đặt trong mối quan hệ với các
lãnh thổ kinh tế khác trong tỉnh cũng như các KKT khác của cả nước.
6.3. Quan điểm tổng hợp
Sự hình thành và phát triển KKT Vũng Áng diễn ra trong mối quan hệ chặt
chẽ với các điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội, hoàn cảnh lịch sử và các chính
sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở đó để có được những
đánh giá mang tính tổng thể nhằm khai thác tổng hợp tiềm năng KKT Vũng Áng,
đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình
CNH – HĐH đất nước.
6.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm ảnh hưởng đến thế hệ mai sau, đáp ứng nhu cầu của họ. Phát triển bền
vững là phát triển cân bằng cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường. Nghiên
4
cứu tiềm năng phát triển KKT Vũng Áng cần chú ý đến quan điểm này để đề ra
những giải pháp hướng đến một sự phát triển hài hoà và không làm ảnh hưởng
đến môi trường sinh thái.
6.5. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mọi sự vật - hiện tượng đều trải qua quá trình hình thành và biến đổi tuân
theo quy luật chất và lượng, đều có quá khứ và hiện tại riêng. Và KKT Vũng
Áng cũng không là ngoại lệ, trải qua một quá trình hình thành và phát triển với
bao thăng trầm trong quá khứ mới có được như ngày hôm nay. Do đó, khi nghiên
cứu tác động của KKT Vũng Áng cần phải xem xét các yếu tố có tính chất nguồn
cội cũng như sự phát triển của những yếu tố đó. Sự thay đổi về mức độ tác động
của các yếu tố đó theo thời gian. Từ đó, đánh giá chính xác tác động của KKT
Vũng Áng đối với sự phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, đồng thời nêu lên những định
quản lý KKT Vũng Áng nhằm bổ sung tư liệu kiểm chứng tính chính xác của vấn
đề nghiên cứu.
7.5. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được thực hiện dựa trên những tài liệu thu thập được và
những kết quả phân tích để có được cách nhìn khái quát về vấn đề được nghiên
cứu. Với việc thống kê một số vấn đề như: Thống kê các dự án đầu tư vào KKT
Vũng Áng, số lao động làm việc trong KKT, thu nhập bình quân đầu người, hệ
thống cơ sở hạ tầng của KKT
8. Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các phụ lục, bảng biểu đi kèm thì nội dung
khoá luận gồm có 3 chương, cụ thể:
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển các KKT ven biển.
Chương II: Thực trạng phát triển và những tác động của Khu kinh tế Vũng Áng
đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao khả năng đóng góp của Khu
kinh tế Vũng Áng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh.
6
Chƣơng I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
CÁC KHU KINH TẾ VEN BIỂN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Quan niệm chung về KTT và KKT ven biển
1.1.1.1. Quan niệm chung về khu kinh tế
a) Quan niệm chung về khu kinh tế
Khu kinh tế (ECONOMIC ZONES) là một thuật ngữ kinh tế được hình
thành cuối thập niên 70 của thế kỉ XX xuất phát từ Trung Quốc và KKT đầu
tiên gọi là đặc khu kinh tế (đó là Thâm Quyến). Thực chất KKT là sự biến
dạng của khu công nghiệp. Tuy nhiên, về mặt tổ chức các khu chức năng bên
trong đa dạng hơn các khu công nghiệp, trong đó các chính sách của nhà nước
thương mại tự do, khu cảng tự do, khu du lịch tự do, khu bảo thuế, khu công
nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Các KKT mang chức năng
riêng biệt chủ yếu tập trung vào giải quyết một mục tiêu nhất định và các cơ
chế chính sách áp dụng cho những khu đó cũng tập trung hướng tới thực hiện
mục tiêu đó. Chẳng hạn khu bảo thuế được áp dụng các thuế suất bằng không
đối với hàng hoá ra vào khu vực. Khu công nghiệp tập trung được áp dụng ưu
đãi về đầu tư. Khu chế xuất được ưu đãi và sản xuất gia công hàng cho xuất
khẩu. Khu công nghệ cao được ưu đãi về nghiên cứu, triển khai các công nghệ
mới, công nghệ cao
(2) KKT tổng hợp: Là các KKT lớn, bao gồm nhiều KKT riêng biệt,
được hình thành nhằm giải quyết các mục tiêu tổng hợp. KKT tổng hợp thường
đóng vai trò cửa ngõ đối với đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế. Các cơ
chế chính sách trong khu công nghiệp tổng hợp do vậy cũng đa dạng và mang
tính tổng hợp hơn.
8
KKT thường được tổ chức thành các phân khu cơ bản, theo mô hình chung,
trong KKT có các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng nước sâu và các ngành
công nghiệp, dịch vụ gắn với cảng, khu phi thuế quan, khu đô thị, khu du lịch,
khu dân cư và các công trình hạ tầng khác. KKT là khu vực có ranh giới được xác
định thuộc lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt
với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: Các khu
chức năng, các công trình hạ tầng kĩ thuật xã hội, các công trình dịch vụ và tiện
ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế
quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài yên tâm đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
trong khung pháp lý hiện hành và ngày càng hoàn thiện.[1]
b) Vai trò của các KKT trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập quốc tế
Xã hội ngày càng phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế cũng có tác động
rất lớn đến mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển, để thúc đẩy sự nghiệp
CNH - HĐH, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại ý nghĩa to lớn, mở ra cơ
địa bàn KKT này không ngừng tăng lên. Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, với những thuận lợi về vị trí, ưu đãi về chính sách và cơ chế, KKT còn
khuyến khích thu hút các nhà đầu tư trong nước, đây là nguồn vốn có ý nghĩa
quan trọng nhưng chưa được khai thác và sử dụng một cách xứng đáng. KKT sẽ
tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như sản xuất kinh doanh
trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thông qua
việc thông thương, liên kết, các doanh nghiệp trong nước sẽ có điều kiện cơ hội
tốt để tiếp thu những kinh nghiệm quản lý quý báu, trình độ điều hành, sử dụng
các trang thiết bị, công nghệ hiện đại… từng bước thúc đẩy doanh nghiệp phát
triển năng động hơn, có khả năng cạnh tranh sản phẩm trên trường quốc tế.[ 1]
- Tiếp nhận kĩ thuật, công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý hiện đại
Khoa học – Công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đóng vai
trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Để tồn tại và phát
triển trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay, các quốc gia, doanh nghiệp
10
cần phải làm chủ những thành tựu mới của KH - CN nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư, giảm chi phí, giá thành, tăng năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu, thua thiệt
cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với các nước đang phát triển, khi
nền kinh tế, khoa học kĩ thuật công nghệ còn hạn chế thì việc xây dựng cơ sở hạ
tầng, tạo cơ chế thông thoáng để tiếp nhận khoa học, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến,
phương pháp quản lý hiện đại từ các nước phát triển là cần thiết. Thực tế cho
thấy, sự ra đời, hoạt động của các KKT với những ưu thế đặc biệt của nó, đã đáp
ứng được những yêu cầu cơ bản về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận chuyển giao
công nghệ và gắn liền theo nó là trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài.
Sự phát triển ngày càng cao của các KKT sẽ góp phần tăng sự tiếp thu
được khoa học kĩ thuật công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài tư đó
kéo theo sự thay đổi về cơ cấu sản xuất, chất lượng cơ cấu sản phẩm và nâng cao
khả năng xuất khẩu, cạnh tranh trên trường quốc tế.
- Khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của đất nước, của khu vực
thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu, tăng
nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp, nhất là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu. Với các
sản phẩm hàng hoá được sản xuất có số lượng chủng loại đa dạng, chất lượng
cao, với trình độ quản lý hiệu quả là cơ sở cho các doanh nghiệp trong các KKT
thực hiện tốt chiến lược kinh doanh hướng về xuất khẩu.[1]
- Góp phần đổi mới cơ chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư và mở rộng
quan hệ kinh tế thương mại với các nước khác trên thế giới.
Khi cơ chế quản lý mang tính khoa học, có tính khả thi cao cộng với nguồn
nhân lực quản lý có năng lực, mang tính chuyên nghiệp thì sẽ tạo động lực cho sự
phát triển. Ngược lại, một cơ chế quản lý công kềnh, kém hiệu lực, đội ngũ cán
bộ quản lý thiếu trách nhiệm, kém năng lực sẽ cản trở cho sự phát triển.Với cơ
chế mở cửa đã tạo môi trường đầu tư hấp dẫn đối với không chỉ các doanh nghiệp
trong nước mà còn cả các doanh nghiệp nước ngoài. Sự phát triển các KKT cũng
12
góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý và cải thiện môi trường đầu tư của toàn bộ
nền kinh tế đất nước. Ngoài ra, sự phát triển các KKT cũng góp phần mở rộng quan
hệ kinh tế thương mại với các nước trên thế giới. Thực tế, các dự án đầu tư nước ngoài
hoạt động phải liên kết với các doanh nghiệp trong nước tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp làm quen, có điều kiện thuận lợi để vươn ra thị trường thế giới. Các doanh
nghiệp trong nước cũng phải gắn với các KKT để hợp tác, phân công thực hiện để
phục vụ cho những công đoạn cần thiết của các KKT. Các KKT có các khu công
nghiệp, khu chế xuất… tạo ra sản phẩm xuất khẩu đến các nước trên thế giới.
1.1.1.2. Quan niệm chung về KKT ven biển:
KKT ven biển thường là KKT tổng hợp hay KKT chuyên ngành gắn với
cảng biển hoặc một hải đảo có tiềm năng kinh tế lớn, có không gian kinh tế
riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm:
Các khu chức năng, các công trình hạ tầng cơ sở Kỹ thuật – Xã hội, các công
trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn
định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
- Môi trường đầu tư, kinh doanh, buôn bán trong KKT phù hợp với cơ chế
thị trường, được hưởng quy chế ưu đãi hơn các vùng khác.
- Giao lưu kinh tế giữa KKT với nước ngoài thông thoáng, không bị hạn
chế, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
- Mục đích chung của việc xây dựng các KKT là tạo nên sự giao thương
thông thoáng, nên thu hút mạnh đầu tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài và
thông qua đó thúc đẩy kinh tế nước mình phát triển nhanh.
Nhìn chung KKT được xem là mô hình phát triển mới và hiện đại bước
đầu gặt hái được những thành công ở các quốc gia khác nhau, đặc biệt là các quốc
gia đang phát triển
1.1.3. Các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của các KKT
- Tiềm năng, lợi thế nổi bật:
Việc lựa chọn xây dựng các khu kinh tế, trước hết đó phải là những nơi có
thuận lợi về vị trí địa lý. Vị trí của các KKT là nhân tố rất quan trọng, ngoài việc
14
gắn với cảng biển, sân bay, KKT ở gần trung tâm kinh tế của vùng, của địa
phương, gần khu dân cư sẽ là những điều kiện tốt cho giao lưu kinh tế, thương
mại, dịch vụ, phát triển các nguồn lực sẵn có. Nếu địa điểm đó có khả năng kết
nối thuận lợi nhất với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia cũng như quốc
tế sẽ làm cho cho sự đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đối với KKT dễ
dàng và nhanh chóng hơn, sẽ tận dụng phát huy được thế mạnh của địa phương
mình và đóng góp cho việc tạo nên sức mạnh của cả nền kinh tế.
- Khả năng thu hút đầu tư
Vốn đầu tư và thu hút đầu tư là nhân tố quyết định đến sự phát triển của
KKT, ảnh hưởng tới quy mô của các KKT và có đóng góp rất lớn vào sự phát
triển của nền kinh tế. Để thu hút vốn đầu tư hiệu quả, các KKT phải chiếm được
lợi thế tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao. Môi trường
đầu tư ở một địa phương ảnh hưởng rất nhiều đến các ưu đãi, cơ hội và hiệu quả
hoạt động của mọi doanh nghiệp. Môi trường đó tạo ra nhiều cơ hội hơn để các
doanh nghiệp phát triển một cách tốt nhất.
triển thống nhất trong cả nước, liên kết với khu vực và quốc tế. Tạo cơ hội đẩy
mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn ODA
1.2. THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC KKT VEN BIỂN CỦA VIỆT NAM
VÀ VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA.
1.2.1. Khái quát chung về sự phát triển KKT của cả nƣớc
Hiện nay cả nước có 18 KKT ven biển được phê duyệt trong quy hoạch
phát triển KKT ven biển của nước ta đến năm 2020 với tổng diện tích mặt đất và
mặt nước 730.553 ha (tương đương 7305,53 km2), bằng khoảng 2,2% tổng diện
tích của cả nước. Các KKT biển chủ yếu tập trung khai thác tiềm năng kinh tế
biển, đặc biệt là dịch vụ cảng biển và công nghiệp khai thác lợi thế về cảng biển.
Các KKT đã và đang thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên những
động lực lớn về phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian qua, việc thu hút vốn
đầu tư vào KKT ven biển cũng bước đầu đạt những kết quả khả quan. Đến nay,
các KKT ven biển đã thu hút được hơn 31 tỷ USD vốn FDI và gần 564 nghìn tỷ
16
đồng vốn đầu tư trong nước vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tổng diện tích đất
đã cho thuê để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất trong KKT ven biển khoảng
trên 20.000 ha, chiếm gần 40% tổng diện tích đất dành cho sản xuất công nghiệp,
du lịch, dịch vụ trong KKT ven biển. Trong đó có khoảng 7.000 ha đã triển khai
các dự án thứ cấp. Trong đó, có một số dự án lớn và quan trọng tại KKT Nghi
Sơn, KKT Vũng Áng, KKT Dung Quất gồm nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, Khu
liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương của Tập đoàn Formosa, nhà máy
cơ khí nặng Doosan, các nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn và Vũng áng, cảng
trung chuyển quốc tế Vân Phong [16]. Đây là các dự án hứa hẹn sẽ mang lại
thế và lực mới cho các ngành công nghiệp nặng của nước ta.
Nhìn chung về hiệu quả của các KKT thì hầu hết vẫn đang trong giai đoạn
mới hình thành, khác với KCN thì KKT có diện tích lớn hơn rất nhiều lần, bao
gồm cả núi, đồi, sông biển và các hoạt động xã hội, dân sinh. Mặt khác lại chủ
yếu hình thành ở vùng duyên hải khó khăn, xuất phát điểm còn thấp hơn so với
các nơi có các KCN rất nhiều.Các KKT hình thành trên cơ sở các dự án công
Mỹ, xuất khẩu đạt hơn 01 tỷ USD, đóng góp vào ngân sách nhà nước gần 20
nghìn tỷ đồng. Bên cạnh các lợi ích kinh tế, các KKT ven biển còn tạo điều kiện
cho các địa phương giải quyết việc làm, thu hút lao động có trình độ tay nghề cao.
Đến nay, các KKT ven biển đã giải quyết việc làm cho khoảng 30 nghìn lao động.
Trong đó, đáng chú ý là các dự án: Nhà máy lọc dầu Dung Quất với 2 nhà máy
lọc dầu số 1 và số 2, nhà máy Polypropylene, liên hợp khu công nghiệp tàu thuỷ,
nhà máy cơ khí nặng Doosan, nhà máy luyện cán thép Ty coons, nhà máy ô tô
Trường Hải ở Chu Lai, nhà máy lọc dầu trung tâm nhiệt điện, nhà máy đóng tàu
tại Nghi Sơn, Khu liên hợp cán thép, nhà máy đóng tàu, trung tâm nhiệt điện tại