Luận án tiến sỹ kinh tế: Hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNSN Doanh nghiệp siêu nhỏ
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GTGT Giá trị gia tăng
OECD Organization for Economic Co-operation and Development
(Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNCN Thu nhập cá nhân
TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
2
DANH MỤC BẢNG
3
DANH MỤC HÌNH
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
toàn cầu. DNNVV chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên toàn thế giới, góp
phần quan trọng vào giải quyết việc làm, phát triển kinh tế, tạo nguồn thu ngân
sách… Ở Việt Nam, DNNVV chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp, sử dụng
hơn 50% lao động, tạo 47% GDP và đóng góp khoảng 40% nguồn thu ngân sách
(số liệu thống kê năm 2010) [4]. Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, DNNVV
luôn được chính phủ các nước quan tâm và hỗ trợ phát triển. Các nước phát triển đã
sớm có những chính sách hỗ trợ DNNVV và đã đạt được những thành công nhất
định. Kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, cần phải hỗ trợ DNNVV trên cả
hai lĩnh vực: tài chính và phi tài chính.
Một mặt, với ưu điểm dễ khởi nghiệp, linh hoạt, phát huy được nghề truyền
thống, là vườn ươm tài năng kinh doanh nhưng mặt khác DNNVV lại có qui mô

nền kinh tế trên thế giới. Riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138/183
quốc gia, xuống vị trí 149/189 quốc gia. Các doanh nghiệp Việt Nam phải mất tới
1/3 thời gian làm việc trong năm, tức 872 giờ để tuân thủ chính sách thuế. Điều này
ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, nhất là DNNVV khi mà nhiều chủ
doanh nghiệp phải kiêm nhiệm cả công việc kê khai thuế. TS. Trần Đình Thiên,
Giám đốc Viện kinh tế Việt Nam nhận xét, thủ tục thuế mặc dù có nỗ lực cải thện
nhưng chậm, bao nhiêu năm vẫn duy trì thủ tục "hành hạ" doanh nghiệp. Còn bà
Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI cho biết: mặc dù Chính phủ có nhiều chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng tổng thuế phải trả lại tăng lên, gánh nặng về thuế
đang đến từ các loại phí và thuế giá trị gia tăng. Vì vậy việc hoàn thiện chính sách
thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng, theo quan điểm
giảm nhẹ gánh nặng thuế, nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ, đồng thời cải
thiện môi trường đầu tư, được xem như là một vấn đề mang tính bức xúc nhất hiện
nay ở Việt Nam.
6
Với cách đặt vấn đề nói trên, mong muốn góp phần tìm ra hướng hoàn thiện
chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển của DNNVV, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn
thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam”.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu “Hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV ở
Việt Nam”, những câu hỏi nghiên cứu đặt ra, cần giải quyết như sau:
- Những yếu tố cấu thành trong chính sách thuế đã tạo gánh nặng thuế đối với
các DNNVV như thế nào?
- Thực trạng chính sách thuế hiện nay ở Việt Nam đã tạo ra những gánh nặng
thuế đối với các DNNVV như thế nào?
- Kinh nghiệm quốc tế xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ cho
DNNVV như thế nào và Việt Nam vận dụng được những gì từ những kinh
nghiệm đó?
- Chính sách thuế của Việt Nam hiện nay cần hoàn thiện như thế nào để giảm

loại thuế gián thu khác có phạm vi điều chỉnh nhỏ và không tạo nhiều gánh nặng
thuế. Ví dụ chỉ có 8% số lượng doanh nghiệp trực tiếp tham gia hoạt động xuất-
nhập khẩu [1], là những đối tượng nộp thuế xuất khẩu-nhập khẩu. Do đó, gánh nặng
thuế của DNNVV được tạo ra chủ yếu bởi thuế GTGT và thuế TNDN.
4. Những đóng góp của luận án
Những đóng góp về lý luận
Thứ nhất, từ cơ sở lý luận về gánh nặng thuế và kết quả những nghiên cứu
trước, luận án đã làm rõ gánh nặng thuế của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai
yếu tố: số thuế trực thu phải nộp và chi phí tuân thủ thuế. Luận án chỉ rõ gánh nặng
thuế làm giảm lợi nhuận giữ lại, nguồn lực tài chính quan trọng của DNNVV. Vì
vậy, việc hoàn thiện chính sách thuế để hỗ trợ phát triển DNNVV là đòi hỏi khách
quan.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích hai yếu tố tạo gánh nặng thuế của doanh nghiệp
là số thuế trực thu phải nộp và chi phí tuân thủ thuế, luận án đã xây dựng khung
nghiên cứu gánh nặng do thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế giá trị gia
tăng (GTGT) tạo ra cho doanh nghiệp. Số thuế TNDN phải nộp phụ thuộc vào thu
nhập tính thuế và thuế suất. Chi phí tuân thủ thuế được đo bằng tiền và thời gian.
Các qui định về quản lý thuế là yếu tố chính tạo ra chi phí tuân thủ thuế.
8
Những đóng góp trong thực tiễn
Thứ nhất, chi phí tuân thủ thuế về thời gian của DNNVV ở Việt Nam được
phản ánh qua thời gian kê khai, nộp thuế; thời gian chờ hoàn thuế, khiếu nại về
thuế; thời gian phục vụ thanh tra, kiểm tra về thuế. Chi phí tuân thủ thuế bằng tiền
phản ánh qua chi phí thuê tư vấn thuế bên ngoài, tiền lương trả cho kế toán thuế, chi
phí bồi dưỡng kiến thức về thuế và các chi phí khác. Bằng kết quả khảo sát, luận án
đã cho thấy DNNVV ở Việt Nam hiện nay đang phải gánh chịu chi phí tuân thủ
thuế lớn.
Thứ hai, luận án đề xuất sử dụng công thức tính ngưỡng doanh thu kê khai
thuế GTGT do Keen và Mintz đề xuất năm 2004. Theo đó, ngưỡng doanh thu kê
khai thuế GTGT hợp lý ở Việt Nam phải là 400 triệu đồng thay vì 100 triệu đồng

Tiêu chí “số lao động” và “Số vốn” được sử dụng nhiều nhất.
Ví dụ: DNNVV ở các nước thuộc cộng đồng chung châu Âu (EU) được xác
định như sau:
Bảng 1. 1: Tiêu chí xác định DNNVV của EU
Số lao động Tổng tài sản
DN siêu nhỏ < 10 < 2 triệu Euro
DN nhỏ < 50 < 10 triệu Euro
DN vừa < 250 < 43 triệu Euro
Nguồn: OECD(2009), taxation of SMEs [67]
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính
phủ, DNNVV là những cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định
pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn
(tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên).
10
Cụ thể, số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được
coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 20 đến 200 người lao động được coi là doanh
nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa.
Hoặc số vốn dưới 20 tỷ là doanh nghiệp nhỏ, từ 20 tỷ đến 100 tỷ là doanh nghiệp
vừa.[14]
Bảng 1. 2: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt nam
Quy môKhu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Thứ hai, quy mô lao động nhỏ, chất lượng lao động thấp. Số lượng lao động
trong các DNNVV thường rất ít, thiên về sử dụng lao động gia đình. Chất lượng lao
động thấp do phần lớn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp.
Thứ ba, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của DNNVV là lĩnh vực chế biến, gia
công và dịch vụ. Do cấu trúc và quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ bé, phạm vi hoạt
động hẹp nên DNNVV rất linh hoạt và nhạy bén trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Trong điều kiện kinh doanh không thuận lợi, các DNNVV có thể dễ dàng
thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh, thay đổi ngành nghề kinh doanh.
Thứ tư, người điều hành DNNVV thường là chủ sở hữu, vì vậy trình độ quản
lý không cao. Do đó, khi gặp khó khăn DNNVV dễ rơi vào rủi ro phá sản.
Việc thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ làm giảm lợi nhuận giữ lại (một phần quan
trọng của vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp. Với qui mô vốn nhỏ, chủ yếu là vốn
chủ sở hữu nên việc thực hiện nghĩa vụ thuế thực sự tạo ra gánh nặng cho DNNVV.
Gánh nặng đó là một trong những nhân tố kìm hãm sự phát triển của DNNVV. Vì
vậy, việc giảm gánh nặng thuế là cần thiết để hỗ trợ phát triển DNNVV.
1.1.1.3 Sự cần thiết phải hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cũng theo những nghiên cứu trên DNNVV có những hạn chế vốn có, vì thế
để vượt qua những khó khăn và bất lợi trong quá trình tự phát triển, DNNVV cần có
sự hỗ trợ từ phía chính phủ. Những hạn chế của DNNVV cần được hỗ trợ:
Thứ nhất, hạn chế về qui mô vốn cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn
chính thức là nguyên nhận ngăn cản khả năng mở rộng sản xuất, đổi mới công
nghệ và phát triển thị trường của DNNVV. Qui mô vốn chủ sở hữu nhỏ, trình độ
quản lý hạn chế là một trong những nguyên nhân khiến DNNVV khó tiếp cận với
thị trường vốn chính thức. Tài chính luôn là vấn đề chính của DNNVV quá trình
phát triển sản xuất kinh doanh. Mặc dù vậy, DNNVV rất khó tiếp cận được với
nguồn vốn vay từ ngân hàng, do độ rủi ro cao. Thậm chí ở những nước có các điều
kiện tín dụng dễ dàng thì một nhà doanh nghiệp nhỏ cũng gặp khó khăn để đạt được
12
sự giúp đỡ tài chính. Họ không thể đáp ứng các điều kiện của các tổ chức cho vay.
Do vậy. DNNVV thường phải tiếp cận với nguồn vốn không chính thức, có lãi suất

1.1.1.4 Quan điểm hỗ trợ DNNVV
Theo Trần Thị Vân Hoa [49], DNNVV có những đặc thù riêng, khó khăn
riêng, do đó cần có một khuôn khổ chính sách, khung pháp lý, thậm chí ban hành
luật riêng để hỗ trợ DNNVV. Các dẫn chứng được chỉ ra như trường hợp của Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Các quốc gia trên có những
quy định rất cụ thể ưu đãi về đất đai, thuế suất, hỗ trợ các DNNVV.
Phạm Văn Hồng [34], Nguyễn Minh Tuấn [32], Lê Thị Mỹ Linh [21], cho
rằng DNNVV cũng là một bộ phận doanh nghiệp của nền kinh tế, hơn nữa lại có số
lượng lớn nên không cần có văn bản pháp lý hay đạo luật riêng điều chỉnh hoạt
động của nhóm doanh nghiệp này. Và nếu có một khung chính sách riêng cho
DNNVV thì khung chính sách đó không được đề cập đến những vấn đề về ưu đãi
(ví dụ ưu đãi thuế), mà chỉ đề ra một định hướng, chủ trương làm cơ sở cho các hoạt
động hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức của nhà nước, cũng như của các hiệp hội hay
các tổ chức khác đối với DNNVV.
Theo quan điểm của luận án, cần có những qui định dành riêng cho DNNVV
vì trong lĩnh vực quản lý thuế, việc thực hiện các qui định tương tự như doanh
nghiệp lớn sẽ tạo gánh nặng quá mức cho DNNVV, do qui mô và trình độ quản lý
thấp.
1.1.1.5 Các chính sách hỗ trợ DNNVV
Các tác giả Phạm Văn Hồng [34], Nguyễn Minh Tuấn [32], Lê Thị Mỹ Linh
[21], Trần Thị Vân Hoa [49], đều có cùng quan điểm khi cho rằng Chính phủ cần có
các chính sách tài chính và phi tài chính để hỗ trợ phát triển DNNVV.
Chính sách tài chính bao gồm: Những giải pháp giúp DNNVV tiếp cận với
nguồn vốn chính thức như ưu đãi tín dụng, bảo lãnh tín dụng, thuê mua, bao thanh
toán, đầu tư vốn mạo hiểm, tài trợ xuất khẩu; thành lập quĩ phát triển DNNVV và
chính sách thuế gồm các qui định ưu đãi thuế suất, giảm tần suất kê khai, đơn giản
hóa hệ thống quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ.
Chính sách phi tài chính bao gồm: chính sách phát triển nguồn nhân lực,
chính sách phát triển khoa học-công nghệ và giải pháp cung cấp thông tin cho
14

nên rất khó để vận dụng trong luận án. Do đó, để phục vụ cho việc nghiên cứu, luận
án cần nêu quan điểm riêng về chính sách thuế.
1.1.2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp trong quản lý thuế
Trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2011: “Nghiên cứu tiêu chí và phương
pháp phân loại doanh nghiệp để giảm tần suất kê khai thuế”, tác giả Nguyễn Quang
Tiến [30] đã chỉ ra những khó khăn gặp phải khi sử dụng các tiêu chí “số lao động”,
“tổng nguồn vốn” (theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP) trong quản lý thuế.
Tác giả phân tích: Số liệu về tổng nguồn vốn của doanh nghiệp được gửi đến
cơ quan thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài
chính (ngày 30 hoặc 31/3 hàng năm), trong khi việc xác định nghĩa vụ kê khai thuế
GTGT của doanh nghiệp theo tháng hay theo quý phải được xác định ngay đầu
tháng 2 hàng năm. Mặt khác, số liệu về tổng nguồn vốn trong Báo cáo tài chính bao
gồm cả vốn chủ sở hữu, vốn vay và các nguồn vốn khác… do đó trong nhiều trường
hợp cũng không phản ánh đúng quy mô cũng như năng lực, trình độ của doanh
nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. [30]
Đối với tiêu chi “số lao động”: Cơ quan thuế có thông tin về số lao động
trong năm của doanh nghiệp thông qua các bảng kê khai về khấu trừ thuế thu nhập
cá nhân, tuy nhiên đây không phải là thông tin về số lao động bình quân trong năm.
Mặt khác, phương pháp tính số lao động bình quân trong năm cũng chưa được
hướng dẫn thống nhất, cơ quan thuế không quản lý và gần như không kiểm tra được
việc kê khai của doanh nghiệp có đúng hay không.
Việc phân chia doanh nghiệp theo quy mô vốn ở 3 khu vực sản xuất kinh
doanh là (i) Nông, lâm nghiệp và thủy sản; (ii) Công nghiệp và xây dựng; (iii)
Thương mại và dịch vụ: tương đối rộng, không tương thích với việc phân loại mã
ngành kinh tế hiện nay cơ quan thuế đang sử dụng hoặc phân loại theo mục lục
16
ngân sách. Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh đa ngành thì việc xác định
quy mô vốn theo ngành cũng rất phức tạp.
Tác giả nhận định: “ Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp khác nhằm các
mục tiêu trợ giúp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang được áp dụng

thời gian giải quyết hoàn thuế, khiếu nại về thuế.
Các giải pháp thực hiện được đề xuất gồm có: nâng cao hiệu quả quản lý của
cơ quan thuế, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn
của cán bộ quản lý thuế, sớm hoàn thành và đưa vào áp dụng phần mềm quản lý
thuế…
Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các loại thuế hiện hành để nêu ra hướng
hoàn thiện chính sách thuế. Tuy nhiên, những định hướng hoàn thiện chính sách
thuế được nêu ra hướng tới phục vụ phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế và phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì thế định hướng hoàn
thiện chính sách thuế hỗ trợ phát triển DNNVV vẫn là vấn đề thực tiễn còn bỏ ngỏ
cần được nghiên cứu.
Hơn nữa các nghiên cứu trên chủ yếu đứng trên góc độ ngành tài chính bàn
về hoàn thiện chính sách thuế nhằm bảo đảm thuế đáp ứng được yêu cầu cơ bản của
bản thân chính sách này. Vì thế chưa đứng trên góc độ doanh nghiệp nói chung,
DNNVV nói riêng để nghiên cứu làm thế nào để chính sách thuế không quá tạo ra
các gánh nặng đối với họ, do đó có thể các chính sách thuế được hoàn thiện theo
yêu cầu của ngành tài chính những lại kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, nhất
là DNNVV.
1.1.2.4 Chi phí tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ
thuế
a. Chi phí tuân thủ thuế
18
Cedric Sandford là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về chi phí
tuân thủ thuế. Ông đưa ra định nghĩa về chi phí tuân thủ thuế trong cuốn
“Administrative and Compliance Costs of Taxation” (1989) như sau: “…chi phí
tuân thủ là các chi phí phát sinh bởi người nộp thuế hoặc bởi bên thứ ba (ví dụ như
doanh nghiệp đối tác) trong việc đạt được các yêu cầu của hệ thống thuế, bao gồm
cả các chi phí ngoài nghĩa vụ thuế của chính người nộp thuế và ngoài các chi phí
mà hệ thống thuế đã quy định ” [68, tr.89]
Theo Sandford, chi phí tuân thủ do đó gồm có các yếu tố tiền tệ và các yếu tố

tuân thủ thuế ở New Zealand gồm có: Khoản tạm nộp không phù hợp với dòng tiền;
Không xem xét đến lịch sử tuân thủ tốt; Phạt và tính lãi; Khó có thông tin và trợ
giúp; Buộc phải thuê kế toán; Quá nhiều thông tin.[55]
Tác giả La Xuân Đào (2009) khi nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế của các đối
tượng nộp thuế ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới
chi phí tuân thủ thuế của các đối tượng này, gồm có: Sự phức tạp trong thực hiện
các luật, quy định về thuế; Sự thay đổi thường xuyên của các luật, quy định thuế;
Thời gian để hiểu(tiếp thu) luật thuế mới; Thiếu nhân viên có đủ trình độ, năng lực
hiểu biết về thuế. [19, tr.54-63]
Những nghiên cứu trên đã cung cấp những gợi ý quan trọng cho luận án về
các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế. Tuy nhiên do sự khác biệt về chính
sách thuế giữa các quốc gia nên kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ và New Zealand chỉ
dừng lại ở mức gợi ý. Nghiên cứu của La Xuân Đào thực hiện năm 2009. Từ đó đến
nay đã có nhiều thay đổi trong quản lý thuế, như: cho phép doanh nghiệp kê khai
thuế qua mạng điện tử; các qui định về thanh tra, kiểm tra cũng đã thay đổi theo
hướng giảm, nhằm nâng cao tính tự kê khai của doanh nghiệp… Vì vậy, kết quả
nghiên cứu của La Xuân Đào cũng chỉ mang tính gợi ý cho luận án. Để chỉ ra các
yếu tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế của DNNVV hiện nay, luận án sẽ kết hợp
phương pháp nghiên cứu các qui định về quản lý thuế hiện hành và phương pháp
phỏng vấn sâu.
20
1.1.2.5 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong những nghiên cứu
trước
Các nghiên cứu về chi phí tuân thủ thuế kể trên sử dụng kết hợp giữa phương
pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp điều tra khảo sát.
Nghiên cứu các nghiên cứu trước sẽ giúp tác giả chỉ ra được tổng quan
nghiên cứu, từ đó có những gợi ý về những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ, cần tiếp
tục nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích tài liệu, các văn bản qui phạm pháp luật, các
tác giả chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế. Từ những yếu tố đã
tìm ra, các tác giả xây dựng phiếu điều tra phục vụ cho phương pháp điều tra khảo

doanh thu được cho là phù hợp nhất để phân loại doanh nghiệp trong quản lý thuế.
Tuy nhiên, vẫn cón nhiều vấn đề chưa được thống nhất, chưa được hoàn
thiện hoặc chưa được nghiên cứu, có thể nêu ra một số điểm chính sau đây:
Thứ nhất, những nghiên cứu về DNNVV trước đây chưa đi sâu nghiên cứu
định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV. Chính sách
thuế mới chỉ được đề cập như là một phần của chính sách tài chính, chưa được
nghiên cứu từ định hướng tới những qui định cụ thể nhằm hỗ trợ DNNVV.
Thứ hai, các nghiên cứu về thuế trước chỉ đứng trên góc độ quản lý Nhà
nước về thuế để nghiên cứu, ban hành các qui định về thuế và quản lý thuế nhằm
mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý. Vì vậy, cần có nghiên cứu đứng trên giác độ
DNNVV để nghiên cứu chính sách thuế hướng tới mục tiêu hỗ trợ phát triển
DNNVV.
Thứ ba, những nghiên cứu về thuế mặc dù đã chỉ ra được những nhân tố
ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế nhưng chưa thống nhất được các nhân tố cấu
thành nên gánh nặng thuế và các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế của
doanh nghiệp. Vì vậy, những nghiên cứu trước chưa chỉ rõ được những nội dung
cần phải hoàn thiện của chính sách thuế để hỗ trợ cho DNNVV.
Thứ tư, những nghiên cứu về thuế ở Việt Nam chưa hệ thống được kinh
nghiệm quốc tế trong việc xây dựng chính sách thuế hỗ trợ phát triển DNNVV, từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
22
Thứ năm, những nghiên cứu trước mặc dù đã đánh giá được thực trạng các
qui định cụ thể về các loại thuế hiện hành nhưng chưa đánh giá thực trạng chính
sách thuế hiện nay ở Việt Nam đã tạo ra những gánh nặng thuế đối với các DNNVV
như thế nào? Việc mô tả gánh nặng thuế mà các DNNVV đang phải gánh chịu là
cần thiết. Nó là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp làm giảm gánh nặng
thuế, hỗ trợ phát triển DNNVV.
Thứ sáu, những nghiên cứu trước đây mặc dù đã đưa ra được quan điểm
hoàn thiện chính sách thuế song chưa đưa ra được quan điểm và nội dung cụ thể
định hướng hoàn thiện chính sách thuế với mục tiêu hỗ trợ phát triển DNNVV ở

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: sử dụng trong nghiên cứu tài liệu lý thuyết,
các văn bản liên quan đến thuế, các tài liệu nghiên cứu xung quanh chủ đề của luận
án; với phương pháp này, luận án hình thành được khung nghiên cứu của mình
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, nghiên cứu tình huống kết hợp
với phương pháp điều tra khảo sát. Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng
trong nghiên cứu tài liệu, các văn bản qui phạm pháp luật về thuế. Phương pháp
thống kê được sử dụng để phân tích các số liệu thứ cấp và sơ cấp có được thông qua
phương pháp điều tra khảo sát. Luận án tiến hành điều tra, khảo sát 400 DNNVV
trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát 150 DNSN trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể cách thức tiến hành điều tra, khảo sát được trình
bày trong mục 2.3.2 của luận án. Dữ liệu thứ cấp được sử dụng để đánh giá tình
hình kinh tế-xã hội, tình hình phát triển DNNVV ở Việt Nam. Dữ liệu sơ cấp có
được thông qua điều tra khảo sát được sử dụng để đánh giá thực trạng gánh nặng
thuế của DNNVV. Phần mềm thống kê được sử dụng là SPSS v.18.0. Phương pháp
này sử dụng để luận án thực hiện phần đánh giá chính sách thuế đã hỗ trợ hay tạo
gánh nặng cho DNNVV như thế nào, nguyên nhân nào dẫn đến thuế tạo ra gánh
nặng cho DNNVV.
- Phương pháp khung logic, cụ thể là phân tích qua công cụ cây vấn đề cây
mục tiêu: giúp luận án có thể chuyển từ những kết luận thực trạng, bao gồm những
yếu tố tạo gánh nặng thuế cho DNNVV và nguyên nhân của nó thành những mục
tiêu hoàn thiện chính sách thuế nhằm giảm gánh nặng cho DNNVV và những giải
pháp để thực hiện
24
Qui trình nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu nói trên được sử dụng
trong luận án có thể mô tả như sau:
Bước 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu là các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới
phát triển DNNVV, hoàn thiện chính sách thuế, chi phí tuân thủ thuế và phân loại
doanh nghiệp trong quản lý thuế.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích, tổng hợp. Kết quả đạt

nặng thuế
Phân tích
Tổng hợp
Bài học kinh
nghiệm cho
Việt Nam
Phân tích
So sánh
Tổng hợp
Kinh nghiệm quốc tế

Trích đoạn Những hỗ trợ giảm chi phí tuân thủ Những qui định hỗ trợ giảm gánh nặng chi phí tuân thủ Những kết quả đáng khích lệ Xác định các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế Mục tiêu của bước này là xác định các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng tớ Thiết kế phiếu điều tra và thu thập dữ liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status