1
MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, ngành thủy sản phát triển một mặt đã đem lại nhiều lợi
ích cho nền kinh tế, làm thay đổi đời sống của người dân ven biển. Nhưng sự phát
triển ồ ạt, không theo quy hoạch đã gây ra nhiều khó khăn cho ngành thủy sản như
môi trường nuôi bị suy giảm, dịch bệnh, khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên,…Vì vậy, ngoài các vấn đề kỹ thuật, kinh tế và xã hội thì một trong những
vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là giải quyết nạn ô nhiễm môi trường nước trong nuôi
trồng thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm giúp ngành thủy sản phát triển bền
vững.
Động vật thân mềm hai mảnh vỏ là một trong những nguồn lợi lớn của sinh
vật biển. Vì chúng không chỉ làm thực phẩm, mà vỏ của nhiều loài còn làm dược liệu,
hàng mỹ nghệ và dùng trong công nghiệp, nông nghiệp. Hàng năm, lượng động vật
thân mềm hai mảnh vỏ cung cấp cho con người không chỉ từ khai thác tự nhiên, mà
còn hàng triệu tấn từ nghề nuôi động vật thân mềm [3]. Hiện nay, do nhu cầu của thị
trường tiêu thụ các sản phẩm thủy sản, đặc biệt là các loài động vật thân mềm ngày
càng tăng, nên nguồn lợi của hầu hết các loài thủy sản có giá trị kinh tế nói chung và
động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói riêng đang bị khai thác rất mạnh, vượt quá mức
giới hạn khai thác bền vững cho phép. Thêm vào đó, sự gia tăng dân số cũng đã tạo
nên sức ép nặng nề hơn về khai thác hải sản và gây ô nhiễm môi trường ở vùng ven
bờ đã làm cho nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt một cách nhanh chóng.
Do tập tính sống đáy, sử dụng mùn bã hữu cơ và vi sinh vật làm thức ăn nên
các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ được coi là một trong các đối tượng có khả
năng thay đổi khu hệ sinh vật đáy. Đặc biệt là trong các ao nuôi tôm công nghiệp,
lượng mùn bã hữu cơ tồn tại dưới đáy ao rất lớn do sự phân hủy của thức ăn dư thừa,
chất thải của tôm nuôi và sự lắng tụ của tảo tàn do sự phát triển cực đại. Lớp mùn bã
hữu cơ và vi sinh vật trên được động vật thân mềm hai vỏ sử dụng làm thức ăn sẽ
hạn chế sự ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, động vật thân mềm hai mảnh vỏ đang
là đối tượng nuôi được nhiều nhà khoa học quan tâm thử nghiệm trong các mô hình
nuôi thủy sản bền vững nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do các vùng nuôi tôm
huyết, sò lông và vẹm xanh.
3. Nghiên cứu về khả năng lọc mùn bã hữu cơ của sò lông, sò huyết và vẹm
xanh.
Do thời gian có hạn và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế vì vậy luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy,
cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược một số đặc điểm sinh học của sò huyết, sò lông và vẹm xanh
1.1.1 Một số đặc điểm sinh học của sò huyết Anadara granosa
1.1.1.1 Phân loại, phân bố
Phân loại
Vị trí phân loại của sò huyết được xác định như sau:
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Bộ Arcoida
Họ Arcidae
Giống Anadara
Loài Anadara granosa (Linné, 1758)
Tên đồng nghĩa:
Arca granosa (Linné, 1758)
Tegillarca granosa (Linné, 1758)
/
00
. Tuy nhiên, ở ven bờ, gần cửa sông,
khi mùa mưa đến, độ mặn có thể giảm xuống còn 5-10
0
/
00
[25].
Ở nước ta sò huyết phân bố trên các bãi triều, nơi ít nhiều có nước ngọt đổ vào
[3], [5]. Độ mặn thích hợp từ 19 – 24
0
/
00
với loài A. granosa và có thể cao hơn tới
trên 30
0
/
00
đối với loài A. nodifera [4], [12].
Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của sò huyết là 15-30
0
C.
Khi nghiên cứu nhiệt độ thích hợp của A. granosa ở Phuket (Thái Lan), Boonruang
và Janekarn (1983) thông báo chúng phân bố rộng với nhiệt độ ở đáy từ 25-31,4
0
C và
nhiệt độ nước từ 25-32,8
0
C. Broom (1980) cũng cho rằng ở Malaysia, A. granosa
phân bố thích hợp trong phạm vi nhiệt độ từ 29-32
đầu tiên sò có kích thước từ 4,5 mm tăng đến 31,5 mm, trong năm thứ 2 từ 31,5 mm
tăng lên 49,5 mm và đã thiết lập phương trình về mối quan hệ giữa chiều dài L (mm)
và khối lượng W(g) cho nhóm kích thước từ 20 – 63 mm là: W = 0,0013.L
2,645
. Kích
cỡ lớn nhất mà Narasimham tìm thấy của sò A. granosa dài 63 mm [38].
1.1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Sò huyết dinh dưỡng bằng cách lọc mồi. Thức ăn được lọc qua mang nhờ vận
động của các tiêm mao trên các tơ mang mà thức ăn được chuyển đến miệng. Thành
phần thức ăn chủ yếu của sò huyết là tảo, mảnh vụn hữu cơ và nguyên sinh động vật.
Kích cỡ thức ăn phụ thuộc vào kích cỡ của sò: sò nhỏ lọc cỡ mồi dưới 10 µm, sò lớn
lọc cỡ mồi từ 10 - 100 µm. Tuy nhiên thành phần thức ăn của sò thay đổi theo môi
trường, mùa và vùng sinh thái [25].
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của sò lông Anadara antiquata
1.1.2.1 Phân loại, phân bố
Phân loại
Vị trí phân loại của sò lông được xác định như sau:
6
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Bộ Arcoida
Họ Arcidae
Giống Anadara
Loài Anadara antiquata (Linné, 1758)
Tên đồng nghĩa: Anadara maculosa (Reeve, 1844)
Anadara scapha (Meuschen, 1781)
sò sống trong điều kiện bất lợi [15].
Kayombo (1991) đã thiết kế một hệ thống nuôi thử nghiệm Anadara antiquata
ở Tanzania, ông cho biết, sò nuôi ở mật độ thấp có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn sò
nuôi ở mật độ cao [32].
1.1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Các loài trong giống Anadara dinh dưỡng bằng cách lọc mồi. Nhờ sự vận động
của các tiêm mao trên các tơ mang mà thức ăn được lọc qua mang rồi chuyển đến
miệng. Đầu tiên, sò mở vỏ nhờ sự vận động của mép màng áo và tiêm mao trên các
tơ mang, tạo dòng chảy vào để hô hấp và lọc mồi, đồng thời đẩy các mảnh vụn lớn
không sử dụng được rơi xuống mép màng áo đưa ra ngoài. Thức ăn chủ yếu của A.
antiquata là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ [25].
1.1.3 Một số đặc điểm sinh học của vẹm vỏ xanh Perna viridis
1.1.3.1 Phân bố, phân loại
Phân loại
Vị trí phân loại của vẹm vỏ xanh được xác định như sau:
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Bộ Mytiloida
Họ Mytilidae
Giống Perna
Loài Perna viridis (Linnaeus, 1758)
Tên đồng nghĩa:
Mytilus viridis Linné, 1758
Chloromytilus viridis Linné, 1758
Mytilus smaragdinus (Gmelin, 1791; Chemnitz, 1857)
8
ngắn ở độ mặn 20
0
/
00
. Còn theo Coeroli và cộng sự (1984) ở độ mặn 5
0
/
00
vẹm vỏ
xanh sẽ chết nếu quá 2 ngày [trích 17]. Loài vẹm Mytilus edulis và Cardium edulis ở
biển Baren có độ muối thấp làm cho tốc độ phát triển của chúng chậm hơn rất nhiều
so với vẹm cùng tuổi nuôi cùng thời gian khác môi trường, biểu hiện rõ ở kích thước
tối đa chỉ bằng 3/4 đến 2/3 kích cỡ vẹm ở độ mặn bình thường. Vẹm vỏ xanh có thể
sống ở độ mặn từ 15
0
/
00
đến 30
0
/
00
, khoảng thích hợp nhất từ 20-25
0
/
00
[46].
9
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của vẹm vỏ xanh từ 26 – 32
0
1.1.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Vẹm vỏ xanh là loài ăn lọc. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và vật chất lơ
lửng trong nước. Vẹm không có khả năng lựa chọn thức ăn theo thành phần và chất
lượng thức ăn mà chúng chỉ có khả năng lựa chọn thức ăn theo kích thước, loại thức
ăn nào có mặt nhiều trong môi trường sống của vẹm là thức ăn chiếm tỷ lệ lớn trong
dạ dày của vẹm. Vì cũng như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, vẹm sử
dụng thức ăn thụ động theo hình thức lọc trong tầng nước, thức ăn được hút vào qua
ống xiphong [44].
Theo Ngô Anh Tuấn, vẹm bắt mồi bị động bằng cách lọc nhiều lần như sau:
Lần 1: Thức ăn và nước đi vào xoang màng áo đến mang, ở đây thức ăn rơi
xuống màng áo và nhờ xúc tu của mép màng áo đẩy ra ngoài.
Lần 2: Những hạt nhỏ nhờ các tiêm mao của tơ mang đưa đến xúc biện.
10
Lần 3: Tại xúc biện, nhờ sự vận động của tiêm mao trên xúc biện đưa thức ăn
đến miệng vào thực quản rồi đến dạ dày. Tại đây thức ăn được tiêu hóa, khi thức ăn
tiêu hóa xong, toàn bộ thức ăn xuống ruột, ruột hấp thụ toàn bộ chất dinh dưỡng và
phần cặn bã rơi vào hậu môn ra ngoài [20].
1.2 Tình hình nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của động vật thân mềm hai
mảnh vỏ trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu động vật thân mềm đã được bắt đầu rất sớm, từ nhiều thế kỷ
trước đây. Trong thế kỷ XVII, các nghiên cứu chủ yếu là mô tả. Tiến dần lên thế kỷ
XVIII-XIX, việc phân loại được chú ý, các nhà khoa học tên tuổi trong lĩnh vực này
gồm có: Linnes, Lister, Larmarck, Reeve, Sowerby, Keiner, Fisher,… mở đầu cho
cho sự phát triển của khoa học sinh học. Các nghiên cứu cuối thế kỷ XVIII đến hết
thế kỉ XIX nghiêng về giải phẩu học của Guettard, Adamson, Poli. Và đến thế kỉ XX
sự phát triển vượt bậc về giải phẫu cũng như các nghiên cứu đặc điểm sinh học.
Gần đây, các nghiên cứu về động vật thân mềm nói chung và vẹm xanh, sò
huyết, sò lông nói riêng đang dần được quan tâm. Những nghiên cứu mới đây cho
thấy nhiều khía cạnh khác nhau của cùng đối tượng, trong đó có nhiều công trình
vẹm xanh được nuôi với mật độ tảo là 3,5-5,2 µg Chlorella sp /lít [46]. Ở Tahiti, mật
độ tảo trung bình cung cấp cho vẹm là 10
4
tế bào/ml [trích 17].
Nghiên cứu khả năng lọc của vẹm châu Âu Mytilus eduslis, Mohlenberge và
cộng sự (1978) đã phát hiện mỗi cá thể lọc được 60 lít nước/ngày. Đồng thời trong
quá trình lọc, những vật chất hữu cơ có kích cỡ 4µm đều được giữ lại [36], [37].
Nghiên cứu so sánh về khả năng lọc của một số loài động vật thân mềm hai
mảnh vỏ, Walne (1972) tiến hành thử nghiệm so sánh khả năng làm sạch của 5 loài
hai mảnh vỏ và cho biết tỷ lệ làm sạch của Crassostrea gigas cao hơn hai lần so với
Mytilus edulis [47]. Mohlenberg và Riisgard (1979) đã so sánh khả năng lọc trên 13
loài hai mảnh vỏ khác nhau và cho rằng Cerastoderma edule có tỷ lệ làm sạch cao
hơn Mytilus edulis tính trên đơn vị trọng lượng cơ thể [37].
Cũng tương tự như thế, Hawkin và cộng sự (1996 và 1998) cho biết khả năng
lọc của Mytilus viridis lớn gấp 2 lần Mytilus edulis. Sau khi thử nghiệm, Hammer J.,
(1996) cho rằng vẹm có khả năng nâng cao chất lượng nước trong vùng phì dưỡng,
các loài vẹm được ví như các nhà máy lọc tự nhiên, lọc một lượng lớn các loài tảo mà
sự phát triển quá mức của nó gây ra sự ô nhiễm nặng, có hại cho vật nuôi thủy sản
[27].
Bằng việc thử nghiệm đưa vẹm vào môi trường bị ô nhiễm nặng, Huang và
cộng sự (1985) đã kết luận rằng giống Perna có khả năng thích nghi cao với môi
trường bị ô nhiễm nặng, ngoài ra còn có khả năng tích lũy và loại bỏ các chất độc
sinh học gây bẩn môi trường. Điều đó mở ra một hướng ứng dụng mới cho việc xử lý
ô nhiễm nước đang lan rộng khắp các vùng dân cư đông cũng như khắp các khu vực
nuôi trồng thủy sản [29].
Các thành phần chất hữu cơ trong nước thải ao nuôi có thể cung cấp một
nguồn thức ăn phong phú cho động vật thân mềm hai mảnh vỏ [41]. Sử dụng động
vật thân mềm hai mảnh vỏ để xử lý nước thải ao nuôi tôm, ngoài việc nâng cao chất
12
lượng nước ao nuôi người nuôi tôm còn có thêm nguồn thu từ nuôi động vật thân
Kết quả cho thấy chất hữu cơ giảm hoàn toàn và chất lượng nước rất tốt [26].
Ở Israel có nghiên cứu về phương pháp sử dụng hệ thống nuôi kết hợp tuần
hoàn bao gồm các đối tượng thân mềm và rong biển Ulva lactuca nuôi trong nước
13
thải từ hệ thống nuôi cá. Với phương pháp này thì lượng Nitơ tổng số từ hệ thống
nước thải giảm chỉ còn 4% so với 70% Nitơ tổng ở hệ thống nuôi chính (Alex M.,
T.A. Redding 2000 trích dẫn). Các thông số trên cho thấy một cách rõ ràng sự biến
đổi của chất lượng nước theo hướng có lợi sau khi có sự tham gia của động vật thân
mềm [23].
Cùng với những nghiên cứu về dinh dưỡng là những nghiên cứu về ảnh hưởng
của các yếu tố môi trường lên đời sống của động vật thân mềm như nhiệt độ, độ
mặn,…
Năm 1976, Korringa và Sinvalingam thí nghiệm về khả năng chịu nồng độ
muối của vẹm xanh thấy rằng vẹm xanh là loài chịu đựng khá tốt sự biến động của độ
mặn. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển là 26-30
0
C và nó sẽ phát
triển kém nếu như nhiệt độ xuống dưới 10
0
C và trên 35
0
C [46] .
Độ mặn là một trong những yếu tố quan trọng vì sự thay đổi của độ mặn dẫn
đến sự thay đổi áp suất thẩm thấu của sò, từ đó ảnh hưởng đến khả năng dinh dưỡng
cũng như tốc độ sinh trưởng của sò. Theo Pathansali (1963), sò đóng chặt vỏ ở độ
muối rất thấp và nước biển bị pha loãng. Tương tự, Broom (1981) thực hiện thí
nghiệm và ngưỡng độ mặn của sò kết luận rằng loài hai mảnh vỏ này trong thực tế có
thể đóng chặt vỏ để đối phó với những biến động điều hòa của độ mặn trong thời gian
ngắn và chúng có thể chịu đựng trong vòng một tuần ở 17
0
, 20 sò huyết/m
2
, kích cỡ 120 con/kg.
Kết quả cho thấy mô hình nuôi đơn ít thay nước thì pH biến động lớn, tăng dần vào
cuối vụ và dao động trong ngày > 0,5. Trong khi đó, ở mô hình nuôi kết hợp tôm sú –
sò huyết thì pH tăng chậm, chênh lệch pH sáng chiều < 0,5. Chứng tỏ rằng sò huyết
có vai trò nhất định trong khả năng làm sạch môi trường do ăn lọc, góp phần làm
sạch cặn bã, vật chất hữu cơ thừa, sự phát triển của phù du làm ổn định pH. Ở những
ao nuôi tôm sú kết hợp với sò huyết, sự phát triển của sò có khả năng làm sạch môi
trường kết hợp với sự thay nước thì hàm lượng H
2
S ở ao giảm rõ rệt và giữ ổn định,
NH
3
cũng không tăng cao như ở mô hình nuôi tôm sú đơn và ít thay nước [22].
Trương Quốc Phú và Tạ Văn Phương thử nghiệm nuôi sò huyết trong ao nước
tĩnh cũng đưa ra những nhận xét về khả nămg làm sạch môi trường của sò huyết: sò
có thể nuôi được trong ao nước tĩnh với tập tính ăn lọc tảo và mùn bã hữu cơ, sò có
thể xử lý một phần chất thải từ các ao nuôi tôm bán công nghiệp. Theo tác giả khả
năng sử dụng vật chất hữu cơ của sò trong các ao nuôi tôm là: tổng lượng đạm Nitơ
sò hấp thụ trong môi trường khoảng 23 kg/ha/năm, tổng lượng vật chất hữu cơ sò hấp
thụ là 198 kg/ha/năm [16].
Từ năm 2003-2004, Viện Hải Dương học đã thực hiện thành công đề tài KC
09.07 trong việc thử nghiệm nuôi ghép tôm hùm và vẹm xanh tại xã Vạn Hưng, Vạn
Ninh. vẹm được nuôi treo trên các dây thừng xung quanh các lồng nuôi tôm hùm. Kết
quả khảo nghiệm nuôi ghép tôm hùm với vẹm xanh cho thấy vẹm cấy lớn rất nhanh,
1kg vẹm giống sau một năm nuôi tại khu vực này sẽ cho từ 10-15kg vẹm thương
phẩm. Vẹm thương phẩm được dùng làm thức ăn cho tôm hùm. Sau 9 tháng nuôi
khảo nghiệm, đàn tôm hùm nuôi khảo nghiệm đạt trọng lượng trung bình 730
gam/con, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 77,91 gam/tháng. Tôm hùm ăn vẹm xanh
/
00
. Từ đó tạo cơ sở cho
việc sản xuất giống nhân tạo thành công cao hơn, góp phần giải quyết nhu cầu con
giống cho người nuôi và chủ động về mùa vụ sản xuất, đem lại sản lượng cao [9].
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ lọc tảo, tốc độ sinh trưởng và tỷ
lệ sống của sò huyết giống (3-7mm) thu ở bãi sò Long Phú – Sóc Trăng, Ngô Thị Thu
Thảo (2003) đã cho thấy ở độ mặn 15
0
/
00
tốc độ lọc tảo, tốc độ sinh trưởng của sò là
cao nhất. Điều đó cho thấy sò huyết giống thích hợp với độ mặn 15
0
/
00
hơn các độ
mặn 5
0
/
00
và 10
0
/
00
[18].
16
1.3 Tình hình khai thác và nuôi sò huyết, sò lông, vẹm xanh trên thế giới và Việt
Nam
1.3.1 Trên thế giới
antiquata được nuôi phổ biến ở nhiều nơi.
Khi lựa chọn địa điểm ương nuôi sò người ta chú ý đến 3 yếu tố quan trọng có
ảnh hưởng đến sinh trưởng là thành phần chất đáy, độ mặn và độ dốc của nền đáy.
Vùng thích hợp nhất cho nuôi sò là vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, đáy bùn mịn,
mềm được che chắn sóng và gần cửa sông, có độ mặn dao động từ 10 – 30
0
/
00
[35].
Tổng sản lượng vẹm trên thế giới tăng, năm 1950 là 164.000 tấn đến năm
2000 đã lên đến 1,6 triệu tấn. Với 84,7% tổng sản lượng vẹm là từ nuôi trồng và tổng
sản lượng vẹm tăng là do sản lượng nuôi trồng tăng (21,4% giai đoạn 1990 – 2000 và
33,4% ở giai đoạn 1990 – 1999). Các loài nuôi chính gồm Mytilis edulis (459.000
tấn), Mytilis galloprovinciali (117.000 tấn), Perna viridis (88.000 tấn) và Perna
canaliculus (76.000 tấn) [19].
Trong những năm qua, nghề nuôi vẹm bắt đầu được phát triển, kỹ thuật nuôi
đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước. Sản lượng vẹm đứng thứ hai sau sản lượng
hầu. Năng suất vẹm nuôi rất cao có thể đạt 85 kg/m
2
vẹm tươi cả vỏ. Ở châu Á, nghề
nuôi vẹm đang được quan tâm, đối tượng nuôi chính là loài Perna viridis, các nước
có nghề nuôi vẹm phát triển như: Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia, Malaisia,
Philippine, Singapo và Thái Lan.
Năm 2000, Trung Quốc dẫn đầu về sản lượng vẹm với 535.000 tấn, tiếp theo
là Tây Ban Nha (248.000 tấn), Italya (94.000 tấn), New Zealand (76.000 tấn), Pháp
(68.000 tấn) và Hà Lan (67.000 tấn) [19].
1.3.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Nguyễn Hữu Phụng và ctv (2001) cho biết vùng ven biển miền
Bắc (từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế), sản lượng hai loài sò A. granosa và A.
subcrenata đạt 2000 – 2200 tấn/năm. Vùng ven biển miền Trung (từ Đà Nẵng đến
nuôi vẹm trong túi treo thành giàn, nuôi vẹm bằng cọc ximăng, nuôi vẹm bằng cọc
gỗ, nuôi vẹm bằng tấm đanh xi măng [11].
Hà Lê Thị Lộc và cộng tác viên (2001) cho rằng ở miền Trung, nghề nuôi
vẹm xanh tập trung nhiều nhất ở đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) và đầm Nha Phu
(Khánh Hoà). Riêng ở khu vực đầm Lăng Cô diện tích nuôi vẹm tăng từ 200 m
2
(năm
1997) lên 5.370 m
2
(năm 2001) và sản lượng cũng tăng lên đáng kể từ 150 kg (năm
1997) đến 65.320 kg (năm 2001). Còn ở khu vực miền Bắc, tình hình nuôi vẹm
thường không tập trung, nghề nuôi vẹm có nhiều ở vùng ven biển khu vực Hải Phòng
và Quảng Ninh [11].
19
Bên cạnh những thành công ban đầu trong ứng dụng khả năng làm sạch môi
trường của động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở những mô hình nuôi ghép, nuôi kết hợp
giữa các loài thủy sản khác với động vật thân mềm hai mảnh vỏ đem lại. Tuy nhiên,
trên thực tế những mô hình này vẫn chưa được phát triển rộng rãi và một số mô hình
chưa thật sự phù hợp. Một trong những nguyên nhân là do chưa tìm hiểu hết đặc
điểm sinh học, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lọc thức ăn làm sạch môi trường
của động vật thân mềm hai mảnh vỏ nên chưa phát huy được tác dụng làm sạch môi
trường của các đối tượng này.
20
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu tổng quát của đề tài được tóm tắt qua hình 2.1
lọc tảo đơn bào ở các độ
mặn khác nhau
Thí nghiệm khả năng
lọc mùn bã hữu cơ ở
các độ mặn khác nhau
- Kiểm soát các yếu tố
môi trường: pH, nhiệt
độ,…
- Theo dõi tỷ lệ sống
- Kiểm soát các yếu tố
môi trường: pH, nhiệt
độ,…
- Theo dõi mật độ tảo
(tế bào/ml) - Kiểm soát các yếu tố môi
trường: pH, nhiệt độ,…
- Theo dõi: hàm lượng chất
lơ lững (mg/l), hàm lượng
Nitơ tổng,…
Phân tích và xử lý số liệu
Kết luận và đề xuất ý kiến
21
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758)
Sò lông Anadara antiquata (Linnaeus, 1758)
Vẹm xanh Perna viridis (Linnaeus, 1758)
kích thước này, chiều dài (L) được sử dụng làm tham số cho việc phân nhóm sò theo
kích thước.
- Cân khối lượng (đơn vị tính là g): Dùng cân điện tử có độ chính xác 0,1 mg
cân khối lượng toàn thân (W).
Thấm khô nước ở phía ngoài vỏ của sò huyết, sò lông và vẹm xanh để cân
chính xác W.
2.2.2.2 Xác định các thông số môi trường
Tiến hành 2 lần/ngày: buổi sáng từ 6-7 giờ, buổi chiều từ 14-15 giờ.
- Độ mặn: đo bằng khúc xạ kế Refractometer, độ chính xác 1
0
/
00
, pha độ mặn
theo quy tắc đường chéo.
- Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế có độ chính xác 1
0
C.
- pH nước: đo bằng bằng máy đo hiển thị số AD100.
- Hàm lượng oxi hòa tan: Đo bằng bộ test
2.2.2.3 Phân tích mẫu nước
Thu mẫu nước: Sục khí đều trong các xô, dùng pipet lấy nhanh 5 điểm,
khoảng 10 ml/điểm cho vào cốc thủy tinh.
Đo độ đục : Thông qua hàm lượng chất lơ lửng, đo bằng cách so màu quang
phổ, sử máy đo quang phổ DR 2010 ở bước sóng 810 nm, chương trình 630.
Xác định hàm lượng NH
3
: Bằng phương pháp so màu quang phổ, sử dụng
máy đo quang phổ DR 2010 ở bước sóng 655 nm chương trình 385.
Xác định hàm lượng Nitơ tổng số : Bằng phương pháp Kjeldahl
Nguyên tắc: Các dạng đạm hữu cơ bị oxy hóa bởi axit H
385.
23
Quá trình phân tích mẫu nước được tiến hành tại phòng môi trường, Viện
nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III.
2.2.2.4 Phương pháp kiểm tra mật độ tảo trên kính hiển vi
Lấy mẫu tảo: Dùng ống hút tảo lấy nhanh 5 điểm, khoảng 15ml/điểm cho vào
cốc thủy tinh, lắc đều mẫu tảo. Sau đó dùng ống hút nhỏ hút nhanh 1 giọt cho vào
buồng đếm để vài phút cho tảo ổn định sau đó dùng lamen đậy nhẹ nhàng, để lắng 1
lúc rồi đưa vào kính hiển vi để đếm. Các mẫu tảo chưa kiểm tra kịp sẽ được cố định
bằng Formol 4%, với nồng độ khoảng 45ppt và đếm sau.
Đếm tảo trên buồng đếm hồng cầu Neubauer bằng kính hiển vi ở vật kính 40.
Hình 2.2 (a) Buồng đếm hồng cầu Neubauer, (b) quy tắc đếm tảo
Cách đếm tảo: Trên buồng đếm hồng cầu Neubauer có hai khu vực để đếm
hồng cầu và đếm bạch cầu. Tảo được đếm ở khu vực dùng để đếm hồng cầu của
buồng đếm. Đếm tảo ở 5 ô, mỗi ô có diện tích 0,04 mm
2
(4 ô bốn góc và 1 ô ở giữa).
Khi đếm cần chú ý nguyên tắc thứ tự các ô được đếm theo đường ziczac. Trong mỗi
đến 35
0
/
00
(mỗi lô cách
nhau 5
0
/
00
), mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần.
Các thí nghiệm được thực hiện với sò huyết có kích cỡ từ 20 – 25 mm, cho 60
cá thể vào 40 lít nước. Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 4 tuần. Hằng ngày,
chúng tôi tiến hành đo các yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm như nhiệt độ,
pH, DO,… 2 lần 1 ngày và cung cấp thức ăn cho sò huyết là tảo, đồng thời thay nước
theo định kỳ. Theo dõi tỷ lệ sống của sò huyết ở các lô thí nghiệm. Kết quả thí
nghiệm được xác định bằng giá trị trung bình tỷ lệ sống của sò huyết ở mỗi thang độ
mặn, từ đó, xác định độ mặn thích hợp đối với sò huyết. Các lô thí nghiệm được sục
khí đều và liên tục.
2.3.1.2 Sò lông (A. antiquata)
Thí nghiệm được tiến hành tương tự thí nghiệm đối với sò huyết. Các thí
nghiệm được thực hiện với sò lông có kích cỡ từ 30 – 35 mm, mật độ sò lông 40
con/xô . Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 4 tuần, mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần.
Kết quả thí nghiệm được xác định bằng giá trị trung bình của sò lông ở mỗi thang độ
mặn. Từ đó xác định độ mặn thích hợp đối với sò lông. Thức ăn cung cấp cho sò lông
Độ mặn
10
0
/
00
Thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm đối với sò huyết và sò
lông. Vẹm xanh thí nghiệm có kích cỡ từ 50 – 60 mm, mật độ vẹm thả 40 cá thể
vẹm/xô. Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 4 tuần, mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần.
Kết quả thí nghiệm được xác định bằng giá trị trung bình tỷ lệ sống của vẹm xanh ở
mỗi thang độ mặn, từ đó xác định độ mặn thích hợp đối với vẹm xanh thí nghiệm.
Thức ăn cung cấp cho vẹm xanh là tảo.
2.3.2 Thí nghiệm về khả năng lọc tảo đơn bào Nannochloropsis oculata của sò
huyết, sò lông và vẹm xanh ở các độ mặn khác nhau
2.3.2.1 Thí nghiệm với sò huyết Ghi chú: ĐC: Nghiệm thức đối chứng không thả sò huyết
S1, S2, S3: các nghiệm thức thí nghiệm có thả sò huyết ở ba thang độ
mặn khác nhau
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm khả năng lọc tảo của sò huyết ở các độ mặn
khác nhau
Thí nghiệm được tiến hành với sò huyết ở 3 thang độ mặn khác nhau (độ mặn
cho tỷ lệ sống sò huyết thí nghiệm cao nhất ở thí nghiệm 2.3.1.1). Thí nghiệm được