1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đã đặt nền kinh tế các nước trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng đứng trước nhiều cơ hội và nhiều thách thức.
Đặc biệt là sau 11 năm đàm phán Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ
150 của Tổ chức thương mại Thế Giới (WTO), điều đó đã đem lại cho Việt Nam
một sân chơi rộng lớn nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải đứng trước những thác
thức của sự cạnh tranh khốc liệt ít có sự bảo hộ của nhà nước khi chúng ta phải từng
bức thay đổi trong các chính sách, phương thức, luật pháp để từng bước hội nhập
với các nước trong tổ chức. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển được trong môi
trường đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải phát huy được mọi tiền năng sẵn có,
không ngừng hoàn thiện chính mình để năng cao thương hiệu của doanh nghiệp
không những trên thị trường trong nước mà vươn ra cả thị trường Quốc tế. Điều này
chỉ có thể được thực hiện khi các nhà quản lý có cái nhìn tổng quát về tình hình hoạt
động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình. Phân tích các báo cáo tài chính sẽ
giúp họ giải quyết được điều đó.
Hà tĩnh, một trong những tĩnh nghèo nhất của cả nước, quy mô của các
doanh nghiệp chủ yếu thuộc loại vừa và nhỏ có rất ít các doanh nghiệp lớp và các
doanh nghiệp lớn này cũng đang trong quá trình cổ phần hóa. Tổng công ty Khoáng
sản và Thương Mại Hà Tĩnh là một trong số các doanh nghiệp lớn như vậy trên địa
bàn tỉnh. Ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp là khai thác khoáng sản.
Tuy nhiên nguồn thiên nhiên này ngày càng cạn kiệt và doanh nghiệp cũng đang
trong từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh doanh sang cả lĩnh vực thương mại và dịch
vụ. Với sự chuyển đổi cơ cấu như vậy cùng với việc doanh nghiệp đang trong quá
trình cổ phần hóa thì việc nắm bắt tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động tài chính thông qua các báo cáo tài chính là việc làm không thể thiếu trong
công tác quản lý tài chính nhằm đưa ra những quyết định quan trọng về chiếc lược
sản xuất và kinh doanh một cách kịp thời và có hiệu quả.
2
3
- Phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích báo cáo
tài chính doanh các doanh nghiệp
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng phân tích báo các tài chính tại
Tổng công ty khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài
chính tại Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh cho phù hợp với điều
kiện của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Tổng công ty khoáng sản
và thương mại Hà Tĩnh.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính
tại Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, nhiệm vụ và vai trò phân tích báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.
Thông tin kế toán là một bộ phận quan trọng của thông tin thực hiện - mô tả
trạng thái thực tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã và
đang diễn ra, phản ánh mức độ đã đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch. Kế
toán ngày nay đã và đang trở thành một trong những công cụ đắc lực nhất cho các
nhà quản trị doanh nghiệp. Sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán số liệu là hệ
quyết định cho vay và các quyết định khác.
- Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin để cho chủ
doanh nghiệp và những người có nhu cầu sử dụng thông tin của doanh nghiệp trong
việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử
dụng có hiệu quả nhất tài sản, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn
chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự
kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh
nghiệp.
1.1.3 Vai trò của việc phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính là một nội dung chủ yếu, đặc trưng của việc phân
tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính, phân tích
cơ cấu, lựa chọn và quản lý nguồn vốn để ra các quyết định tài chính và các quyết định
đầu tư. Mặt khác, phân tích báo cáo tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin
của mọi đối tượng quan tâm đến những khía cạnh khác nhau về tình hình tài chính của
doanh nghiệp để phục vụ cho các mục đích riêng của mình cụ thể:
6
- Đối với các nhà quản trị thông qua việc phân tích các báo cáo tài chính để
để đánh giá đều đặn các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở hiện tại
và quá khứ như khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro…để từ đó giúp
họ định hướng, ra các quyết định như: Quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức,
cổ phần…. Mặt khác, phân tích báo cáo tài chính để làm cơ sở cho các dự báo tài
chính, kế hoạch đầu tư…
- Đối với chủ doanh nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính giúp họ đánh giá
hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành hoạt động của nhà quản
trị từ đó có quyết định sử dụng hoặc bãi nhiễm nhà quản trị, cũng như quyết định
phân phối kết quả kinh doanh.
- Đối với các chủ nợ: Thông qua phân tích báo cáo tài chính giúp họ đánh giá
được tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như khả năng sinh lời để
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01-DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02-DN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu B03-DN)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu B09-DN)
* Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01-DN)
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng hợp toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản có và nguồn hình thành tài sản tại một
thời điểm nhất định.
Nội dung của Bảng cân đối kế toán được thể hiện thông qua các hệ thống các
chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu được
phân loại, sắp xếp theo từng loại, từng mục, từng chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu được
mã hóa để thuận lợi cho việc kiểm tra, đối chiếu, xử lý trên máy vi tính và được
phản ánh theo số đầu năm, số cuối kỳ.
Thông qua Bảng cân đối kế toán có thể đánh giá được khái quát tình hình tài
chính của doanh nghiệp và phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động
nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài các chỉ tiêu trong bảng nó còn phản ánh các chỉ tiêu ngoài bảng như:
Tài sản thuê ngoài; vật tư, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công; nợ khó đòi đã xử
8
lý; ngoại tệ các loại… Đây là những chỉ tiêu phản ánh những tài sản tạm thời để ở
doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc một số chỉ
tiêu kinh tế đã được phản ánh ở các tài khoản trong bảng cân đối nhưng cần theo dõi
để phục vụ yêu cầu quản lý.
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02-DN)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh
tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp trong một kỳ kế
toán, bao gồm: các khoản phải thu, chi phí, kết quả của hoạt động bán hàng, cung
cấp dịch vụ, hoạt động tài chính…
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giúp cho các nhà quản lý có thể nắm
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, xem xét, đối
chiếu, so sánh các số liệu về tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính hiện
hành của doanh nghiệp với quá khứ. Mục tiêu cuối cùng của việc phân tích báo cáo
tài chính là đưa ra các quyết định. Để làm được điều đó thì người phân tích đã sử
dụng những phương pháp phân tích chủ yếu sau:
1.3.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là một phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích
bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Đây là
phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả, xác
định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phương pháp
này cần chú ý những vấn đề sau:
- Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu phân tích qua thời gian, cần
đảm bảo thỏa mãn các điều kiện so sánh sau đây:
+ Các chỉ tiêu so sánh phải thống nhất về nội dung của chỉ tiêu.
+ Phải thống nhất về phương pháp tính toán các chỉ tiêu.
+ Phải thống nhất về các đơn vị tính các chỉ tiêu (hiện vật, giá trị và thời
gian)
Nếu không đảm bảo các điều kiện trên thì việc so sánh sẽ trở nên khập
khiểng, không có giá trị và đôi khi còn phản ánh sai lệch thông tin.
10
- Cần phải có gốc để so sánh; việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục
đích cụ thể của phân tích.
+ Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu
(về mặt thời gian): có thể lựa chọn gốc để so sánh là trị số của các chỉ tiêu kỳ kế
hoạch, kỳ trước, số liệu dự toán, cùng kỳ này năm trước…
+ Khi đánh giá kết quả đạt được của Doanh nghiệp so với các đơn vị khác
(về mặt không gian): có thể lựa chọn số liệu của các đơn vị có điều kiện tương
đương, chọn tổng thể hay bộ phận của cùng tổng thể hoặc số liệu trung bình
ngành… để làm gốc so sánh.
Các trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước, kế hoạch, dự toán, cùng kỳ năm trước gọi
+ Dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố gọi là Phương pháp số
chênh lệch.
Cả hai phương pháp này đều được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.
* Phương pháp thay thế liên hoàn.
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp tiến hành lần lượt thay thế
từng nhân tố theo một trình tự nhất định. Nhân tố nào được thay thế nó sẽ xác định
mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích. Còn các chỉ tiêu chưa
được thay thế phải giữ nguyên kỳ kế hoạch, hoạch kỳ kinh doanh trước (gọi tắt là
kỳ gốc). Từ đó rút ra được nhận xét về ảnh hưởng của nhân tố thay thế đến chỉ tiêu
nghiên cứu. Cần chú ý rằng, có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu nhân
tố phải thay thế và cuối cùng tổng hợp sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đến sự
biến động của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc (bằng một phép
cộng đại số). Qua đó rút ra nhận xét, kết luận và đánh giá sự biến động của chỉ tiêu
nghiên cứu cũng như ảnh hưởng của các nhân tố.
Có thể khái quát mô hình chung của phương pháp này như sau:
Giả sử có đối tượng phân tích (đối tượng nghiên cứu) là Q và Q chịu ảnh
hưởng của các nhân tố a, b, c, d và các nhân tố này có quan hệ tích số với chỉ tiêu
cần phân tích Q => Q = a.b.c.d
12
Ta có:
Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích: Q
1
= a
1
. b
1
. c
1
. d
1
. b
0
. c
0
. d
0
- a
0
.b
0
.c
0
.d
0
Q
b
= a
1
.b
1
. c
0
. d
0
- a
1
. b
0
. c
1
.d
1
- a
1
. b
1
. c
1
. d
0
Cuôi cùng là tổng hợp.
Q = Q
a
+ Q
b
+ Q
c
+ Q
d
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
cần rút ra nhật xét, kết luận và kiến nghị giải pháp thiết thực nhằm không ngừng
nâng cao kết quả của chỉ tiêu phân tích.
* Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp
của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích nên trước hết phải biết được số lượng các
chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân
tích, từ đó xác định được công thức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố đó. Tiếp
Q
b
= (b
1
– b
0
). a
1
. c
0
. d
0
Q
c
= (c
1
– c
0
). a
1
. b
1
. d
0
Q
d
= (d
1
+ c
0
– d
0
Kỳ thực hiện: Q
1
=a
1
+ b
1
+ c
1
– d
1
Đối tượng phân tích:
- Số tuyệt đối: Q = Q
1
– Q
0
= (a
1
+ b
1
+ c
1
– d
1
) – (a
= c
1
– c
0
14
Q
d
= d
1
– d
0
Tổng hợp, phân tích và kiến nghị: Q = Q
a
+ Q
b
+ Q
c
+ Q
d
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
đến chỉ tiêu phân tích cần rút ra những nguyên nhân và kiến nghị những giải pháp
nhằm đưa các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở kỳ tiếp theo đạt
được những kết quả cao hơn.
1.3.5. Một số phương pháp khác
Ngoài các phương pháp trên, trong quá trình phân tích BCTC các nhà phân
tích còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp xác định giá trị theo
thời gian của tiền, phương pháp Dupont, phương pháp phân tích xu hướng.
* Phương pháp xác định giá trị theo thời gian của tiền: Cơ sở của phương
Sơ đồ 1.1: Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Theo phương pháp Dupont
- Các bước Trong Phương Pháp Dupont
+ Thu nhập số liệu kinh doanh (từ bộ phận tài chính)
+ Tính toán (sử dụng bảng tính)
+ Đưa ra kết luận
+ Nếu kết luận xem xét không chân thực, kiểm tra số liệu và tính toán lại
- Thế mạnh của Mô Hình Dupont
+ Tính đơn giản: Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người
kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty.
+ Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên.
+ Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài
bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều
Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản
Tỷ lệ lãi theo doanh
thu
Vòng quay của tài
sản
Lợi nhuận
thuần
Doanh thu
thuần
Doanh thu
thuần
Tổng tài sản
Doanh thu
thuần
Tổng chi
+ Thứ nhất, chọn một năm làm gốc.
+ Thứ hai, tính toán các khoản mục trên báo cáo tài chính của năm sau theo
phần trăm của khoản mục tương ứng ở năm gốc. Việc tính toán này được thực hiện
bằng cách chia khoản mục của năm sau cho khoản mục tương ứng của năm trước,
sau đó nhân với 100%.
* Hình thức kết hợp giữa phương pháp tỷ lệ và đồ thị: người ta thường nhận
thấy rằng “trăm nghe không bằng mắt thấy” và việc mô tả các kết quả phân tích
dưới dạng đồ thị thường rất hữu ích và xúc tích. Nếu ta chọn phương pháp này để
trình bày các kết quả thì tốt nhất là nên trình bày cả tiêu chuẩn ngành và xu thế trên
cùng một biểu đồ. Các tỷ lệ tài chính then chốt thường được nhóm lại thành bốn
loại chính (khả năng sinh lời, tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động, cơ cấu vốn), tuỳ
theo khía cạnh cụ thể về tình hình tài chính của công ty mà các tỷ lệ này muốn làm
rõ.
17
Trên đây là một số phương pháp cơ bản thường được sử dụng trong phân tích
báo cáo tài chính. Vì một nội dung cần phân tích có thể được phản ánh qua nhiều
chỉ tiêu nên các nhà phân tích có thể vận dụng phương pháp phân tích phù hợp với
nội dung và chỉ tiêu cần phân tích. Hoặc có thể kết hợp các phương pháp phân tích
để đưa ra những kết luận chính xác và từ đó có những quyết định đúng đắn và
chuẩn xác cho quá trình kinh doanh.
1.4. Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Tùy theo vị trí và mục đích sử dụng thông tin của người phân tích mà nội
dung phân tích báo cáo tài chính có thể không giống nhau giữa các nhóm phân tích
khác nhau. Sự khác nhau về mục đích phân tích cộng với sự khác nhau về khả năng
tiếp cận tài liệu dùng để phân tích khiến họ tiến hành phân tích báo cáo tài chính
dưới các góc độ khác nhau. Nhưng nhìn chung, phân tích báo cáo tài chính thường
bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.4.1. Phân tích cấu trúc tài chính
Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn
và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh
(%)
Số
tiền
(đ)
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
(đ)
Tỷ
trọng
(%)
1 2 3 4 5 6 7
A. Tài sản ngắn hạn
I. Tiền và tương đương tiền
II. Đầu tư tài chính ngắn hạn
III.Phải thu ngắn hạn
IV.Hàng tồn kho
V.Tài sản ngắn hạn khác
B.Tài sản dài hạn
I. Phải thu dài hạn
II. Tài sản cố định
III.Bất động sản đầu tư
IV.Đầu tư tài chính dài hạn
V.Tài sản dài hạn khác
Tổng tài sản
xây lắp, đóng tàu hay các doanh nghiệp thương mại mà hàng hóa là đối tượng kinh
doanh của doanh nghiệp thì tỷ trọng hàng tồn kho thường lớn; ngược lại, đối với
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì tỷ trọng hàng tồn kho thường thấp. Bên cạnh
20
đó khi phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong mối tương quan với tăng
trưởng doanh nghiệp.
- Về tài sản cố định.
Tỷ trọng tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản phụ thục vào ngành nghề
và lĩnh vực kinh doanh. Tỷ trọng này thường cao đối với các doanh nghiệp sản xuất,
nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao:
như công nghiệp thăm dò khai thác dầu khí (90%), ngành luyện kim (70%); trong
khi đó ngành công nghiệp thực phẩm chỉ chiếm khoảng (10%), hay ngành kinh
doanh thương mại, dịch vụ tỷ trọng này lại thấp, ngoại trừ trong kinh doanh khách
sạn và hoạt động vui chơi giả trí. Ngoài ra khi xem xét tỷ trọng của tài sản cố định
trong tổng tài sản các nhà phân tích cần liên hệ với tình hình đầu tư, phương pháp
khấu hao mà doanh nghiệp áp dụng và số liệu trung bình ngành để rút ra nhận xét
thích hợp.
Trong trường hợp thu thập đầy đủ số liệu, nên phân tích sự biến động về tỷ
trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua
nhiều thời kỳ, nhiều năm khác nhau, đồng thời có thể so sánh với cơ cấu chung của
ngành để việc đánh giá được toàn diện và hợp lý hơn.
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài
sản. Ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầu năm, cần phải xem xét từng
khoản vốn của doanh nghiệp chiếm trong tổng số tài sản, để thấy được mức độ đảm
bảo và xu hướng biến động của chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về mặt
tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ chủ động trong kinh doanh. Việc đánh
giá cơ cấu nguồn vốn phải dựa trên chính sách huy động vốn của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể, tính chất và ngành nghề
kinh doanh. Kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình
tiền
(đ)
Tỷ
trọng
(%)
1 2 3 4 5 6 7
A. Nợ phải trả
I. Nợ ngắn hạn
II. Nợ dài hạn
B. Vốn chủ sở hữu
I. Vốn chủ sở hữu
II. Nguồn kinh phí và quỹ khác
Tổng Nguồn vốn
Một số chỉ tiêu thường được sử dụng để thấy rõ hơn khả năng tự chủ về tài
chính của doanh nghiệp là:
- Hệ số tài trợ (Ratio of finance): Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tự
bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho
biết, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu trong tổng số nguồn vốn của doanh
22
nghiệp. Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính
và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
(1.3) - Hệ số tự tài trợ (Ratio of equity to non – current assets): Còn gọi là hệ số
vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn. Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vốn chủ
Do đó để giảm hệ số nợ so với tài sản, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp
để tăng hệ số tài trợ.
1.4.2. Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xem
xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản của doanh
nghiệp. Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh nghiệp. Do đó, khi
phân tích các nhà phân tích thường xem xét tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động
kinh doanh theo quan điểm luân chuyển vốn và tình hình bảo đảm vốn theo quan
điểm ổn định nguồn tài trợ cùng với cân bằng tài chính của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp đều cần phải có tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài
sản dài hạn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc bảo đảm đầy đủ nhu
cầu về tài sản hay vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một vấn đề then chốt
cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả.
Để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp cần phải có các biện pháp tài chính cần thiết để huy động và hình thành
nguồn vốn, từ nguồn vốn chủ sở hữu đến nguồn vốn vay hay chiếm dụng trong quá
trình thanh toán…
Dưới góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ nguồn vốn của doanh
nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời.
Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt
động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn. Còn nguồn tài trợ thường xuyên
là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt
động kinh doanh.
Dưới góc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức:
Tài sản NH + Tài sản DH = Nguồn tài trợ TX + Nguồn tài trợ tạm thời (1.7)
Phân tích dưới góc độ này sẽ giúp cho nhà quản lý biết được sự ổn định, bền
vững, cân đối và an toàn trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như
những nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính. Khi phân tích cân bằng
tài chính, cần so sánh tổng nhu cầu về tài sản với nguồn tài trợ thường xuyên. Nếu
24
Nguồn
Tài
Trợ
Thường
Xuyên
Tổng
Số
Nguồn
Tài
Trợ
Tài
Sản
Ngắn
Hạn
-Tiền và tương đương tiền
-Đầu tư tài chính ngắn hạn
-Phải thu ngắn hạn
-Hàng tồn kho
-Tài sản ngắn hạn khác
-Vay ngắn hạn
-Nợ ngắn hạn
-Chiếm dụng bất
hợp pháp
Nguồn
Tài
Trợ
Tạm
Thời
Từ đẳng thức cân bằng tài chính trên ta có thể biến đổi như sau:
dự trữ hàng tồn kho. Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng
thanh toán của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
- Trường hợp vốn hoạt động thuần = 0.
Trong trường hợp này, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp vừa đủ
để tài trợ cho tài sản dài hạn nên doanh nghiệp không phải huy động thêm ở nợ
ngắn hạn để bù đắp. Khi đó, cân bằng tài chính tương đối bền vững; tuy nhiên, tính
ổn định chưa cao, vẫn tồn tại nguy cơ rơi vào tình trạng mất cân bằng hay cân bằn
xấu vẫn tiềm tàng.
- Trường hợp vốn hoạt động thuần < 0.
Trong trường hợp này, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp không
đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên phần thiếu hụt doanh nghiệp phải huy động một
phần nợ ngắn hạn để bù đắp. Khi đó nếu cân bằng tài chính xảy ra thì doanh nghiệp
sẽ luôn trong tình trạng chịu áp lực nặng nề về thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân
thanh toán mất cân bằng. Như vậy, khi vốn hoạt động thuần càng nhỏ hơn 0, doanh
nghiệp càng khó khăn trong thanh toán ngắn hạn và có nguy cơ phá sản.