Tình hình thực tế về công tác tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả ở chi nhánh công ty bút bi thiên long hà nội - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, không một doanh nghiệp
sản xuất nào không quan tâm đến vấn đề hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá sản
xuất ra. Chỉ có tiêu thụ khi đó giá trị sử dụng của hàng hoá mới được thực hiện,
lao động của toàn bộ doanh nghiệp mới được thừa nhận. Có thực hiện quản lý
tốt hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp mới có điều kiện bù đắp chi
phí đã chi ra trong quá trình sản xuất - tiêu thụ, đảm bảo quá trình tái sản xuất
giản đơn và thực hiện giá trị của lao động thặng dư - thu lợi nhuận quyết định
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Là công cụ quan trọng và hiệu lực nhất để quản lý hoạt động sản xuất
kinh doanh, kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ hàng hoá nói riêng phải không
ngừng được hoàn thiện.
Chuyển đổi thành Công ty - có tư cánh pháp nhân - từ năm 1992, trong
điều kiện kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị cùng
ngành, để tồn tại và phát triển Công ty Bút Bi Thiên Long đã sớm tiếp cận với
những quy luật của nền kinh tế thị trường, quan tâm đẩy mạnh sản xuất, chú
trọng chất lượng sản phẩm, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ Song song với
những điều đó bộ phận kế toán của Công ty cũng từng bước phát triển, hoàn
thiện theo bề dày thời gian cũng như những biến đổi mới của hệ thống kế toán
Việt Nam.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Bút Bi Thiên Long, em đã đi sâu
nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả
của Công ty với đề tài:
" Kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tại Chi Nhánh Công
ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thiên Long"
Mục tiêu của bản chuyên đề là vận dụng lý luận về kế toán tiêu thụ hàng
hoá và xác định kết quả vào nghiên cứu thực tiễn ở Công ty Bút Bi Thiên Long,
từ đó phân tích những vấn đề còn tồn tại nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa
công tác kế toán tại Công ty.
1
Đề tài được trình bày với kết cấu gồm ba phần chính:

của doanh nghiệp thương mại. Tiêu thụ hàng hoá là việc chuyển quyền sở hữu
về hàng hoá lao vụ, dịch vụ từ doanh nghiệp này sang khách hàng khác và doanh
nghiệp thu được tiền hoặc quyền thu tiền .
Số tiền thu được từ hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp được
gọi là doanh thu bán hàng, ở doanh nghiệp áp dụng tính thuế giá trị giá tăng theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là giá trị thanh toán của số hàng
đã bán bao gồm cả thuế . Ngoài ra doanh thu bán hàng còn bao gồm các khoản
phụ thu như các khoản phí thu thêm ngoài giá bán, khoản trợ cấp trợ giá của nhà
nước khi doanh nghiệp thực hiện cung ứng hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu nhà
nước.
Để thực hiện mục đích kinh doanh của mình là thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của xã hội về hàng hoá dịch vụ và thu lợi nhuận sau mỗi chu kỳ kinh
doanh doanh nghiệp phải luôn tính toán, xác định chi phí bỏ ra và thu nhập thu
về, hay nói cách khác doanh nghiệp phải xác định được kết quả sản xuất kinh
doanh của mình, trong các doanh nghiệp thương mại đó chính là kết quả tiêu thụ
hàng hoá. Như vậy kết quả tiêu thụ hàng hoá là khoản chênh lệnh giữa doanh
3
thu bán hàng thu về với chi phí kinh doanh bỏ ra trong quá trình tiêu thụ hàng
hoá.
1.2 . Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong DNTM
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây với nét đặc trưng nổi bật là
từ việc sản xuất tới tiêu thụ hoàn toàn do nhà nước quyết định các doanh nghiệp
không cần quan tâm tới sản phẩm của mình sản xuất ra có được thị trường chấp
nhận hay không mà chỉ quan tâm đến sản xuất cái gì mình sẵn có. Theo chỉ tiêu
kế hoạch nước giao cho, doanh nghiệp không quan tâm tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh, lãi hay lỗ đã có nhà nước gánh chịu …Vì vậy mỗi doanh nghiệp
phải năng động nhạy bén thích nghi với môi trường kinh doanh với mục tiêu
hướng tới là thị trường, thị trường là xuất phát điểm, là đích để các doanh
nghiệp chinh phục và khai thác. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp phải làm
tốt công tác bán hàng, tiếp cận thị trừơng để tiêu thụ sản phẩm. Đối với các

hàng hoá tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ và xuất tiêu thụ và lượng dự trữ cần thiết để
có kế hoạch cung ứng kịp thời cho nhu cầu thị trường. Bộ phận quản lý hàng
hoá xuất bán phải thường xuyên đối chiếu với thủ kho về số lượng hàng hoá
luân chuyển cũng như như tồn kho.
- Về giá vốn của hàng xuất kho : Đây là toàn bộ chi phí cấu thành nên
hàng hoá và biểu hiện ở mặt giá trị hàng hoá. Đó là cơ sở xác định giá bán và
tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Vấn đề xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp thương mại
2.1. Các chỉ tiêu liên quan đến kết quả tiêu thụ:
Tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT, nội dung các chỉ tiêu liên
quan đến kết quả tiêu thụ có sự khác nhau. Đối với các doanh nghiệp tính thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ, các chỉ tiêu tạo nên kết quả tiêu thụ như
doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, các chi phí trong quá trình tiêu thụ sẽ
không có thuế GTGT đầu ra hoặc được khấu trừ.
- Ngược lại, đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp
trực tiếp thì các khoản chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và giá bán hàng
5
hóa là giá bán đã bao gồm cả thuế GTGT. Vì thế các chứng từ doanh thu bán
hàng, giảm giá, hàng bán trả lại đều bao gồm thuế GTGT đầu ra.
* Các chỉ tiêu liên quan đến việc xác định kết quả tiêu thụ.
- Doanh thu bán hàng: Là tổng giá trị được thực hiện do việc tiêu thụ hàng
hóa, sản phẩm cho khách hàng trong một thời gian nhất định. Doanh thu bán
bàng là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, trên các hợp đồng cung cấp hàng hóa,
sản phẩm.
- Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các
khoản giảm giá, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế TTĐB, thuế xuất
khẩu.
- Chiết khấu thanh toán: Là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho
khách hàngtrước thời hạn quy định.
+ Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền khấu trừ cho khách hàng (tiền

phân biệt doanh nghiệp đó thuộc loại hình kinh tế nào, lĩnh vực hoạt động hay
hình thức sở hữu đều phải sử dụng các loại công cụ quản lý khác nhau trong đó
kế toán là một công cụ hữu hiệu. Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, kế toán
được sử dụng như một công cụ đắc lực không thể thiếu đối với một doanh
nghiệp cũng như đối với sự quản lý vĩ mô của nhà nước .
Trong công tác quản lý hoạt động tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả ở
doanh nghiệp có vai trò kế toán rất quan trọng. Các thông tin kế toán đưa ra
không chỉ phục vụ cho công tác quản lý của bản thân doanh nghiệp mà còn phục
vụ cho công tác quản lý của nhiều đối tượng liên quan khác.
Để giữ vững vai trò công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả, kế toán tiêu thụ
hàng hoá và xác định kết quả cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể :
+ Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ra . Quản lý
chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng từ đó phát hiện và có biện pháp
xử lý kịp thời hàng hoá ứ đọng
7
+ Lựa chọn phương pháp xác định xác định giá vốn hàng xuất bán và tính
toán đúng giá trị hàng xuất bán, xác định chi phí bán hàng từ đó góp phần tính
toán xác định kết quả bán hàng đầy đủ chính xác
+ Kiểm tra phân tích tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng từ đó cung cấp
thông tin cho lãnh đạo về thực hiện tiến độ tiêu thụ hàng hoá để làm công tác lập
kế hoạch tiêu thụ hàng hoá cho kỳ sau
+ Đôn đốc quá trình thanh toán tiền hàng nhanh chóng khi cần, kiểm tra
tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng. Kiểm
tra tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
+ Phản ánh đầy đủ chính xác kịp thời khoản doanh thu theo từng loại hàng
hoá kinh doanh, phục vụ cho việc đánh giá phân tích hiệu quả kinh doanh và
kiểm tra tình hình thực hiện các chế độ thể lệ tài chính hiện hành
II. NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1. Các phương thức tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp thương

của doanh nghiệp nữa, hàng được coi là đã tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán vào
doanh thu. Việc thanh toán tiền hàng căn cứ trên hợp đồng đã ký. Chứng từ kế
toán áp dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn kiêm phiếu
xuất kho có chữ ký của người nhận hàng.
- Bán buôn không qua kho (giao thẳng hàng không qua kho): Đây là
trường hợp tiêu thụ hàng hoá không qua kho của doanh nghiệp. Bán buôn không
qua kho có hai hình thức thực hiện.
Bán buôn vận chuyển thẳng, không tham gia thanh toán: thực chất là hình
thức môi giới trung gian trong quan hệ mua bán.
Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: trường hợp này
doanh nghiệp phải tổ chức quá trình mua hàng, bán hàng, thanh toán tiền hàng
mua, tiền hàng đã bán với nhà cung cấp và khách hàng của doanh nghiệp.
b. Bán lẻ hàng hoá
9
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ. Hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Hàng
bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, thanh toán ngay và hình thức thanh toán
thường là tiền mặt nên không cần lập chứng từ cho từng lần bán.
Bán lẻ thu tiền trực tiếp là hình thức nhân viên bán hàng chịu trách nhiệm
vật chất về số lượng hàng bán tại quầy, trực tiếp thu tiền và giao hàng trực tiếp
cho khách hàng, đồng thời ghi chép vào thẻ quầy hàng. Thẻ quầy hàng có thể
mở cho từng loại mặt hàng, phản ánh cả về số lượng và giá trị. Cuối ngày nhân
viên bán hàng kiểm tiền bán hàng và kiểm kê hàng tồn trên quầy để xác định
lượng hàng đã bán trong ngày rồi sau đó lập báo cáo bán hàng. Tiền bán hàng
được nhân viên bán hàng kê vào giấy nộp tiền cho thủ quỹ hoặc cho ngân hàng (
nếu được uỷ quyền ). Báo cáo bán hàng là căn cứ để tính doanh thu và đối chiếu
với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền
1.2 Phương thức bán hàng đại lý , ký gửi :
Là phương thức mà bên chủ hàng ( gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho
bên nhận đại lý ký gửi ( gọi là bên đại lý) để bán. Bên đại lý sẽ được nhận hoa

+ Hàng hoá nhập kho do mua ngoài nhập kho được đánh giá theo tổng chi
phí thực tế (nguyên tắc giá phí thực tế để có hàng hoá bao gồm: trị giá mua ( giá
bán không có thuế GTGT-đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế), chi phí vận chuyển bao gói, thuế nhập khẩu )
- Đánh giá hàng hoá xuất kho
Việc tính toán xác định giá trị thực tế hàng hoá xuất kho có thể áp dụng
một trong các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp giá trị thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá trị thực
tế hàng hoá xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế hàng hoá nhập kho từng
lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.
+ Phương pháp thực tế bình quân: theo phương pháp này giá trị thực tế
hàng hoá xuất kho được tính theo đơn giá bình quân và số lượng hàng hoá xuất
kho.
Công thức:
11
Giá trị hàng hoá thực tế
xuất kho
=
Số lượng hàng
hoá xuất kho
*
Đơn giá bình
quân
Trong đó:
Giá bình quân được xác định theo một trong ba phương pháp
Giá đơn vị bình quân
cả kỳ dự trữ
=
Trị giá thực tế hàng hoá
tồn đầu kỳ

- Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước bộc lộ những nhược
điểm khi thị trường biến động. Giá cả kỳ này tăng (hoặc giảm) đột biến với kỳ
trước thì không ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa bán trong kỳ mà ảnh hưởng trị
giá hàng hóa tồn kho cuối kỳ, tức là gây tác động đến kỳ sau. Nếu giá cuối kỳ
trước rất cao so với kỳ này thì việc áp dụng phương pháp giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trước tỏ ra không hợp lý. Tuy nhiên phương pháp này cũng có ưu điểm
là khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động hàng hóa trong kỳ.
- Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: khắc phục được
nhược điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác vừa cập nhật kịp thời.
Nhược điểm của phương pháp này tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
- Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của
từng lần nhập, sau đó căn cứ vào số lượng xuất tính giá trị thực tế xuất kho theo
12
nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối với số lượng xuất kho thuộc
lần nhập trước, số còn lại (tổng số xuất, số nhập của lần nhập trước) được tính
theo đơn giá thực tế của lần nhập sau. Như vậy giá thực tế hàng hóa tồn kho
cuối kỳ chính là giá trị thực tế của hàng hóa nhập kho thuộc lần nhập sau cùng.
+ Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, cần xác định đơn giá từng lần nhập. Khi xuất sẽ
căn cứ vào từng số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho cuối cùng, sau đó lần
lượt đến các lần nhập trước để tính giá trị thực tế hàng hóa xuất kho. Như vậy
giá trị thực tế hàng hóa tồn kho cuối kỳ là quá trình thực tế tính theo đơn giá lần
nhập đầu kỳ.
* Đánh giá hàng hóa theo giá hạch toán:
Việc đánh giá trị giá thực tế đôi khi không đáp ứng được yêu cầu kịp thời
của công tác kế toán, bởi vì giá thành sản xuất thực tế thường cuối kỳ hạch toán
mới xác định được mà việc nhập, xuất hàng hóa lại diễn ra thường xuyên, liên
tục. Do đó người ta còn sử dụng giá trị hạch toán để ghi chép kịp trị giá hàng
hóa nhập, xuất.

kiểm tra tính cần thiết và tính hợp pháp của chứng từ. Các chứng từ sử dụng
trong kế toán hàng hoá là:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Hoá đơn kiêm vận chuyển nội bộ.
- Thẻ kho
- Biên bản kiểm kê
Các chứng từ này phải được luân chuyển đến bộ phận kế toán đúng thời
hạn, chính xác và đầy đủ. Căn cứ vào đó kế toán kiểm tra tính hợp pháp và tiến
hành phân loại, tổng hợp ghi sổ kế toán thích hợp.
3.2 . Kế toán chi tiết hàng hoá
Kế toán chi tiết hàng hoá là việc ghi chép số liệu luân chuyển chứng từ
giữa kho và phòng kế toán trên các chỉ tiêu số lượng, giá trị hàng hoá theo từng
thứ, từng loại, từng kho hàng hoá, từng thủ kho
Tuỳ đặc điểm sản xuất và công tác kế toán ở mỗi doanh nghiệp mà kế
toán chi tiết hàng hoá được tiến hành theo một trong những phương pháp sau:
* Phương pháp ghi thẻ song song
- Ở kho: hàng ngày khi nhận được các chứng từ nhập-xuất kho hàng hoá,
thủ kho phải kiểm tra tính hợp pháp rồi tiến hành ghi chép thực nhập, thực xuất
vào thẻ kho theo chỉ tiêu số lượng mỗi chứng từ ghi vào thẻ kho một dòng. Định
14
kỳ thủ kho gửi (hay kế toán xuống lấy) toàn bộ chứng từ nhập, chứng từ xuất
hàng hoá đã được phân loại. Cuối kì tiến hành tổng cộng trên thẻ kho.
- Ở phòng kế toán: Khi nhận được các chứng từ nhập, các chứng từ xuất
hàng hoá do thủ kho gửi lên, kế toán tiến hành ghi sổ kế toán chi tiết hàng hoá
theo cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối kì hạch toán kế toán tiến hành đối
chiếu giữa số liệu trên sổ thẻ kho với sổ kế toán chi tiết hàng hoá đã được tổng
cộng trên cột hiện vật (số lượng) số liệu phải khớp nhau. Ngoài ra để có sự theo
dõi chặt chẽ hơn kế toán mở bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá.
Nội dung trình tự kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song được

16
Bảng kê tổng
hợp N-X-T
h ng hoáà
Thẻ kho
Chứng từ xuất
Bảng kê nhập Bảng kê xuất
Chứng từ
nhập
:Ghi hàng ngày
:Ghi cuối kỳ
:Quan hệ đối chiếu
Nghiên cứu phương pháp này ta thấy :
Ưu điểm : Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt( chỉ ghi 1 lần
vào cuối tháng.
Nhược điểm : Việc ghi chép vẫn còn trùng lặp, việc kiểm tra đối chiếu
giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành vào cuối tháng nên vẫn hạn chế kiểm
tra trong công tác quản lý.
Phạm vi áp dụng : Thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất không có
nhiều nghiệp vụ nhập xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết hàng
hoá và không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày.
* Phương pháp sổ số dư :
- Ở kho : Thủ kho cũng sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập-xuất-
tồn kho hàng hoá về mặt số lượng, định kỳ gửi các chứng từ nhập, chứng từ xuất
lên phòng kế toán. Sổ số dư là do thủ kho nhận được từ kế toán vào đầu tháng,
gồm cả chỉ tiêu số lượng và giá trị.
- Ở phòng kế toán : Đầu tháng kế toán mở sổ số dư theo từng kho, dùng
cho cả năm gửi cho thủ kho. Sau đó căn cứ vào các chứng từ nhập, chứng từ
xuất lập bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng luỹ kế nhập, bảng luỹ kế xuất. Lập
bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá theo từng loại hàng hoá, theo chỉ

18
Bảng luỹ kế nhập
Bảng luỹ kế xuất
Sổ số dư
Bảng kê tổng hợp
N - X - T
hàng hoá
+ Tài khoản 156 “Hàng hoá”: Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động các loại hàng hoá trong doanh nghiệp
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ làm tăng hàng hoá, mua, biếu tặng
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ làm giảm hàng hoá xuất kho, xuất bán
Số dư bên nợ: Phản ánh hàng hoá tồn kho cuối kỳ
+ Tài khoản 157 “Hàng gửi bán”:
Tài khoản này được sử dụng để theo dõi giá trị sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ
theo phương thức chuyển thẳng hoặc giá trị sản phẩm, hàng hóa bán, đại lý, ký
gửi hay giá trị dịch vụ đã hoàn thành giao cho bên đặt hàng, bên mua nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán. Số hàng hóa, sản phẩm này vẫn thuộc quyền
sở hữu của đơn vị tài khoản này được mở chi tiết theo từng mặt hàng.
Bên nợ: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ gửi bán
Bên có: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ được khách hàng chấp
nhận thanh toán
Giá trị hàng gửi bán bị từ chối, trả lại
Số dư: gía trị hàng gửi bán bị từ chối hoặc trả lại
+ TK 511 - Doanh thua bán hàng:
TK 511 được dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế của
doan nghiệp và các khoản khấu trừ doanh thu. từ đó, tính ra doanh thu thuần về
việc tiêu thụ trong kỳ.
Bên nợ: Số thuế phải nộp ( thuế dịch vụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) tính trên
doanh số bán trong kỳ
Bên có: Giá bán hàng hoá doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao

TK không có số dư
+ TK 632 - Giá vốn hàng bán:
Dùng để theo dõi trị giá vốn của hàng hóa, sản phẩm xuất bán trong kỳ. Giá
vốn hàng bán có thể là giá thành công xưởng thực tế của sản phẩm.
Bên nợ: Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp
theo háo đơn.
20
Bên có: Kết chuyển giá vốn hàng hoá tiêu thụ trong kỳ và tài khoản xác
định kết quả
TK này không có số dư
+ TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp:
Phản ánh thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại, số thuế
GTGT của đầu vào được khấu trừ, thuế GTGT được miễn giảm và thuế GTGT
phải nộp.
21
Sơ đồ 4 :Hạch toán tổng hợp tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp
thương mại (theo phương pháp kê khai thường xuyên)
22
TK157,632
TK154
TK412
TK642,3381
TK138
TK157,632
TK412
TK128,222
TK156
sản xuất ( hoặc thuế
ngo ià


Bút toán 2: Ghi giá trị mua thực tế của hàng tiêu thụ
Nợ TK 632: Tập hợp giá trị mua thực tế của hàng bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua thực tế của hàng bán.
Bút toán 3: Bao bì tính riêng và các khoản chi hộ cho người mua (nếu có).
Nợ TK 138 ( 1388): Phải thu khác.
Có TK liên quan 153, 111, 112, 331
Số thuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp về hàng đã bán (nếu có) ghi:
Nợ TK 511 (5111): Ghi giảm doanh thu tieue thụ
Có TK 3332: Số thuế TTĐB phải nộp.
Có TK 3333: Số thuế xuất khẩu phải nộp
23
* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển
hàng: Khi xuất kho hàng hóa chuyển cho bên mua, kế toán ghi nhận trị giá vốn
của hàng xuất bán.
Nợ TK 157: Trị giá mua hàng gửi bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua của hàng xuất kho.
Giá trị bao bì đi kèm hàng hóa có tính giá riêng, ghi:
Nợ TK 138 (1388): Trị giá bao bì đi kèm theo hàng hóa.
Có TK 153 (1532): Trị giá bao bì theo giá xuất kho.
Khi hàng hóa được chuyển cho bên mua kiểm nhận, chấp nhận thanh toán
hoặc thanh toán, kế toán ghi:
Bút toán 1: Ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng bán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế:
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng chưa có thuế GTGT
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
đối với đối tượng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thành toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theotổng giá thanh toán

Có TK liên quan 331, 111, 112, 311: Tổng giá thanh toán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hay đối
với các đối tượng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế theo tổng giá thanh toán.
Có TK 111, 112, 331, 311: Tổng giá thanh toán
* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán
theo hình thức chuyển hàng theo hợp đồng.
Trước hết kế toán ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng mua chuyển đo
cho bên mua bằng bút toán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
Nợ TK 157: Trị giá mua thực tế không có thuế GTGT.
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ.
25

Trích đoạn THỰC TẾ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ Ở CÔNG TY BÚT BI THIÊN LONG: HẠCH TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY BÚT BI THIÊN LONG ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN HÀNG HOÁ VÀ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ Ở CHI NHÁNH CÔNG TY BÚT BI THIÊN LONG.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status