BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
*********
PHAN VĂN XUÂN ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI LÊN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA QUẦN THỂ TẢO Thlassiosira sp. NHẬP NỘI VÀ THỬ
NGHIỆM NUÔI SINH KHỐI.
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 60.62.70 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ BÍCH MAI
Nha Trang, năm 2010
Nha Trang, năm 2010 iLỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ
Nhiệm Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản, Phòng Đào tạo sau Đại học, Phòng Khoa Học –
Công Nghệ, Phòng Quản Lý Thiết Bị, Phòng Thí Nghiệm Bộ Môn Cơ Sở Sinh Học
Nghề Cá, Ban Điều Hành Dự Án FSPSII – Chương Trình Hỗ Trợ ngành Thủy Sản
Giai Đoạn II, Hợp Phần SUDA đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cả vật chất lẫn
tinh thần để chúng tôi hoàn thành khóa học.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô hướng dẫn Khoa học:
TS. Hoàng Thị Bích Mai
Đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo đã tận tình giảng dạy, các bạn lớp
Cao Học Nuôi Trồng SUDA 2009 đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành khóa học.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Sở NN&PTNT, Chi cục Thú y Thừa Thiên Huế và
các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện và thường xuyên động viên tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu.
Xin cảm ơn trại sản xuất giống của Ông Dương Văn Minh (36/15 Phạm Văn
Đồng, Nha Trang) đã giúp đỡ về cơ sở vật chất, mặt bằng để tôi thực hiện nuôi sinh
khối tảo.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ, động viên của tất cả người
bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Phan Văn Xuân
iii
MỤC LỤC
iv
4.2. Nuôi liên tục (Continuous culture) 16
5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT VÀ ỨNG DỤNG VI TẢO LÀM THỨC ĂN
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN. 17
5.1. Trên thế giới 17
5.2. Trong nước 19
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2. 1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 22
2. 2. Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22
2.2.2. Chuẩn bị các dụng cụ thí nghiệm. 23
2.2.3. Các loại môi trường dinh dưỡng sử dụng trong thí nghiệm 24
2.2.4. Bố trí thí nghiệm 25
2.2.5. Phương pháp xác định các chỉ tiêu 29
2.2.6. Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường 30
2.2.7. Phương pháp xử lý số liệu 30
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên sự phát triển của tảo Thalassiosira sp. 31
3.1.1. Ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau lên phát triển của tảo Thalassiosira sp 31
3.1.2. Ảnh hưởng của mật độ ban đầu lên sự phát triển của tảo Thalassiosira sp 33
3.1.3. Ảnh hưởng của các môi trường dinh dưỡng lên sự phát triển của tảo Thalassiosira
sp. 36
3.1.4. Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng lên sự phát triển của tảo Thalassiosira sp. 38
3.2. Lưu giữ giống tảo Thalassiosira sp 41
3.2.1. Lưu giữ tảo giống trong môi trường nuôi lỏng. 41
3.2.2. Lưu giữ tảo giống trong môi trường nuôi bán lỏng 43
viDANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1: Hàm lượng 20:5(n-3) và 22:6(n-3) của một số loài tảo 14
Bảng 2. 1. Các thí nghiệm xác định môi trường dinh dưỡng và nhiệt độ lưu giữ thích
hợp đối với tảo Thalassiosira sp. trong dịch nuôi lỏng. 26
Bảng 2. 2. Các thí nghiệm xác định môi trường dinh dưỡng và nhiệt độ lưu giữ thích
hợp đối với tảo Thalassiosira sp. trong dịch nuôi bán lỏng. 26
Bảng 3. 1: Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển tảo Thalassiosira sp. 32
Bảng 3. 2: Ảnh hưởng của mật độ ban đầu lên sự phát triển tảo Thalassiosira sp 35
Bảng 3. 3: Ảnh hưởng của dinh dưỡng lên sự phát triển tảo Thalassiosira sp 37
Bảng 3. 4: Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng lên sự phát triển tảo Thalassiosira sp. 40
Bảng 3. 5: Phát triển của Thalssiosira sp. được đưa ra nuôi sinh khối sau khi lưu giữ
trong môi trường và nhiệt độ khác nhau trong dịch nuôi lỏng. 42
Bảng 3. 6: Phát triển của Thalssiosira sp. được đưa ra nuôi sinh khối sau khi lưu giữ
trong môi trường và nhiệt độ khác nhau trong dịch nuôi bán lỏng 44
Bảng 3. 7: Sự phát triển của tảo nuôi sinh khối sau khi lưu giữ trong khoảng thời gian
khác nhau ( 2 tuần và 4 tuần và 6 tuần ) 47
Bảng 3. 8: Sự phát triển của Thalassiosira sp. trong lô nuôi sinh khối thu hoạch toàn
bộ. 48
Bảng 3. 9: Sự phát triển của tảo Thalassosira sp. nuôi sinh khối bán liên tục ở các lô
Hình 3. 9: Sự phát triển của tảo Thalassosira sp. nuôi sinh khối bán liên tục ở các lô thu hoạch
20%, 40% và 60% 49
viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
mg/l: miligram/lít
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
g: gram
ppt: Phần ngàn
MĐCĐ: Mật độ cực đại
CĐAS: Cường độ ánh sáng
SPL: Sau pha loãng
Ctv: Cộng tác viên
N: Số lượng tế bào tảo
SE: Độ lệch chuẩn
MTL: Môi trường lỏng
cho thủy vực thông qua quá trình quang hợp. Trong các thủy vực tự nhiên, vi tảo là
mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng.
Hàm lượng dinh dưỡng của vi tảo biển rất cao (tính theo trọng lượng khô). Hàm
lượng Protein dao động từ 20 – 57%, hàm lượng Lipid từ 7 – 25%, hàm lượng
Carbonhydrat từ 5 – 32% và hàm lượng khoáng chất từ 6 – 39%.
Thành phần Amino Acid của vi tảo khá giống với Protein của trứng gà, có đầy
đủ Amino Acid cho cơ thể động vật.
Hàm lượng các Vitamin trong tảo biển rất phong phú. Đặc biệt các Vitamin E,
Vitamin C, Vitamin A, Vitamin B2, B6, Nicotinic acid. Trong vi tảo biển còn có rất
nhiều nguyên tố Ca, P, Na, K, Cl, Fe, Mg, Zn, Mn, Co, Cu (Brow và cộng sự, 1989)
[15].
Vi tảo biển là nguồn cung cấp acid béo cần thiết cho hệ động vật biển. Vi tảo có
khả năng tổng hợp các mạch acid béo không no nối đơn và nối đôi từ nguồn vật chất
vô cơ trong biển. Đặc biệt hai loại acid béo không no eicosapentaenoic (EPA: 20,5ω3)
và docosahexaenoic acid (DHA: 22, 6ω3). Tỷ lệ hai loại acid béo này (DHA/EPA)
quyết định đến sự hình thành các sắc tố của một số loài ấu trùng cá (Reitan và cộng sự,
1997) [59].
Nhờ những ưu điểm về giá trị dinh dưỡng trên mà Vi tảo được sử dụng để nuôi
sinh khối động vật phù du (bọn Chân mái chèo, Trùng bánh xe, Artemia…) dùng làm
thức ăn cho các giai đoạn hậu ấu trùng, giai đoạn con non của giáp xác và cá. Do đó, vi
tảo đóng vai trò trung tâm cung cấp nguồn dinh dưỡng cho sinh vật biển.
Mặt khác, vi tảo tác động lên quần xã hệ vi sinh vật của ao nuôi, thúc đẩy tốc độ
tăng trưởng, nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng của ấu trùng cá nuôi. Ngoài ra, vi tảo
còn làm ổn định môi trường, hấp thụ NH3, là sản phẩm thải của các đối tượng nuôi.
(Reitan và cộng sự, 1997) [59].
Ở Việt Nam, phong trào nuôi tôm Sú đang bị suy giảm mạnh do tình hình dịch
bệnh, ô nhiễm môi trường ngày càng bùng nổ. Điều này đã mở ra một triển vọng lớn
cho hoạt động nuôi các đối tượng thuỷ sản khác như: ốc hương, điệp, bào ngư, hải
sâm, cá biển và giáp xác Để nghề này phát triển bền vững trong tương lai, một trong
♦ Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kiểm chứng khả năng thích ứng của loài tảo vào nuôi khí ở
hậu Nha Trang – Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Ứng dụng vào việc lưu giữ, nhân giống và nuôi sinh khối để
phục vụ cho các trại sản xuất giống nhân tạo các loài động vật biển.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU LIÊN QUAN
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Vị trí phân loại [1]
Ngành Bacillariophyta
Lớp Bacillariophyceae
Bộ Centrales
Bộ phụ Discineae
Họ Thalassiosiraceae
Giống Thalassiosira
Loài Thalassiosira sp.
1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo của Thalassiosira sp. [1]
Thalassiosira.sp là một loại tảo khuê có dạng hình hộp, rất mỏng, có kích thước
trung bình từ 6 - 20µm x 8 -15 µm (vào mùa đông kích thước lớn hơn vào mùa hè).
Mặt vỏ hình chữ nhật và đường kính dài hơn trục vỏ tế bào. Đai vỏ không đều, mép
đai có 2 – 28 mấu nhỏ, một mấu có dạng hình môi để liên kết với tế bào bên cạnh.
Thường chỉ có duy nhất một gai ở mép và ở trung tâm. Gai ở mép thì dễ dàng nhìn
lợi chất nguyên sinh co lại tế bào tích trữ chất dự trữ, mất nước và hình thành 1 vỏ mới
dày cứng gồm 2 mảnh, đôi khi có thêm nhiều gai.
+ Hình thành bào tử sinh trưởng: Sau nhiều lần phân chia kích thước tế bào bị
nhỏ đi, tảo silic phải dùng hình thức này để khôi phục kích thước tế bào bằng cách nội
chất tế bào thoát ra, lớn lên và hình thành vỏ mới.
+ Sinh sản vô tính bằng động bào tử.
+ Sinh sản hữu tính theo kiểu tiếp hợp: Hai cá thể ở gần nhau tách nắp ra chất
nguyên sinh kết hợp với nhau tạo hợp tử. Sau đó phân chia giảm nhiễm tạo vỏ mới bao
bọc bên ngoài và thành cơ thể mới.
1.4. Phân bố
Tảo silic phân bố rất rộng trong môi truờng nước mặn, lợ, ngọt. Cũng gặp trên
đất đá, trong các thủy vực chúng có thể sống trôi nổi hoặc ở đáy. Số lượng loài ở đáy
nhiều hơn nhưng số lượng cá thể và sinh khối lại ít hơn so với các loài sống trôi nổi. Ở
các biển lạnh tảo silic phân bố nhiều hơn các biển ấm. Trong những hồ nước ngọt
trong suốt chúng có thể phân bố ở độ sâu 50-60 m còn trong nước biển khoảng 100-
350 m.
Riêng tảo Thalassiosira sp. thường sống trong môi trường nước mặn. Chúng
được nuôi để làm thức ăn cho nhiều ấu trùng động vật hải sản sống đáy như bào ngư,
ốc hương…
5
2. SỰ SINH TRƯỞNG CỦA TẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN
MÔI TRƯỜNG
sẽ chậm lại khi các chất dinh dưỡng, ánh sáng, độ pH, CO
2
, hoặc yếu tố sinh
hóa khác bắt đầu hạn chế sự sinh trưởng.
- Pha thứ tư là pha ổn định: sinh khối tảo không tăng và đạt mật độ cực
đại. Quá trình quang hợp và phân chia tế bào vẫn xảy ra trong suốt pha này,
nhưng số lượng tế bào mới sinh ra gần ngang bằng với số lượng tế bào chết đi.
Do đó, ở pha này không có sự tăng trưởng về số lượng tế bào.
- Pha thứ năm là pha tàn lụi : Trong pha cuối cùng, chất lượng nước xấu
đi và các chất dinh dưỡng cạn kiệt tới mức không thể duy trì được sự sinh
trưởng. Mật độ giảm nhanh và cuối cùng công việc nuôi bị dừng lại.
6
Hình 1. 1: Các pha phát triển của tảo nuôi.
7
yếu tố môi trường như: cường độ và chế độ ánh sáng; nhiệt độ; độ mặn; pH; mùa vụ;
các yếu tố dinh dưỡng; các hình dạng nuôi; mức độ xáo trộn và sục khí môi trường
nuôi [8]
2.2. Ảnh hưởng các yếu tố môi trường
2.2.1. Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến sự sinh trưởng và phát triển của vi
tảo. Đây là nguồn năng lượng chính cho quá trình quang hợp của tảo. Ánh sáng ảnh
hưởng đến vi tảo trên cơ sở chất lượng ánh sáng (phổ màu), cường độ ánh sáng và thời
gian chiếu sáng. Trong phòng thí nghiệm, nguồn ánh sáng phổ biến được dùng để nuôi
tảo là “ánh sáng lạnh” của đèn huỳnh quang (40 – 80 watts). Từ những thí nghiệm,
Kowallik (1987) (trích theo Harrison và cộng sự 1990) [36] cho rằng ánh sáng màu
xanh làm tăng hàm lượng protein của tảo, trong khi đó ánh sáng đỏ làm tăng hàm
lượng hydratecarbon.
Brand và Guillard (1981) (Trích từ Thinh. L.V.,1999)[72] khi nghiên cứu trên
22 loài tảo cho thấy có một số loài tảo không tăng trưởng trong điều kiện chiếu sáng
liên tục. Một số tăng trưởng tốt nhất ở chế độ 14 giờ chiếu sáng và 8 giờ tối trong ngày
đêm. Còn một số tăng trưởng rất tốt trong điều kiện chiếu sáng liên tục. Theo Guillard
(1975) [33], chỉ những loài vi tảo được nuôi làm thức ăn mới thích ứng trong điều kiện
chiếu sáng liên tục và ánh sáng khuếch tán chứ không phải ánh sáng mặt trời trực tiếp.
Lê Viễn Chí (1996) [2] cho rằng hầu hết các loài tảo sống trong môi trường ánh sáng
yếu (4.800 – 8.000 lux) và chu kỳ chiếu sáng ngày đêm (12/12). Vi tảo tăng trưởng tốt
nhất trong giới hạn cường độ ánh sáng từ 50 – 300µ mol s
C, tảo có thể chết (kể cả những loài tảo nhiệt đới) và nếu thấp hơn
16
o
C, tảo phát triển rất chậm. Nhiệt độ thích hợp cho hầu hết các loài tảo phát triển tốt
là 20 – 25
o
C.(Coutteau, 1996) [23]
Một số loài tăng trưởng nhanh hơn, tỷ lệ thuận với nhiệt độ, nhưng chúng sẽ đạt
đến pha cân bằng nhanh và sau đó tàn lụi nhanh chóng. Nhiệt độ cao còn gây tác động
ngược lên chất lượng dinh dưỡng của tảo nuôi. Nhiệt độ thấp hơn có thể ảnh hưởng
đến tăng trưởng của những sinh vật gây nhiễm tảo nuôi. Một số loài nguyên sinh động
vật và vi khuẩn tăng trưởng chậm ở nhiệt độ thấp. Điều này cho phép tảo được giữ lâu
ở pha logarit, để đạt tới mật độ thu hoạch trước khi bị nhiễm (Sato, 1991) [64]
Khi tiến hành nuôi tảo ngoài trời, cần lưu ý lựa chọn loài tảo có ngưỡng nhiệt
độ phù hợp với điều kiện địa lý vùng nuôi vì nhiệt độ phù hợp cho sự tăng trưởng tốt
hơn.
Nannochlorosis oculata tăng trưởng tốt nhất trong khoảng nhiệt độ nước từ 10
– 30
o
C. Ở nhiệt độ 10
o
C tảo sinh trưởng chậm lại (Jeffrey, Brown và Gakland, 1994)
[3737]
Thành phần sắc tố của Nannochlorosis oculata thay đổi theo nhiệt độ nước.
Hàm lượng chlorophyll a cao nhất ở 25
o
C , thấp nhất ở 18
o
C . Hàm lượng carotenoid
thay đổi không tương xứng với chlorophyll a, thấp nhất tại 25
có thể thấy rõ trong thực tế sản xuất. Khi độ mặn biến đổi đột ngột (do mưa nhiều hay
nắng hạn kéo dài) thì dẫn đến sự thay đổi thành phần cũng như số lương các loài vi tảo
trong thủy vực. Theo Jeffrey và ctv (1994) [37], các loài thích ứng độ mặn rộng (từ 7 –
35ppt) như Ch. Calcitrans, Pavlova lutheri…Một số loài vi tảo không thích độ mặn
thấp như Sketolema costatum (khoảng chịu đựng từ 14ppt đến 35ppt). Độ mặn thay đổi
làm thay đổi áp suất thẩm thấu của tế bào, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, hô hấp,
tốc độ tăng trưởng và sự tích lũy glucose (Lê Viễn Chí, 1994) [3]. Ngoài ra, độ mặn
còn ảnh hưởng đến thành phần sinh hóa và thành phần acid béo của tảo (Renaud và
ctv, 1991) [58]. Sự biến đổi của độ mặn chỉ ảnh hưởng nhẹ đến hàm lượng protein
tổng số, hydratecarbon, chlorophyll a. Khi độ mặn tăng, hàm lượng lipid tổng số tăng
rõ rệt trong khoảng độ mặn từ 10 – 15ppt. Độ mặn thay đổi dẫn đến thành phần acid
béo thay đổi. Thành phần acid béo của Nannochclorosis oculata đạt cao nhất ở độ mặn
35ppt. Độ mặn tốt nhất cho sản xuất Nannochclorosis oculata để có hàm lượng lipid
và EPA cao nhất là 20 -30ppt (Renaud và Parry, 1994) [56].
2.2.4. pH
pH của môi trường quá cao hay quá thấp đều làm chậm tốc độ tăng trưởng của
tảo nuôi. Mức dao động pH thuận lợi cho sự phát triển của hầu hết các loài tảo vào
khoảng 7- 9; tốt nhất từ 8,2 – 8,7 (Ukeles 1971; trích theo Fulks và main, 1991)
[28].Tuy nhiên, có những loài chịu được khoảng dao động pH khá rộng như Isochrysis
gabana có thể phát triển tốt trong khoảng dao động từ 5 đến 9 (Fulks và main,
1991)[28]. Loài Tetraselmis tetrahele phát triển tốt trong khoảng dao động của pH từ 8
– 10 (Okauchi, 1991) [51].
Sự biến đổi pH trong môi trường nuôi tảo phụ thuộc vào sự cân bằng sau:
HCO3
-
CO2 + OH
-
Trong quá trình quang hợp, tảo hấp thụ CO2 mạnh nên thường làm pH tăng lên
rất cao. Khắc phục phương pháp này bằng cách sục khí có bổ sung khí CO2 hoặc bổ
acid béo không no đa nối đôi và Glycolipids giảm với lipid phân cực (Suen và cộng sự
1987; trích theo Harrison và cộng sự 1990) [36]. Ni tơ giảm trong pha dừng của
Nannochclorosis oculata còn làm cho tỷ lệ carbon/ni tơ (C/N) trong tế bào tăng lên từ
6 đến 28. Tỷ lệ giữa Glutamin và Glutamate (Gln/Glu) cũng tăng từ 0,05 đến 28
(Flynn và cộng sự, 1993) [27].
Phốt pho là chất không thể thiếu đối với vi tảo vì phốt pho có tác dụng lên hệ
keo dưới dạng các ion. Phốt pho ở dạng vô cơ liên kết với các ion kim loại tạo nên hệ
đệm đảm bảo cho pH tế bào luôn xê dịch trong phạm vi nhất định (6 - 8), là điều kiện
tốt nhất cho hệ men hoạt động. Phốt pho tham gia vào cấu trúc tế bào, có vai trò quan
11
trọng trong những khâu chuyển hóa trung gian và có ý nghĩa then chốt trong trao đổi
năng lượng. Phốt pho được xem như là một yếu tố giới hạn trong sự phát triển của tảo.
Amphidinium và Staurastrum trong quá trình tăng trưởng, dự trữ pholyphosphat
trong môi trường giàu hàm lượng phốt pho (Sakhaug và cộng sự, 1983) [62]. Khi giảm
hàm lượng phốt pho trong môi trường nuôi Nannochclorosis oculata gây ra giảm
thành phần acid béo mạch dài đa nối đôi (Harrison và cộng sự, 1990) [36]. Do đó, khi
nuôi tảo cần bảo đảm tảo nuôi luôn luôn được phát triển trong điều kiện hàm lượng
phốt pho đầy đủ để có thể thu được số lượng cao nhất thành phần acid béo không no
đa nối đôi như 20: 5ω3 và 22: 6ω3.
Nhiều thí nghiệm trong nuôi tảo nước ngọt và tảo biển cho thấy rằng ở mức độ
dinh dưỡng cao hơn, đặc biệt là hàm lượng ni tơ và phốt pho có thể kéo dài tuổi thọ
của dịch tảo nuôi. Vấn đề này đã được thử nghiệm bởi Bischoff và Bold (1963) (trích
theo Sato, 1991) [64], ông đã duy trì được chu kỳ sinh trưởng của một số loài tảo nuôi
trong vài tháng mà không cần nuôi bổ sung.
Tăng hàm lượng ni tơ và phốt pho cao hơn trong môi trường Guillard F2 đã cải
ương nuôi trong phòng kín, sử dụng kỹ thuật vô trùng tương tự trong nuôi cấy vi
khuẩn cho tất cả các pha tăng trưởng của tảo như vô trùng tất cả các môi trường, các
thiết bị cần sử dụng trong quá trình nuôi cấy, san bình và thu hoạch tảo trong các ống
tuýp, các bình tam giác có thể hạn chế đến mức thấp nhất vấn đề ô nhiễm môi trường
nuôi. Cùng với sự vô trùng và tiệt trùng trên, dịch tảo nuôi còn được duy trì trong điều
kiện nhiệt độ thấp, ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn, nấm, động vật đơn bào (Sato,
1991) [64].
Trong hệ thống nuôi tảo ngoài trời, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi
vẫn còn tồn tại như bọn Trùng bánh xe, Chân mái chèo, Động vật đơn bào, ấu trùng
côn trùng và những loài tảo tạp phát triển không theo ý muốn do cấu trúc của hệ thống
hở (Gladue, 1991) [29]. Chúng thường gây ảnh hưởng đến năng suất tảo nuôi do cùng
cạnh tranh nguồn dinh dưỡng hoặc sử dụng tảo làm thức ăn. Do đó, để khắc phục tình
trạng này, nhiều nước đã sử dụng những túi ni lông trong suốt, kín miệng để nuôi tảo
ngoài trời như ở Hawaii (Gladue, 1991) [29], Singapore (Lim, 1991) ) [44], Thai lan
(Kongkeo, 1991) ) [41]…
Một trong những đặc diểm quan trọng của loài Nannochclorosis oculata là có
thể vượt qua được sự cạnh tranh của những loài tảo lây nhiễm và Động vật đơn bào do
tốc độ tăng trưởng nhanh. Nhưng Nannochclorosis oculata không dễ dàng lọc để loại
bỏ được động vật đơn bào như một số loài tảo có kích thước lớn hơn. Ngoài ra, một số
loài tảo có khả năng ức chế sự tăng trưởng của những sinh vật gây nhiễm do giải
phóng các thành phần “độc tố” (Sato, 1991) [64].
3. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA VI TẢO
Gía trị dinh dưỡng của những loài tảo khác nhau rõ rệt giữa các loài và ngay
giữa các dòng khác nhau cùng một loài (Enright và cộng sự 1986; Ryther và Goldman,
1975; trích theo Gladue, 1991) [29]. Sự khác nhau này có thể ảnh hưởng đến tăng
13
cộng sự (1997) [16], hàm lượng lipid của 40 loài vi tảo hiện nay đang được sử dụng
phổ biến trong nuôi trồng thủy sản dao động từ 7 – 23% trọng lượng khô.
Bacillariophyceae có hàm lượng lipid cao nhất với giá trị trung bình 18%;
14
Prymnesilophyta có hàm lượng 17% và ngành Eustigmatophyta có hàm lượng lipid đạt
13%.
Trong lipid, thành phần và hàm lượng acid béo quyết định đến giá trị dinh dưỡng của
tảo. Acid béo có giá trị dinh dưỡng nhất đối với các động vật nuôi là hai loại acid béo mạch
dài đa nôi đôi eicosapentaenoic acid (EPA) và docosahecxaenoic acid (DHA) (Volkman và
cộng tác viên, 1993) [75], (Reitan và cộng tác viên, 1997) [59].
Thành phần và hàm lượng acid béo thay đổi khác nhau tùy từng loài nuôi, các
điều kiên nuôi và phương pháp nuôi. Theo Watanabe và cộng tác viên (1983) [77],
thành phần acid béo đặc trưng của một số loài vi tảo chịu tác động mạnh của các yếu
tố môi trường, phương pháp nuôi và các giai đoạn thu hoạch. Phần trăm Nanochlorosis
tăng lên dưới điều kiện nhiệt độ thấp.
Bảng 1. 1: Hàm lượng 20:5(n-3) và 22:6(n-3) của một số loài tảo
(Brow và ctv, 1989) [15].
STT Loài 20:5(n-3) và 22:6(n-3)
(mg/ml tế bào)
1 Chaetoceros calcitrans 17,8
2 Pavlova lutheri 10,1
3 Thalassiosira pseudonama 7,2
4 Chromonas salina 3,9
5 Chaetoceros gracilis 3,2
hydratcarbon đóng vai trò quan trọng, với hàm lượng biến động từ 5 – 30% được coi là
loại thức ăn tốt.
Theo Thinh. L. V (1999) [72] hydratcarbon tổng số gồm đường polysaccharide
(chiếm 45 – 97%), monosaccharid, oligosaccharid. Những loại đường chủ yếu là
glucose, galactose, mannose và ribose. Trong đó đường glucose chiếm ưu thế, biến
động từ 21 – 87%.
Vi tảo có hàm lượng glucose cao (Pavlova lutheri, Skeletonema costatum) và
hàm lượng glucose thấp như Chaetoceros.sp được cho là thức ăn tốt cho nhiều loài
thủy sinh. Tuy nhiên, đối với giai đoạn tôm giống Penaneus japonicus thì thức ăn có
hàm lượng glucose cao không thích hợp do glucose hấp thụ nhanh vào máu làm tăng
hàm lượng đường trong máu. Ngược lại, disaccharide và polysaccharide được xem là
phù hợp hơn do quá trình tiêu hóa chậm dẫn đến thường xuyên thải ra một lượng
đường monosaccharide vào trong máu. Sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng có thể do
mức độ hấp thu nguồn hydratcarbon khác nhau.
3.4. Vitamin và khoáng chất
Những loại Vitamin chính thường gặp trong tảo nuôi gồm có Thiamin (Vitamin
B1), Riboflavin (B2), Pyridoxin (B6), Cyanocobalamin (B12), Biotin, Ascorbic acid
(C), Nicotinic acid, Patothenic acid, Choline, Inositol, Tocopherol (E) và Caroten
(Provitamin A) (Brown và cộng sự 1989) [15]. Hàm lượng Vitamin có trong mỗi loài