giáo trình quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIÊP I TS.Bùi Thị Gia (chủ biên) và ThS.Trần Hữu Cường
QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT
KINH DOANH NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 2005

LỜI NÓI ðẦU
Nông nghiệp là ngành có nhiều rủi ro và không chắc chắn, vì vậy người nông dân
luôn phải quyết ñịnh sản xuất dưới ñiều kiện rủi ro. ðể giúp những người quan tâm nghiên

IV, V, VI. Mặc dù chúng tôi ñã rất nỗ lực, cố gắng nghiên cứu, tham khảo các tài liệu của
nước ngoài và trong nước ñể biên soạn cuốn sách này, nhưng do môn học còn quá mới, nên
chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Chúng tôi rất mong
ñược bạn ñọc gần xa chân thành góp ý ñể chúng tôi có ñiều kiện tiếp tục hoàn thiện cuốn
sách ñể phục vụ bạn ñọc ngày một tốt hơn.

Xin trân trọng cám ơn! NHÓM TÁC GIẢ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DSR: (downside risk): rủi ro xấu
DEU(direct elicitation of utility funtions): xác ñịnh trực tiếp hàm lợi ích
EUM(expected utility model): mô hình lợi ích kỳ vọng
OEB(observed economic behavior): quan sát ứng xử kinh tế
ROVC’s(returns over variable costs): thu nhập ñã trừ chi phí biến ñổi
SF1(safety- first rule 1): qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 1
SF2(safety- first rule 2): qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 2
SF3( safety- first rule 3): qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 3
CV (coefficient of variation): Hệ số biến ñộng

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
1

máy làm cho khâu chăm sóc bị chậm, cỏ dại lấm át cây trồng, hoặc trong ñiều kiện ñất ướt
mà làm cỏ bằng máy sẽ làm hỏng ñất, với những lý do trên mà cơ giới hoá khâu làm cỏ sẽ
kém hiệu quả .
Người nông dân trồng khoai tây sau khi thu hoạch phải quyết ñịnh bán sản phẩm ngay
với giá hiện hành hoặc dự trữ một thời gian mới bán với hy vọng giá cao hơn. Với lựa chọn
thứ nhất thì anh ta sẽ thu ñược một số lãi chắc chắn nào ñó. Với lựa chọn thứ 2 thì anh ta sẽ
phải ñối mặt với các vấn ñề chi phí và hao hụt bảo quản, giá trong tương lai không chắc
chắn và phụ thuộc vào thị trường trong năm. Nếu lượng cung trên thị trường hạn chế thì
giá sẽ tăng và anh ta có khả năng lãi nhiều từ quyết ñịnh dự trữ. Nếu cung bình thường thì
giá có thể tăng không nhiều và lúc ñó anh ta có thể chỉ hoà vốn. Hoặc khả năng xấu hơn là
cung vượt cầu thì giá sẽ giảm và dẫn ñến thiệt hại ñáng kể do quyết ñịnh dự trữ so với bán
ngay sau thu hoạch.
Ví dụ khác, hộ nông dân trồng lúa ở vùng trũng lo lắng lụt lớn sẽ phá hoại mùa màng.
Công ty bảo hiểm chào mời bảo hiểm lụt, nhưng phí bảo hiểm hàng năm lại tương ñối cao
vì rủi ro do lụt gây ra rất lớn. Người trồng lúa phân vân không biết nên mua bảo hiểm bao
nhiêu.
Một nông dân có trang trại nuôi bò sữa ñã bán diện tích trang trại ñể nhà nước xây
dựng ñô thị với giá tương ñối cao và muốn dùng số tiền ñó ñể ñầu tư lại. Người nông dân
phân vân không biết nên ñầu tư vào kinh doanh cổ phiếu hay mua trang trại bò sữa khác ñể
tiếp tục kinh doanh, ngành mà anh ta ñã có kinh nghiệm. Nếu mua trang trại mới thì người

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
2

ñó cần cân nhắc nên mua bao nhiêu bò. Nếu mua một cơ ngơi khoảng 65 con thì người ñó
phải vay thêm vốn. Người nông dân tin rằng trong tương lai vấn ñề kinh tế qui mô là vấn
ñề quan trọng. Người nông dân phải quyết ñịnh vay bao nhiêu vốn trong ñiều kiện lãi suất
tăng trong tương lai.

không trả ñược nợ khi thu nhập giảm.
Hơn nữa, môi trường rủi ro ngày càng phức tạp hơn, rộng lớn hơn làm cho tính nhạy
cảm của khu vực nông nghiệp ñối với lực lượng sản suất, với thị trường quốc tế, chính sách
của chính phủ và thị trường tài chính càng lộ rõ hơn, làm nổi bật vấn ñề rủi ro và tính
không ổn ñịnh trong nông nghiệp. Có thể ñưa ra dẫn chứng về sự phức tạp và rộng lớn của
môi trường rủi ro ñó là giá hàng hoá tăng ñột ngột trong những năm 1970 do sửa ñổi các
chương trình quốc gia của Mỹ ñối với một số hàng hoá, thu hẹp dự trữ sản phẩm trồng trọt,
sự biến ñộng sản xuất trên thế giới, sự phá giá và bành trướng của ñồng ñô la Mỹ và nhu
cầu của nước ngoài không ổn ñịnh. ðầu những năm 1980, sự ñảo ngược một cách ñột ngột
một số hiện tượng trên ñã chứng tỏ ảnh hưởng không theo qui luật ñối với các cơ sở sản
xuất nông nghiệp/trang trại và sẽ còn tiếp diễn trong tương lai và qua ñó cho thấy rủi ro
trong nông nghiệp lại thay ñổi.
Cuối những năm 1970 và ñầu những năm 1980 lãi suất và lạm phát tăng lên ñột
ngột chưa từng thấy từ trước tới nay và dự ñoán thu nhập của nông dân sẽ biến ñộng lớn,
ñặc biệt là sự bấp bênh về nhu cầu xuất khẩu, chi phí ñầu vào và các vấn ñề quốc tế trong
ñó bao gồm cả năng lượng và vận tải .

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
3

Quan hệ mạnh hơn giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp làm lan toả sự
bất ổn của thị trường tài chính và thị trường nguồn lực sang nông dân nhanh hơn và toàn
diện hơn trước ñây. Rủi ro của nông dân bây giờ không chỉ là rủi ro từ tài sản và các hoạt
ñộng tạo thu nhập mà cả từ những thay ñổi không lường trước ñược do vay nợ. Tóm lại,
hiệu ứng tổng hợp của rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính là rất cao ñối với hầu hết các
trang trại.
Phản ứng của chính phủ ñối với rủi ro cũng ñược xem xét kỹ lưỡng và sát thực hơn,
trong ñó vấn ñề ổn ñịnh giá hàng hoá và thu nhập của nông dân ñược nhấn mạnh nhiều hơn

Những nghiên cứu thái ñộ ñối với rủi ro và phương pháp cải thiện quyết ñịnh trong ñiều
kiện rủi ro ñược ñề cập trong nhiều tác phẩm viết về kinh tế nông nghiệp nói riêng và về
kinh doanh nói chung.

Knight (1921) ñã ñưa ra sự khác biệt giữa rủi ro và không chắc chăn, cái mà
ñã chế ngự trong các tài liệu cho ñến khi khái niệm xác suất chủ quan trong lý thuyết quyết
ñịnh hiện ñại ra ñời.

Nhiều khái niệm rủi ro ñã ñược ñề cập từ những năm 1930, khi Bernoulli ñã thừa
nhận rằng các nhà ñầu tư muốn tối ña hoá những lợi ích kỳ vọng, chứ không phải là thu
nhập kỳ vọng.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
4

Johnson và Schulz (1947) ñã gợi ra mối liên quan giữa rủi ro sản xuất, tín dụng,
ñiều chỉnh nguồn lực và tăng trưởng trang trại. Heady (1952) trong cuốn “kinh tế nông
nghiệp và sử dụng nguồn lực” ñã nói nhiều về phân tích rủi ro.

Năm 1947 Neumann và Morgenstern ñã tổng hợp và mở rộng cách tiếp cận thoả
mãn lợi ích kỳ vọng (expected utility) và ñã luận giải làm thế nào ñể ñoán ñược người ta
lựa chọn như thế nào trong tình huống rủi ro. Savage (1954) lại tập trung sự chú ý vào khái
niệm xác suất chủ quan và mối quan hệ của nó với lợi ích kỳ vọng.

Tobin (1958) và Marcowitz (1959) là các bậc tiền bối về lý thuyết kết cấu

về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau ñưa ra những ñịnh nghĩa khác
nhau về rủi ro. Những ñịnh nghĩa ñược ñưa ra rất ña dạng, phong phú, nhưng tóm lại có thể
chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực)
và trường phái trung hòa.
Trường phái tiêu cực
Theo trường phái tiêu cực hay cách nghĩ truyền thống thì “rủi ro là những thiệt hại, mất
mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc ñiều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo
cách nghĩ của trường phái này thì rủi ro ñược ñịnh nghĩa như sau:

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
5

- “Rủi ro là ñiều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ ñiển tiếng Việt, 1995)
- “Rủi ro (ñồng nghĩa với rủi) là sự không may”( GS. Nguyễn Lân, “Từ và ngữ Việt
Nam”, 1998)
- “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị ñau ñớn, thiệt hại” (Từ ñiển Oxfort)
- “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại” hoặc “rui ro là yếu tố liên quan ñến
nguy hiểm, sự khó khăn hoặc ñiều không chắc chắn”
- Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu ñịnh nghĩa “ rủi ro là sự tổn thất về tài
sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
- Hoặc rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tác ñộng xấu ñến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp”
Theo trường phái trung hòa
Theo trường phái này thì “rủi ro là sự bất trắc có thể ño lường ñược” (Frank Knight)
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan ñến việc xuất hiện những biến cố không
mong ñợi “ (AllanWillett)
- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể ño lường ñược bằng xác suất” (

quả ñó ñối với quyết ñịnh của anh ta. Ngược lại, sự không chắc chắn xảy ra khi các kết quả
hoặc sự kiện (event) xảy ra và xác xuất của chúng không biết. Thông thường, không chắc
chắn bao gồm các sự cố thỉnh thoảng xảy ra như lụt của một con sông hoặc cái chết của
một con bò ñực giống ñáng giá và trong thực tế hàng ngày có thể không ñể ý ñến hoặc bỏ

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
6

qua. Nhưng người nông dân có thể thu thập số liệu về lượng mưa và nhiệt ñộ ñể vẽ lên một
phân phối xác suất và những hiện tượng rơi vào vùng rủi ro
Còn R. D. Kay (1988) nói rằng có nhiều tác giả phân biệt giữa rủi ro và không chắc
chắn. Họ ñịnh nghĩa rủi ro là tình trạng mà ở ñó tất cả các kết quả có khả năng xảy ra và
xác suất của nó là biết trước ñối với người ra quyết ñịnh. Ví dụ ñơn giản về tung ñồng xu
hay chơi một con xúc xắc thì tất cả các kết quả có khả năng xảy ra của hai sự kiện trên và
xác suất của nó ñều ñã biết trước khi người quyết ñịnh thực hiện trò chơi.
Thường thường xác suất ñược gán cho các sự kiện, ví dụ xác suất mưa trong dự báo
thời tiết hay dự báo kết quả của một sự kiện thể thao. Những xác suất ñó là xác suất chủ
quan vì nó dựa vào kinh nghiệm và sự ñiều chỉnh của cá nhân, còn xác suất thực của nó
trong nhiều trường hợp không thể xác ñịnh ñược. Chỉ có xác suất chủ quan là luôn tồn tại
và nó có thể không giống nhau giữa người này và người khác.
Không chắc chăn là tình trạng mà cả các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của
nó không biết trước khi quyết ñịnh quản lý. Với sự phân biệt này, phần lớn các quyết ñịnh
trong nông nghiệp ñược phân biệt ra thành rủi ro và không chắc chắn. Mặc dù tất cả các
kết quả có khả năng xảy ra ñều có thể liệt kê ra nhưng xác suất thực của nó hiếm khi xác
ñịnh ñược, vì vậy cái tốt nhất có thể làm ñó là gán cho nó xác suất chủ quan. ðó là xác suất
ước lượng tốt nhất của xác suất thực của người ra quyết ñịnh dựa trên kinh nghiệm và
thông tin sẵn có về sự kiện quyết ñịnh.
Sự phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn trên ñây ít có ý nghĩa ñối với nhà quản

ñịnh quan trọng của cuộc ñời hoặc ñối với một vài quyết ñịnh trong kinh doanh hoặc của

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
7

chính phủ thì khác, cần phải cân nhắc kỹ về sự không chắc chắn vì nó sẽ có những khác
nhau quan trọng giữa hậu quả tốt và hậu quả xấu, do ñó với những quyết ñịnh như vậy thì
rủi ro có thể ñược ñánh giá là có ý nghĩa quan trọng. Trong nông nghiệp cũng vậy, có
những quyết ñịnh không cần tính ñến ruỉ ro, nhưng nhiều quyết ñịnh nên chú ý khi lựa
chọn các khả năng sẵn có.
Có tính ñến rủi ro có thể là quan trọng kể cả ñối với một số quyết ñịnh sản xuất
hàng ngày, ñó là ñối với các trường hợp mà hiệu ứng tích luỹ của các lựa chọn có thể có
ảnh hưởng lớn ñến toàn bộ kết quả kinh doanh. Ví dụ, việc kiểm tra bệnh viêm vú ở bò
sữa, nếu kiểm tra không chặt chẽ, sữa của một con bò bị bệnh sẽ trộn lẫn cả vào khối lượng
sữa lớn và hậu quả là làm cho sữa không ñảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và cuối cùng dẫn
ñến tổn thất lớn về thu nhập, vì vậy lựa chọn chiến lược kiểm tra theo thói quen cũ chính là
quyết ñịnh rủi ro ñối với những người nuôi bò sữa.
Những quyết ñịnh rủi ro khác thường thường ñòi hỏi phải suy nghĩ phân tích kỹ
lưỡng, ñó là các quyết ñịnh có khả năng mang ñến những tổn thất lớn, hoặc có khả năng bỏ
lỡ món lời lãi lớn. Trong những trường hợp như vậy thì cần có thời gian và sự nỗ lực ñể
sắp xếp các vấn ñề một cách chính thức, thu thập các chứng cứ thích hợp và phân tích các
lựa chọn sẵn có ñể có thể lựa chọn tốt hơn.
2.2. Các loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro
Có nhiều loại rủi ro và không chắc chắn có thể áp dụng trong quyết ñịnh quản lý
sản xuất nông nghiệp, ví dụ những rủi ro nào liên quan ñến chọn cây trồng vật nuôi, chọn
lượng thức ăn gia súc hợp lý, chọn lượng phân bón hợp lý và những rủi ro nào liên quan
ñến quyết ñịnh vay thêm vốn? Cái gì khiến cho không ñạt ñược các kết quả mong muốn?
P. H. Callkin (1983) ñã chia rủi ro thành hai loại: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài

8

Một loại rủi ro sản xuất ñược thể hiện ở ðồ thị 1.1, trong ñó thời tiết là yếu tố quan
trọng tác ñộng ñến năng suất.
ðầu ra
Thời tiết tốt
Thời tiết bình thường
ðồ thị 1.1 là 3 hàm sản xuất với 3 ñiều kiện thời tiết khác nhau. Thời tiết ảnh hưởng
ñến năng suất cây trồng, gây ra tình trạng không chắc chắn về ñầu ra.
Cùng với sự không chắc chắn về ñầu ra là sự không chắc chắn về giá thành sản
xuất. Giá ñầu vào có xu hướng biến ñộng ít hơn giá ñầu ra nhưng vẫn là một nguyên nhân
gây ra rủi ro sản xuất. Giá thành sản xuất phụ thuộc vào cả hai yếu tố chi phí và năng suất
vì vậy nó có thể biến ñộng khi cả hai yếu tố ñó biến ñộng.
Công nghệ mới cũng là một nguyên nhân nữa gây ra rủi ro sản xuất. Chuyển từ công
nghệ cũ sang công nghệ mới bao giời cũng chứa ñựng yếu tố rủi ro trong ñó. Liệu công
nghệ mới có ñáp ứng mong muốn không? Có thực sự giảm chi phí hoặc tăng năng suất
không? Những câu hỏi như thế và nhiều câu hỏi khác nữa ñược ñặt ra trước khi một công
nghệ mới ñược chấp nhận. Nhiều công nghệ ñã ñược chứng minh là ưu việt nhưng những

nước và thị trường thế giới, rất phức tạp và có thể ảnh hưởng lớn ñến thu nhập của người
sản suất. Những năm gần ñây giá gạo và cà phê trên thế giới biến ñộng ñã làm ảnh hưởng
ñến thu nhập của người trồng lúa vùng ñồng bằng sông Cửu Long và cà phê Tây Nguyên là
những bằng chứng cụ thể.
Rủi ro thể chế
Các chính thể cũng là một nguồn rủi ro. Thay ñổi các qui ñịnh có ảnh hưởng ñến sản
xuất nông nghiệp có thể làm cho lợi nhuận ñã ñịnh không ñạt ñược như mong muốn. Ví dụ
thay ñổi lụât quản lý chất thải chăn nuôi có thể có ảnh hưởng tốt, nhưng thay ñổi quá nhiều
các ñiều khoản thuế thu nhập hoặc trả nợ thì có thể ngược lại. Người sản xuất có thể bị
ảnh hưởng xấu bởi việc giới hạn sử dụng thuốc trừ sâu, hoặc người chăn nuôi cũng có thể
bị ảnh hưởng lớn bởi việc hạn chế sử dụng thuốc chữa bệnh. Những qui ñịnh của chính phủ
về sử dụng thuốc sâu, bệnh có thể làm giảm nhập khẩu của nước ngoài ñối với một số sản
phẩm. Loại rủi ro này gọi là rủi ro thể chế .
Rủi ro do con người gây ra hoặc rủi ro cá nhân
Người sản xuất tự họ cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro, ví dụ ốm ñau, bệnh
tật, những khủng hoảng lớn của cuộc ñời như người chủ bị chết, hoặc vợ chồng li dị cũng
ñe doạ sự tồn tại của trang trại, ốm ñau kéo dài của chủ có thể ảnh hưởng ñến sản xuất
hoặc tăng chi phí một cách ñáng kể. Tương tự, người làm công thiếu cẩn thận trong chăm
sóc gia súc hoặc sử dụng máy móc cũng có thể dẫn ñến những thiệt hại lớn (cháy, làm
hỏng tài sản). Một loại rủi ro khác nữa là rủi ro hợp ñồng, rủi ro này liên quan ñến ứng xử
và sự tin tưởng của ñối tác. Các rủi ro này gọi là rủi ro do con người gây ra (individual
risk).
Tổng hợp lại tất cả các rủi ro sản xuất, rủi ro thị trường, rủi ro thể chế và rủi ro liên
quan ñến con người gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh không phụ thuôc vào cách
tài trợ (cấp vốn). ðó là tác ñộng chung của tất cả những cái không chắc chắn tới lợi nhuận
của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng ñến các chỉ tiêu kết quả kinh doanh như dòng tiền mặt
thuần ñược tạo ra từ các hoạt ñộng nông nghiệp hoặc thu nhập thuần của doanh
nghiệp/trang trại.
Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính liên quan ñến sự an toàn hoặc mất an toàn về tài chính của doanh

Phần lớn trong ñầu tư, khi ñánh giá dự án thường liên quan ñến rủi ro thuần tuý (pure
risk), ñó là hiệu số giữa một vài chỉ tiêu kết quả ñại diện so với giá trị trung bình. Nhưng
chúng ta có thể thắc mắc là, khái niệm ruỉ ro xấu (DSR) có phù hợp cho phân tích rủi ro
của nhiều tình huống khác nhau, trong ñó có cả nông nghiệp hay không ?.
DSR là cách diễn tả tóm tắt tình trạng trong ñó mỗi thay ñổi so với ñịnh mức hay
tiêu chuẩn dẫn ñến những kết quả xấu. Nghĩa là, khi DSR trội hơn rủi ro thuần tuý thì kết
quả bình thường biểu thị ñuôi trên của phân phối kết quả. Hầu hết rủi ro kỹ thuật trong
nông nghiệp ñược coi như là DSR (vì hầu hết những biến ñộng so với kế hoạch là ñiều né
tránh hơn là ưng thuận ).
DSR cũng có thể tăng lên nếu rủi ro là quan hệ phi tuyến về tương tác bên trong
giữa các biến ngẫu nhiên. Năng suất cây trồng là một ví dụ rất rõ, nó phụ thuộc vào lượng
mưa, nhiệt ñộ ở mỗi giai ñoạn của vụ sản xuất, nếu các yếu tố này chênh lệch nhiều ở từng
giai ñoạn sẽ dẫn ñến kết quả ngược lại, còn nếu chênh lệch nhỏ so với giá trị trung bình
của nó thì một số giá trị này lại có thể là giá trị tốt hơn giá trị trung bình. Tuy nhiên, thông
thường cũng có trường hợp giảm lợi nhuận, ñó là khi phần tổn thất do những biến ñộng
ngược lại (như biến ñộng lượng mưa so với giá trị trung bình của nó) lớn hơn phần ñược
thêm do những biến ñộng mong muốn mang lại (Andeson 1979). Chúng ta hiểu một vụ
sản xuất bình thường là vụ sản xuất trong ñó tất cả các biến số có giá trị gần/sát với giá trị
kỳ vọng. Tuy nhiên, vụ sản xuất bình thường có xác xuất nhỏ, và xác suất năng suất thấp
hơn năng suất ở vụ sản xuất bình thường là lớn. Như vậy ý nghĩa của quan niệm về một
năm sản xuất bình thường là ở chỗ nó là cơ sở ñể phân tích một trường hợp DSR. Ngược
lại, nếu sử dụng giá trị trung bình của các giá trị thống kê năng suất ñể làm cơ sở cho phân
tích thì sẽ dẫn ñến trường hợp rủi ro thuần túy nhiều hơn.
Chúng ta có thể biểu thị DSR bằng một ví dụ ñơn giản về năng suất cây trồng của
một vụ sản xuất nhờ nước trời (không có tưới tiêu ) như sau:
y = cx + dx
2
(1.1)
y: năng suất 1 héc-ta
x: lượng mưa trong vụ sản xuất ñó (mm).

Giả sử lượng mưa Năng suất kỳ vọng (tạ/ha)
Giả sử chắc nhắn: Mode 225mm 47,3
Giả sử chắc nhắn: Mean 208 mm 45,1
Tính toán rủi ro qua phân phối xác suất kiểu tam giác 44,5
3. Những ñối tượng quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp
Rủi ro trong nông nghiệp nói chung là quan trọng ñối với toàn xã hội. Thái ñộ
không ưa thích rủi ro có thể ảnh hưởng ñến vấn ñề phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả
của người nông dân. Ví dụ , những nông dân không ưa thích rủi ro có thể tiếp nhận chậm
chạp các tiến bộ kỹ thuật. Một sự cọ sát nhằm giảm rủi ro như vậy có nghĩa là dẫn ñến tổng
ñầu ra sẽ ít hơn. Như vậy, giá nông sản phẩm có chiều hướng cao hơn, người tiêu dùng
phải trả nhiều hơn. Hơn nữa, nếu sở thích của người tiêu dùng chuyển dịch sẽ dẫn ñến thay
ñổi giá nông sản, người nông dân sản xuất trong ñiều kiện rủi ro cao thì sự ñiều chỉnh của
họ ñể ñáp ứng nhu cầu thay ñổi chậm hơn so với trong ñiều kiện rủi ro thấp. Sự cọ sát với
0.000

0.002

0.004

0.006

0.008

0.010

0.012

f(x)

125


50

55

60

trung b×nh

mode

ns tb

ns mode

(t/ha)

f(x)

n¨ng suÊt

l¦îng m¦a

(x)

(mm)Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi


cấp chào mời theo cách này thường thành công hơn. Tương tự, các nhà kinh doanh nông
nghiệp (agricultural trader) là những người mua sản phẩm của nông dân có thể tìm cách
khuyến khích nông dân ñể hạn chế rủi ro giá. Một số nông dân sẵn sàng chấp nhập giá kỳ
vọng, mặc dù có thể thấp hơn, nếu người mua chào mời hợp ñồng trước với giá ñảm bảo.
Bằng cách này cả người mua và người bán ñều có lợi .
Các nhà nghiên cứu trong nông nghiệp. ðặc biệt ñối với những người trực tiếp
xây dựng phương pháp canh tác mới cần phải suy nghĩ nhiều về các khía cạnh rủi ro. Ví
dụ, các báo cáo kết quả thí nghiệm thường là những con số bình quân mà không báo cáo
ñầy ñủ vể ñộ phân tán của kết quả. Người nghiên cứu trực tiếp phải nhận thấy vấn ñề rủi
ro quan trọng hơn nhiều so với báo cáo kết quả thí nghiệm ñược ñơn giản hoá cho tốt hơn,
tròn trịa hơn. Suy nghĩ về những khó khăn của nông dân và những cơ hội cũng như rủi ro
của họ sẽ giúp người nghiên cứu xác ñịnh vấn ñề cần nghiên cứu mới hoặc giải quyết các
vấn ñề một cách toàn diện hơn. Ví dụ các nhà chọn giống hướng vào chọn lọc năng suất
trong ñiều kiện kiểm tra ñược về dinh dưỡng chẳng hạn nhưng với cái ñó có thể làm mất
khả năng di truyền về tính chống chịu ñiều kiện xấu và do ñó làm tăng rủi ro trong ñiều
kiện sản xuất không thuận lợi.
Các nhà hoạch ñịnh chính sách cũng cần quan tâm ñến rủi ro và phản ứng của
nông dân với rủi ro. Ước lượng phản ứng cung bằng các mô hình không tính ñến thái ñộ né
tránh rủi ro của nông dân có thể sẽ dẫn ñến sự chệch hướng ñáng kể. Nói cách khác các mô
hình ước lượng có tính ñến rủi ro sẽ cho kết quả ước lượng tốt hơn mô hình không tính ñến

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
13

rủi ro. Tương tự, hoạch ñịnh chính sách và kế hoạch hoá là những công việc mang tính rủi
ro, vì vậy một vài phương pháp phân tích rủi ro sẽ ñược giới thiệu trong các chương sau.
Các nhà hoạch ñịnh và chính sách cần cân nhắc ñến thái ñộ của nông dân ñối với
rui ro không những trong khi ñề ra các chính sách và chương trình ảnh hưởng trực tiếp ñến
Xác ñịnh bối
cảnh và phạm vi

Xác ñ
ịnh rủi
ro
Phân tích r
ủi
ro
ðánh giá rủi
ro
Theo dõi ,
giám sát

phương pháp quản trị hiện tại không ñáp ứng ñược mục tiêu của tổ chức.
Phạm vi quản trị rủi ro liên quan ñến vấn ñề xác ñịnh tầm mức của quá trình quản trị
rủi ro (ñã thể hiện ở sơ ñồ 1.1). Tuy nhiên ñề cập ñến mọi rủi ro cùng một lúc là ñiều
không thể làm ñược vì vậy nên tiến hành một cuộc ñiều tra phù hợp với thời gian và các
nguồn lực sẵn có, ví dụ nên bắt ñầu với những rủi ro mà con người có thể ñiều chỉnh ñược
ñể phục vụ cho công tác quản trị có hiệu quả hơn.
Xác ñịnh rủi ro
Xác ñịnh rủi ro cần quản trị ở ñây quan trọng là phải tiếp cận một cách hệ thống ñể
bảo ñảm không bỏ sót một loại rủi ro nào, vì vậy cần liệt kê các sự kiện có thể ảnh hưởng
lớn ñến kết quả hoạt ñộng của một tổ chức. Cụ thể là cần cân nhắc cái gì có thể xảy ra, tại
sao và như thế nào và nó ảnh hưởng ñến tổ chức như thế nào.
ðiều rất tự nhiên là rủi ro không phải lúc nào cũng dễ tưởng tượng ra nó sẽ xảy ra như
thế nào. Có những rủi ro bất thường không thể tưởng tượng ñược, nhưng ñiều ñó không có
nghĩa là nó không xảy ra và không có hại gì nếu nó xảy ra. Bây giờ rõ ràng là không có khả
năng quản lý những rủi ro không thể tưởng tượng ñược. Như vậy cái gì là quan trọng, ñiều
chắc chắn là mọi rủi ro quan trọng có thể tưởng tượng ñược qua việc suy nghĩ cân nhắc kỹ
lưỡng.
Phân tích rủi ro
Trong quản trị rủi ro hiện nay, người ta chia quá trình phân tích rủi ro thành 2 bước:
Cân nhắc khả năng xảy ra và ñánh giá hậu quả của nó. Bước thứ nhất gọi là phân tích
không chính thức, ở bước này sẽ trình bày một cách chung chung/tổng quát với những khái
niệm như “rất không có khả năng xảy ra - very unlikely” hoặc “hoàn toàn có khả năng xảy
ra - quite likely” ñể mô tả các khả năng xảy ra, hoặc các khái niệm “nguy hiểm” hoặc
“thảm hoạ” ñể mô tả hậu quả. Mục ñích của phân tích không chính thức là ñể phân chia

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
15


bảo ñảm cho kế hoạch chắc chắn ñang ñược thực hiện và nhằm phát hiện ra những vấn ñề
cần phải giải quyết và ñiều chỉnh trong tương lai. Nếu có ñiều chỉnh ở một hoặc nhiều
bước thì cần phải làm lại các bước khác cho phù hợp.
5. Khi nào cần tiến hành phân tích chính thức về rủi ro
Phân tích chính thức lựa chọn rủi ro trong nông nghiệp rõ ràng là tốn kém, ít nhất là
tốn công sức, thời gian ñể suy nghĩ và mô hình hoá. Có hai trường hợp phân tích chính
thức cần phải tính ñến dưới ñây
Thứ nhất, ñối với những quyết ñịnh nhanh thì cần có chiến lược nhạy cảm…. ích
lợi từ các quyết ñịnh riêng biệt có thể không lớn, nhưng ích lợi tích luỹ qua nhiều quyết
ñịnh có thể làm thay ñổi thời gian và nỗ lực ban ñầu cũng như những nỗ lực tiếp theo cho
phân tích. Ví dụ, xây dựng chiến lược ñiều trị bệnh kinh niên của gia súc trong chăn nuôi,
như bệnh viêm vú ở bò sữa. Những bệnh khó chẩn ñoán chắc chắn khi ñiều trị có thể phát
sinh những chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp ñáng kể, hoặc các gia súc bị bệnh ñưa vào ñiều
trị cũng có thể bị chết, vì vậy thiết kế và thực hiện một chiến lược quản lý dịch bệnh tốt là
vấn ñề nhạy cảm.
Trường hợp phân tích quyết ñịnh nhanh này có thể mở rộng ứng dụng ra ñối với
quản lý dịch vụ khuyến nông ở khía cạnh tiếp thu các biện pháp canh tác mới. Ví dụ chọn

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
16

chiến lược trồng khoai tây ở vùng giá lạnh, người ta biết rằng năng suất khoai tây có thể
ñược cải thiện nếu trồng sớm, nhưng rõ ràng trồng sớm rất có thể gặp phải giá lạnh mùa
xuân. Người hướng dẫn/nhân viên khuyến nông có thể sử dụng tài liệu ghi chép thời tiết ñể
phân tích quyết ñịnh ñơn giản ñể xây dựng các khuyến cáo hướng dẫn những người trồng
khoai tây tại nới ñó.
Trường hợp thứ hai, ñối với quyết ñịnh rất quan trọng, với nghĩa nếu có khoảng
cách lớn ñáng kể giữa kết quả tốt nhất và xấu nhất, ví dụ quyết ñịnh ñầu tư lớn. Một nông

Câu hỏi ôn tập
1. Tại sao hiện nay cần phải quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp?
2. Phân biệt rủi ro và không chắc chắn
3. Rủi ro kinh doanh, các loại rủi ro kinh doanh và các nguyên nhân gây ra rủi ro kinh
doanh
4. Rủi ro tài chính và nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính
5. Thế nào là rủi ro sản xuất, rủi ro marketing, rủi ro thể chế, rủi ro cá nhân?
6. Những ñối tượng quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp là những người nào và tại
sao họ cần quan tâm ñến rủi ro? Tài liệu tham khảo:
- Lê Hữu Ảnh,1997.Tài chính nông nghiệp. 164 trang. 19-49?

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi

ro
17

- ðoàn Thị Hồng Vân, 2002. Quản trị rủi ro và khủng hoảng. Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội. 321 trang. tr.24-60.
- Jock R. Anderson, John L. Dillon and J. Brian Hardaker. Agricultural Decision Analysis.
Iowa State University Press/Ames Iowa. 344 pages
- Peter J. Barry (Editor), 1984. Risk Management in Agriculture. Iowa State University
Press/Ames Iowa. 282 pages
-J.B. Hardaker, R.B.M. Huirne and J.R. Anderson, 1997. Coping with Risk in Agriculture.
Cab Internatinal. 274 pages
-Peter H. Callkins, Dennis D. DiPietre, 1983. Farm Business Management. Macmillan
Publishing Co. Inc New York, Collier Macmillan Publishers London. 441 pages (p. 202)
- Ronald D. Kay, 1988. Farm Management (Second Edition). McGRAW-Hill Book

thông tin về thái ñộ ñối với rủi ro của nông dân và các tác nhân kinh tế khác ñóng một vai trò
quan trọng trong quản lý rủi ro.
Các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu khác ñã ñầu tư nhiều vào việc làm rõ các khái
niệm, xây dựng mô hình, và ño thái ñộ ñối với rủi ro của người ra quyết ñịnh. Mặc dù ñã ñạt
ñược nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều vẫn ñề còn phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
Trong chương này chúng ta sẽ xem lại các phương pháp mô hình hoá và các phương pháp ño
thái ñộ ñối với rủi ro và ứng dụng của nó trong nghiên cứu, trong ñó nhấn mạnh mô hình thoả
mãn lợi ích kỳ vọng và lợi ích ngẫu nhiên.
1. Mô hình lợi ích kỳ vọng
Mong muốn của người ra quyết ñịnh là muốn thoả mãn các mục tiêu hoặc thoả mãn
lợi ích kỳ vọng (expected Utility). Mô hình hoá các mục tiêu (goals) là một công việc phức
tạp. Mục tiêu có thể là ñơn hoặc là ña mục tiêu và nếu là ña mục tiêu thì có thể ñánh giá ñồng
thời hoặc ñánh gía theo thứ bậc. Ví dụ, nếu mục tiêu là tối ña hoá lợi nhuận, thì kết quả hoạt
ñộng (action) sẽ phải biểu thị bằng giá trị (biểu thị bằng tiền), và hoạt ñộng ưa thích nhất sẽ
có giá trị cao nhất. Nhưng tối ña hoá giá trị tiền kỳ vọng ñã tỏ ra rất trìu tượng và không có
hiệu quả trong giải thích nhiều kiểu ứng xử kinh tế vì nó ñòi hỏi phải phân biệt các thái ñộ
của người quyết ñịnh ñối với giá trị tăng thêm. Vì vậy, một phương pháp chung dựa trên
thuyết vụ lợi ñã cố gắng giải thích thái ñộ của người ra quyết ñịnh trong ñiều kiện rủi ro.
Mô hình lợi ích kỳ vọng (Expected Utility Model -EUM) là một công cụ ñộc nhất ñưa
ra nguyên tắc ño thái ñộ ñối với rủi ro. Nó suy ra rằng người quyết ñịnh tuân theo một tiên ñề
nhất ñịnh sẽ chọn những hoạt ñộng (actions) thoả mãn tối ña lợi ích kỳ vọng . Mô hình EUM
cũng ñã ñược sử dụng ñể miêu tả thái ñộ ñối với rủi ro, và khả năng dự ñoán của nó ñã ñược
kiểm chứng qua nhiều thí nghiệm và qua các ứng xử kinh tế quan sát ñược (Robinson 1982,
Schoemaker 1982). Do ñó EUM là một phương pháp biểu diễn các mục tiêu của người ra
quyết ñịnh. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro
19
1.1. Xác ñịnh mô hình lợi ích kỳ vọng

là thị trường bình thường
và S
2
là thị trường thiếu hụt cung. Xác suất chủ quan của người nông dân này về ñiều kiện thị
trường S
1
là 0,8 và S
2
là 0,2, ta có ma trận kết quả và lợi ích kỳ vọng như sau:

Si

P(Si)

A
1
A
2
S
1
0,8 100 90
S
2
0,2 100 150
Lợi ích kỳ vọng 100 102 Hàm EUM ñược dựa trên một qui tắc bắt nguồn từ các tiên ñề về ứng xử cá nhân. Việc phát
triển hoàn chỉnh phương pháp này chúng ta tìm thấy ở các tác phẩm của Von Neumann và
Morgenstern (1947) hoặc Luce và Raiffa (1957), ở ñây chỉ trình bày tóm tắt một số nội dung

1
phải ưa thích hơn A
3
.
3. Tính chất thay thế giữa các lựa chọn
Nếu A
1
ưa thích hơn A
2
,

và A
3
là lựa chọn khác, thì lựa chọn rủi ro PA
1
+ (1-P)A
3
ưa
thích hơn lựa chọn PA
2
+ (1-P) A
3
, trong ñó P là xác suất xảy ra
4. Tính chất tương ñương giữa các lựa chọn
Nếu A
1
ưa thích hơn A
2
, và A
2

hàm lợi ích có giá trị là 1,0 ñối với phần ñược, U(1000) = 1, và bằng 0,0 ñối với phần mất,
tức là U(-1000) = 0. Giả sử lợi ích của giá trị tương ñương (CE) bằng lợi ích kỳ vọng:
U(CE) = P(1,0) + (1-P)(0,0) = P (2.2)
Ví dụ, nếu P = 0,5, người nông dân A có thể ñưa ra một lượng mất chắc chắn là 250 ñô la
như là giá trị tương ñương ñể ñánh cược cho việc mất 1000 ñô la là lợi thế, vì lợi ích của -
250 ñô la là 0,5, tức là U(-250) = 0,5. Nếu P = 0,8 thì người nông dân A có thể ñưa ra 400 ñô
la là giá trị tương ñương (CE), vì lợi ích của 400 ñô la ñối với người nông dân A là 0,8,
U(400) = 0,8. ðến bây giờ chúng ta ñã có 4 quan sát về lợi ích và giá trị tiền ñối với người
nông dân A. Nếu có ñủ các gía trị về lợi ích thì chúng ta có thể xây dựng một bảng về lợi ích
hoặc một hàm lợi ích tương ứng với các giá trị này bằng phương pháp ñồ thị hoặc phương
pháp thống kê. Hàm này sẽ cho một sắp xêp các lựa chọn rủi ro của nông dân A một cách tin
cậy.
1.2. Thái ñộ ñối với rủi ro
Thái ñộ của người quyết ñịnh ñối với rủi ro có thể nhìn thấy từ dạng hàm lợi ích của
anh ta. Hàm tuyến tính hàm ý là người có thái ñộ trung tính (risk neutrality), hàm có dạng
lõm về phía gốc toạ ñộ hàm ý người không thích rủi ro và hàm có dạng lồi hàm ý người thích
rủi ro. Người quyết ñịnh cũng có thể có hàm lợi ích với cả 2 dạng lõm và lồi ở các ñoạn khác
nhau, ñiều ñó có nghĩa là có sự thay ñổi thái ñộ ñối với các kết quả khác nhau.
ðể làm rõ các vấn ñề nêu trên chúng ta xét các dạng hàm lợi ích. Hàm lợi ích tuyến
tính:
U(X) = kX với k > 0 (2.3)
Trong ñó U(X) là hàm lợi ích; X là các kết quả của các hoạt ñộng; k là tham số.

Nếu gặp phải một lựa chọn với hai kết quả riêng X
1
và X
2
thì có xác suất tương ứng là 1-P
và P, và lợi ích kỳ vọng của lựa chọn này là
(1-P) kX

1
) + P U(X
2
) (2.5)

Phần a Lợi ích

EU (x)=k
X
X
1

X
X
2

Phần b

U (X
2
)

Khi P thay ñổi thì lợi ích kỳ vọng cũng thay ñổi. Nói chung, EU(X) có thể mô tả bằng ñường
thẳng:
EU(X) = P[U(X
2
)- U(X
1
)] + U(X
1
) = α
0
P + α
1,

trong ñó α
0
và α
1
là những tham số, và α
0
bằng U(X
2
) – U(X
1
) và α
1
bằng U(X
1
). Lợi ích kỳ
vọng EU(X) ñược biểu diễn trên trục tung phần b ñồ thị 1.2. Nhưng lợi ích của
X

U(
X
) U(x)

EU(
X
) U*(x)

X
1
CE* CE
X
X
2

ðồ thị 2.2 . Hàm lợi ích và phí bảo hiểm rủi ro
Mối quan hệ giữa hàm lợi ích và thái ñộ ñối với rủi ro hàm ý là dấu của ñạo hàm bậc
hai của hàm lợi ích cho biết thái ñộ không thích rủi ro, trung tính hay thích rủi ro, chúng ta có
thể biểu thị các mối quan hệ ñó như sau:
Kết quả

Trích đoạn Sự biến ựộng giá theo chu kỳ Biện pháp giảm rủi ro về giá Phân loại chiến lược trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp Lựa chọn ngành sản xuất ổn ựịnh Linh hoạt về chi phắ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status