NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH
DOANH Ở CÔNG TY DƯỢC LIỆU TW I
I. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÔNG TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
KINH DOANH Ở CÔNG TY DƯỢC LIỆU TW - I.
1. Nhận xét chung.
Công ty Dược liệu TW - I là một đơn vị kinh doanh thương mại, hoạt động
trong nền kinh tế thị trường không còn chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập
trung quan liên bao cấp kìm hãm. Vì vậy, Công ty có điều kiện tiếp cận với những
quy luật của nền kinh tế thị trường và vận dụng nó một cách linh hoạt vào sự vận
động, kinh doanh, tồn tại và phát triển của Công ty mình. Bên cạnh đó thì thị
trường thuốc trên thế giới nói chung và trong nước nói riêng như hiện nay không
còn là thị trường độc quyền của Công ty như một số năm về trước nữa, nhiều hãng
sản xuất thuốc nổi tiếng trên thị trường thế giới có tiềm lực mạnh, có uy tín cao và
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh lâu năm đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam.
Nhưng Công ty Dược liệu TW - I vẫn tồn tại và phát triển không ngừng.
Từ một Công ty chỉ chuyên kinh doanh các mặt hàng thuốc nam, thuốc bắc
với trang thiết bị thô sơ, Công ty Dược liệu TW - I đã phát triển không ngừng. Cho
đến nay, Công ty đã có 3 xưởng sản xuất có quy mô công nghiệp và hiện đại. Đặc
biệt là đến năm nay Công ty đã đầu tư nâng cấp xưởng sản xuất thuốc viên đạt tiêu
chuẩn quốc tế (G.M.P). Nhờ đó mà đời sống của người công nhân ngày càng được
cải thiện và ổn định, điều này được thể hiện rõ qua kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh năm 1998, 1999 và vào những tháng đầu năm 2000.
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp Nhà nước không tồn tại
được vì phải tự chủ về kinh doanh, tự chủ về tài chính. Nhìn nhận được vấn đề này,
Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra nhiều giải pháp kinh tế có hiệu quả cao nhằm khắc
phục mọi khó khăn để hoà nhịp với nền kinh tế thị trường. Hiện nay Công ty quan
tâm hàng đầu đến chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn hiệu quả đến người tiêu
dùng, từng bước nâng cao uy tín trên thị trường.
Để đạt được hiệu quả như trên, nhất là trong điều kiện thị trường cạnh tranh
gay gắt thì phải nói đến sự quản lý tài tình của Ban lãnh đạo của Công ty cùng với
toán vẫn phải phản ánh giá vốn hàng xuất tương tự như hàng xuất thông thường.
Nợ TK 632
Có TK 155
Như vậy là chưa hợp lý bởi xuất hàng tronảngường hợp này không mang lại
doanh thu cho doanh nghiệp.
Thứ hai: Về hạch toán chi tiết hàng tồn kho xuất cho các cửa hàng bán lẻ
vẫn coi nằm trong kho chỉ khi nào xác định là tiêu thụ thì mới ghi thẻ kho. Như
vậy phản ánh không chính xác số lượng hàng hoá tồn kho, mà số lượng hàng hoá
này chỉ còn giá trị trên sổ sách. Do đó Công ty cần mở sổ (thẻ) theo dõi riêng cho
trường hợp này.
Thứ ba: Về phương thức thanh toán. Hiện nay các khách hàng của Công ty
đều thanh toán theo phương thức trả chậm, thanh toán sau 15 ngày nhưng thực tế
khách hàng đều thanh tiền hành sau 20 ngày có khi đến 1 tháng. Điều này dẫn đến
Công ty bị chiếm dụng vốn hợp pháp. Công ty phải trả lãi tiền vay ngân hàng,
khách hàng chiếm dụng vốn của Công ty không phải trả phần lãi tiền vay này, dẫn
đến lợi nhuận của hoạt động kinh doanh của Công ty bị giảm.
Thứ tư: Thời gian báo cáo bán hàng của các nhân viên bán hàng tại các cửa
hàng bán lẻ không theo một quy định thống nhất nào mà ai làm xong trước thì nộp
trước, ai làm xong sau thì nộp sau dẫn đến kế toán bán hàng đôi khi bị thiếu hụt
thông tin làm chậm tiến độ xác định kết quả kinh doanh của phòng kế toán - tài vụ.
Thứ năm: Về chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty, chi phí này chiếm khoảng 75% trong tổng chi phí kinh doanh
toàn Công ty tương ứng với khoảng 70 triệu đồng. Đây là một con số không nhỏ.
Công ty nên nghiên cứu cần tìm ra phương thức mới để tiết kiệm chi phí, tăng lợi
nhuận.
Thứ sáu: Hình thức Nhật ký - Chứng từ có sửa đổi của Công ty vẫn còn chỗ
chưa hợp lý biểu hiện:
- Ghi trùng lặp giữa bảng kê xuất, sổ chi tiết thành phẩm và bảng kê tiêu thụ.
- Chưa sử dụng các sổ chi tiết, sổ cái theo mẫu quy định.
Tóm lại: Để nâng cao hiệu quả công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá và xác
phí để đẩy mạnh công tác tiêu thụ hàng hoá, mở rộng thị trường nên kế toán phải
tính vào chi phí bán hàng và nên hạch toán như sau:
Nợ TK 641
Có TK 155
Ý kiến 2: Yêu cầu mở sổ (thẻ) theo dõi.
Công ty nên mở sổ (thẻ) theo dõi riêng cho hàng xuất cho cửa hàng bán
lẻ, vì giá trị hiện vật không còn trong kho nhưng thẻ kho vẫn phải theo dõi về
mặt hiện vật nên hạch toán chi tiết hàng tồn kho trong trường hợp này là không
chính xác.
Ý kiến 3: Đẩy mạnh biện pháp hạch toán.
Về phương thức thanh toán. Trong cơ chế thị trường như hiện nay, vốn là
một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều
quan tâm đến việc bảo toàn vốn, quay vòng vốn nhanh để sử dụng tối đa hiệu quả
của đồng vốn. Đối với Công ty Dược liệu TW - I số vốn vay chiếm tới 60% vốn
kinh doanh, hàng năm Công ty phải trả lãi tương đối lớn, do đó dẫn tới chi phí tăng
lên đáng kể.
Với phương thức thanh toán của khách hàng với Công ty như hiện nay hầu
hết là trả chậm thường là 15 ngày nhưng có khi đến 20 ÷ 30 ngày khách hàng mới
thanh toán. Như vậy Công ty bị lỗ khoản lãi tiền vay trả cho ngân hàng do bị khách
hàng chiếm dụng vốn. Do vậy, Công ty cần đẩy mạnh công tác thu hồi nhanh số
tiền nợ. Đối với khách hàng gần đến hạn phải trả tiền, Công ty nên gửi giấy báo
yêu cầu trả tiền trước khi đến hạn 2-3 ngày để nhắc nhở khách hàng thanh toán
đúng hạn, hoặc có thể gửi thông báo yêu cầu thanh toán có tính lãi suất tiền vay
trên số tiền trả chậm quá hạn trả theo lãi suất quá hạn do ngân hàng quy định (Điều
này có thể ghi rõ trong hợp đồng kinh tế).
Ý kiến 4: Thống nhất thời gian nộp báo cáo của các cửa hàng bán lẻ.