LỜI MỞ ĐẦU
Nghèo là vấn đề quan trọng của Việt Nam trong định hướng Xã hội Chủ
nghĩa, nghiên cứu về nghèo đói giúp các nhà làm chính sách có cơ sở để ra
các quyết định về phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như XĐGN
nói riêng. Do đó, yêu cầu bức thiết là phải có thêm nhiều nghiên cứu nghèo
đói ở cấp vùng và cấp địa phương với nhiều cách tiếp cận khác nhau kể cả
định tính và định lượng. Thực hiện nhiều nghiên cứu hơn với những thông
tin chi tiết hơn, chính xác hơn sẽ là bước đầu tiên quan trọng trong mọi
chiến lược phát triển ở Việt Nam.
Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu Các nhân
tố tác động đến nghèo đói ở vùng ven biển ĐBSCL giai đoạn 2003-2004
nhằm xác định các nhân tố chủ yếu (mang tính đặc trưng) ảnh hưởng đến
xác suất rơi vào nghèo đói của hộ gia đình, từ đó gợi ý chính sách XĐGN
cho Vùng.
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Vấn đề nghiên cứu
Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ
58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, tương đương 24 triệu người đã thoát
nghèo sau 11 năm. Nếu so với Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc là
giảm tỷ lệ nghèo đói xuống còn một nửa trong giai đoạn dài hơn là 1990-2015 thì quả là
một thành tích đặc biệt. Thế nhưng Việt Nam đang là nước có thu nhập bình quân đầu
người thấp, năm 2004 là 550 USD/người (GSO, 2004) và thoát khỏi nghèo đói vẫn còn là
giấc mơ của hàng triệu người dân. Đại bộ phận dân cư có mức thu nhập chỉ trên ngưỡng
nghèo chút ít nên rất dễ bị tái nghèo nếu có những chấn động kinh tế từ bên ngoài (Báo
cáo cập nhật nghèo, 2006).
Theo GSO (2004), hơn 90% người nghèo sống và làm việc ở nông thôn và 45% dân nông
Gợi ý chính sách xóa đói giảm nghèo cho Vùng.
1.3 Các giả thuyết nghiên cứu
Khi nghiên cứu về tình trạng nghèo đói của hộ gia đình vùng ven biển ĐBSCL, chúng tôi
giả thuyết rằng nhóm nhân tố kinh tế, xã hội sau sẽ tác động đến xác suất nghèo đói của
hộ:
Nhóm các đặc điểm của hộ gia đình:
• Điều kiện kinh tế của hộ bao gồm tình trạng việc làm của hộ (có việc làm hay thất
nghiệp), loại ngành nghề (nông nghiệp hay phi nông nghiệp);
• Quan hệ xã hội của hộ thể hiện qua trình độ giáo dục phổ thông (số năm đi học,
bằng cấp cao nhất của chủ hộ…); thuộc nhóm dân tộc thiểu số hay không; chủ hộ
là nam hay nữ… -3-
Nhóm các nhân tố có liên quan đến vai trò Chính phủ:
• Khả năng tiếp cận hạ tầng cơ sở như đường giao thông, trường học, cơ sở y tế…
• Phân bổ đất canh tác, hệ thống tín dụng chính thức ở nông thôn.
Nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích các nhân tố trên và kiểm định tác động của từng
nhân tố đến xác suất rơi vào nghèo đói của hộ.
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các huyện ven biển ở vùng ĐBSCL.
Đơn vị nghiên cứu là các hộ dân cư sống ở vùng ven biển ĐBSCL.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng: xây dựng mô hình kinh tế lượng xác định những nhân tố
kinh tế, xã hội chủ yếu tác động đến xác suất rơi vào ngưỡng nghèo của hộ gia đình.
Phương pháp thống kê mô tả kết hợp với so sánh và tổng hợp dữ liệu sơ và thứ cấp.
1.6 Đề tài có kết cấu
Ngoài chương mở đầu (chương 1 - giới thiệu), đề tài còn có 4 chương khác.
Chương 2 - Khung lý thuyết về nghèo - trình bày tổng quan các lý thuyết về nghèo đói
liên quan đến các khái niệm, các phương pháp xác định nghèo, các nguyên nhân dẫn đến
tế, dinh dưỡng. Nghèo còn là tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình dễ bị tổn thương:
“Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà
cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường.
Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.
Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả
năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị
-5-
gạt ra bên lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó” (WB
2001).
Những đoạn trích từ Báo cáo phát triển thế giới 2001 của WB dưới đây cho thấy cái mà
người nghèo nhận thức về cuộc sống nghèo khó của họ:
“Đừng hỏi tôi đói nghèo là gì vì ông đã thấy nó ngay từ bên ngoài nhà tôi. Hãy
quan sát ngôi nhà và xem nó có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ
đạc trong nhà và những quần áo tôi đang mang trên người. Hãy quan sát tất cả
và ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính là đói nghèo đó.”
Một người nghèo ở Kênia
Don’t ask me what poverty is because you have met it outside my house. Look at
the house and count the number of holes. Look at the utensils and the clothes I
am wearing. Look at everything and write what you see. What you see is poverty.
Poor man, Kenya
“Nghèo đói là sự hổ thẹn, cảm giác phải phụ thuộc vào người khác và buộc phải
chấp nhận sự bạo hành, sỉ nhục, thái độ thờ ơ khi tìm kiếm sự giúp đỡ.”
Một người nghèo ở Latvia
Poverty is humiliation, the sense of being dependent on them, and of being forced
to accept rudeness, insults, and indifference when we seek help.
Poor woman, Latvia
“Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh, tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột
nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học,
khó xác định. Ngược lại, ở các nước đang phát triển thu nhập khó tính toán hết bỡi phần
-7-
lớn thu nhập đến từ công việc tự làm (self employment) nhưng rất khó tách biệt, trong khi
chi tiêu thì dễ thấy hơn, rõ ràng hơn (WB, 2005 – trang 36).
Theo Glewwe và Twum-Baah (1991), chi tiêu không những ít bị khai thấp hơn thu nhập
mà nó còn ổn định hơn từ năm này qua năm khác. Do đó, có đủ căn cứ lý thuyết để dùng
các thước đo chi tiêu nhằm phản ánh mức sống.
Theo Alderman và Paxson (1994) và Paxson (1993), ở các nước kém phát triển, thu nhập
của hộ thường biến động theo mùa vụ trong khi chi tiêu dùng tương đối ổn định giữa các
tháng trong năm. Vì thế, chi tiêu tiêu dùng phản ánh mức sống của hộ tốt hơn con số thu
nhập.
Hình 2.1
Đường thu nhập và chi tiêu trong năm của hộ gia đình
Nguồn: WB (2007).
Phương pháp xác định ngưỡng nghèo theo chuẩn quốc tế. Theo WB (1990), ngưỡng
nghèo đói ở mức thấp gọi là ngưỡng nghèo đói lương thực-thực phẩm (LT-TP). Ngưỡng
nghèo đói ở mức cao hơn gọi là ngưỡng nghèo đói chung (bao gồm cả mặt hàng LT-TP
và phi LT-TP).
Ngưỡng nghèo đói LT-TP đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một hộ gia đình có
thể đủ mua được một lượng LT-TP để cung cấp cho mỗi thành viên trong hộ một lượng
calo là 2100 calo 1 ngày. Ví dụ, nếu sử dụng chuẩn nghèo này thì Việt Nam có 10,9%
-8-
người nghèo năm 2002. Nhưng phương pháp này có hạn chế là nó không tính đến các
khoản chi tiêu cho việc tiêu dùng các hàng hóa phi LT-TP, mặc dù các hàng hóa này
cũng cần thiết cho các nhu cầu cơ bản của con người.
Ngưỡng nghèo chung đo lường chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa LT-TP cung cấp
lượng calo là 2100 calo và một số mặt hàng phi LT-TP. Trở ngại ở đây là việc xác định
P
i
i
z
yz
N
P
1
1
α
α
(1)
-9-
Trong đó, y
i
là đại lượng xác định phúc lợi (thường là chi tiêu bình quân đầu người) cho
người thứ i , z là ngưỡng nghèo, N là số người có trong mẫu dân cư, P là số người nghèo
và α có thể diễn giải như là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa
những người nghèo.
Khi α = 0, đẳng thức trên tương đương P/N, tức là bằng số người nghèo chia cho tổng số
người ở trong mẫu. Thước đo xác định quy mô đói nghèo được sử dụng rất phổ biến này
được gọi là tỷ số đếm đầu người hay chỉ số đếm đầu người khi chuyển sang tính dưới
dạng %. Mặc dù chỉ số đếm đầu người dễ được diễn giải song nó không nhạy cảm với
khoảng cách của những người nghèo so với ngưỡng nghèo.
Khi α = 1, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói. Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trong chi
tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo và nó được biểu hiện như mức trung bình của
tất cả mọi người trong tổng thể. Khoảng cách nghèo đói được tính đơn giản như là tổng
của tất cả các khoảng cách nghèo đói ở trong tổng thể, có thể được sử dụng để xác định
chi phí tối thiểu để xoá bỏ nghèo đói trong điều kiện mọi khoản chuyển nhượng được
characteristics)
• Quy mô hộ
• Tỷ lệ phụ thuộc (phần trăm số người trưởng thành không có hoạt
động taọ thu nhập)
• Giới tính của chủ hộ
• Tài sản của hộ gia đình: đất đai, phương tiện sản xuất, nhà cửa…
• Tỷ lệ có việc làm của những thành viên trưởng thành trong hộ,
loại việc làm chính, tự làm hay làm thuê…và theo nguồn thu nhập
nhập chính của hộ…
• Trình độ học vấn trung bình của hộ
-11-
Phân theo đặc tính Các nhân tố
Đặc điểm cá nhân
(Individual
characteristics)
• Tuổi
• Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất)
• Việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc)
• Dân tộc (có hay không có thuộc nhóm dân tộc thiểu số)
Nguồn: WB (2007).
2.3.1 Nghề nghiệp, tình trạng việc làm
Theo BCPTVN (2000), nghèo đói là một hiện tượng mang tính đặc thù của nông thôn,
các tính toán về tỷ lệ nghèo theo nghề nghiệp và theo loại chủ lao động cũng chỉ ra rằng
những người sống ở dưới ngưỡng nghèo thường là thành viên của những hộ có chủ hộ là
nông dân tự do. Trong năm 1998, gần 80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp và là
những người lao động tự do.
Theo Sarah Bales (2001), tỷ lệ người nghèo năm 1998 trong ngành nông nghiệp ở mức
cao, 47% đối với lao động tự làm trong nông nghiệp và 55,4% đối với lao động làm thuê
trong nông nghiệp. Các ngành có tỷ lệ nghèo đói thấp nhất là dịch vụ, đặc biệt là ngành
1
P
2
Tự làm nông nghiệp
66,4 19,7 8,3 47,0 12,3 4,7
Làm thuê nông nghiệp
67,6 22,9 10,2 55,4 14,9 5,5
Tự làm công nghiệp, xây dựng
39,5 13,7 5,3 21,0 4,2 1,3
Làm thuê công nghiệp, xây dựng
36,4 12,8 4,9 20,6 4,4 1,4
Thương mại, khách sạn và nhà hàng
24,2 8,9 3,3 11,2 1,8 0,5
Chính phủ, Đảng và các tổ chức xã hội
21,0 6,1 2,2 9,1 1,7 05
Dịch vụ khác
30,1 10,7 4,2 15,4 3,4 1,2
Cả nước 53,3 16,6 6,8 34,6 8,7 3,2
Nguồn: Sarah Bales (2001).
Vũ Hoàng Đạt và các tác giả (2006) phát hiện thấy việc chuyển đổi trong nghề nghiệp của
chủ hộ gia đình từ nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp hoặc kinh doanh thương mại
làm giảm nguy cơ hộ gia đình rơi vào nghèo đói.
Theo MDPA (2004), nghèo đói có gắn chặt với nông nghiệp và lưu ý rằng phần lớn các
hộ nghèo sống ở nông thôn và chỉ trồng lúa. Một nghiên cứu của AusAID 2003 cũng cho
thấy rằng tỷ lệ nghèo đói cấp tỉnh ở vùng ĐBSCL có tương quan tỷ lệ thuận với số dân
hoạt động nông nghiệp của tỉnh đó.
2.3.2 Trình độ học vấn
Người nghèo thường có học vấn tương đối thấp, gần 90% người nghèo chỉ có trình độ
phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn (BCPTVN, 2000). Trong số người nghèo, tỷ lệ người
chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; phổ thông cơ sở chiếm
19
4
37
12
39
37
8
3
0
100
8
35
36
12
6
3
100
Nguồn: BCPTVN (2000).
Các nghiên cứu đói nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) cho thấy bản thân các hộ
nghèo cũng hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa quan trọng để thoát khỏi nghèo
đói. Các PPA cũng cho thấy những hộ thuộc nhóm khá giả là những hộ thường xuyên
tiếp xúc với cán bộ khuyến nông, quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng, tiếp cận
với thông tin và với các phương tiện truyền thông đại chúng (BCPTVN 2000).
Vũ Hoàng Đạt và các tác giả khác (2006) phát hiện thấy các hộ gia đình có chủ hộ đạt trình
độ giáo dục cấp phổ thông cơ sở có nhiều cơ hội thoát nghèo hơn so với hộ gia đình có đặc
điểm tương tự, song chủ hộ không có trình độ học vấn.
2.3.3 Khả năng tiếp cận nguồn lực cơ bản
2.3.3.1 Đất đai
Theo BCPTVN (2000), các hộ nghèo coi diện tích đất và chất lượng đất là yếu tố quan
trọng đến mức sống. Không có đất đai hoặc hầu như không có đất đai đồng nghĩa với
613 845 1016 1485 3527
Nguồn: BCPTVN (2000).
Theo MDPA (2004), một khi nông dân không còn sở hữu đất, họ dễ rơi vào cảnh nghèo
khó. Hầu hết các nông hộ nghèo bán đất hay cầm cố đất do gặp rủi ro, trắc trở trong thu
hoạch, trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày. Những rủi ro, thất bát này dẫn
đến việc thu nhập của gia đình kém đi, chi phí cuộc sống tăng lên; vì vậy khiến họ dễ bị
lâm nợ, buộc họ phải dùng đất đai như cứu cánh cuối cùng để thanh toán nợ nần và tiếp
tục sống.
2.3.3.2 Tín dụng chính thức
Theo Waheed (1996), thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập hộ gia
đình thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp. Tiết kiệm thấp lại là nguyên nhân của sự
thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp. Không đủ vốn, người nghèo không thể
làm gì được; từ việc cơ bản nhất là mua giống cây trồng vật nuôi hay phân thuốc chứ
đừng nói đến việc cải tiến sản xuất hay áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Muốn thoát khỏi
cái vòng luẩn quẩn này cần phải có nguồn vốn từ bên ngoài, trong trường hợp này là
nguồn vốn vay hay vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức, hay
từ các dự án cấp tín dụng cho người nghèo của chính phủ.
-15-
Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), ở Việt Nam, người nghèo thường bị hạn chế trong việc tiếp cận
được với các nguồn tín dụng chính thức của Chính phủ trong lúc các nguồn phi chính
thức có ít khả năng giúp hộ gia đình thoát nghèo. Mặc dù hiện nay có rất nhiều nguồn,
nhiều dự án cung cấp tín dụng cho người nghèo thông qua các chương trình quốc gia về
XĐGN nhưng vẫn còn rất nhiều người rất nghèo không thể tiếp cận được các nguồn tín
dụng này. Có nhiều nguyên nhân, loại trừ sự nhũng nhiễu của người có quyền quyết định
thì nguyên nhân còn lại là do người nghèo thiếu hiểu biết, thiếu hiểu biết, không có khả
năng thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả nợ. Và rồi họ tiếp
tục nghèo hơn.
“Nợ nần làm cho chúng tôi thức trắng đêm - cảm giác nợ nần thật là khủng khiếp.
Tôi cảm thấy khiếp sợ mỗi khi có chủ nợ đến nhà đòi tiền còn bản thân thì không
giữa đặc điểm hộ với tình trạng nghèo đói. Sự khác biệt này có thể phần nào tạo nên
“những khoảng cách về chất lượng”. Ví dụ, trình độ giáo dục mà người dân tộc thiểu số
nhận được có thể có chất lượng thấp hơn. Nhưng lý do phần nào có thể do sự khác biệt
trong hành vi kể cả về việc sử dụng đất chung (BCPTVN, 2004).
Theo Báo cáo cập nhật nghèo (2006), nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số bị tụt hậu khá
nhiểu so với nhóm đồng bào Kinh – Hoa về các chỉ số xã hội. Cụ thể, vào năm 2004, chỉ có
4% đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận điều kiện vệ sinh so với 36% người Kinh –
Hoa và 19% đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận nước sạch so với 63% người Kinh –
Hoa.
Vũ Hoàng Đạt và các tác giả (2006) cho thấy hộ gia đình thuộc nhóm Kinh – Hoa dễ có
khả năng thoát nghèo hơn hộ gia đình có đặc điểm tương tự thuộc nhóm dân tộc thiểu số.
Nhóm dân tộc thiểu số có tốc độ giảm nghèo chậm hơn so với nhóm người Kinh – Hoa ở
tại tất cả các vùng nơi có người dân tộc thiểu số sinh sống.
Hoàng Thanh Hương và các tác giả (2006) phát hiện thấy ngay cả khi các dân tộc thiểu
số sống cùng với người Kinh – Hoa trong cùng một địa bàn nhỏ, tức là ở cùng xã, họ vẫn
-17-
khó theo kịp so với nhóm Kinh – Hoa. Nghiên cứu này cũng phát hiện thấy rằng nhóm
các dân tộc thiểu số sống ở các xã không có người Kinh – Hoa cùng sinh sống có mức
sống thấp hơn đáng kể so với nhóm các dân tộc thiểu số sống ở các xã có cả người Kinh
– Hoa sinh sống.
Hoàng Thanh Hương và các tác giả (2006) và Nguyễn Thị Minh Hòa (2006) cho thấy có
sự khác biệt đáng kể về các đặc tính ở cấp hộ giữa hai nhóm hộ và sự khác biệt dường như
có chiều hướng gia tăng. Năm 2004, sự khác biệt về đặc tính cấp hộ giải thích 18% chênh
lệch chi tiêu dùng giữa hai nhóm ở trong toàn bộ vùng nông thôn Việt Nam, song tạo ra
51% chênh lệch chi tiêu dùng ở những xã có cả đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào
Kinh – Hoa sinh sống.
2.3.5 Khả năng tiếp cận các hạ tầng cơ sở thiết yếu
Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả (2001) cho thấy những nơi không có nghề
thủ công hoặc chợ họp thường xuyên thì thu nhập theo giờ lao động thấp hơn đáng kể.
tăng lên thì càng làm giảm khả năng tích luỹ của gia đình, dẫn đến khả năng vay
tín dụng phi chính thức càng tăng, và hệ quả là dễ rơi vào hoàn cảnh nghèo.
Nghiên cứu này giả định tỉ lệ phụ thuộc của hộ sẽ có mối quan hệ đồng biến với
xác suất rơi vào ngưỡng nghèo.
3. Dân tộc (có thuộc nhóm cộng đồng người Khmer). Cộng đồng người Khmer ngoài
những biệt về tập quán văn hóa thì hầu hết các chỉ số kinh tế, xã hội của họ đều thua
kém hơn so với người Kinh-Hoa. Trong ĐTMSDC của GSO phối hợp với UNDP
có một sự chênh lệch về thu nhập giữa dân tộc Kinh-Hoa và dân tộc thiểu số và
dẫn đến các hộ dân tộc thiểu số nằm trong diện XĐGN nhiều hơn là dân tộc Kinh-
Hoa, điều này xuất phát từ sự khác biệt các điều kiện tự nhiên, xã hội dẫn đến sự
-19-
khác biệt thấp về kinh tế của các hộ gia đình dân tộc. Do vậy chúng tôi giả định là
hộ dân tộc thiểu số có nguy cơ nghèo nhiều hơn các hộ khác.
4. Tình trạng việc làm (có hay không có làm việc) và loại ngành nghề của chủ hộ. Hộ
có việc làm sẽ có nguồn thu nhập lớn hơn so với hộ không có việc làm. Hộ có việc
làm phi nông nghiệp sẽ có công việc ổn định hơn, thu nhập khá hơn so với hộ làm
việc trong ngành nông nghiệp, đặc biệ so với hộ đi làm thuê trong ngành nông
nghiệp. Nghiên cứu này giả định, hộ có việc làm và làm việc trong khu vực phi
nông nghiệp sẽ có xác suất nghèo thấp hơn so với các hộ không có việc làm hay làm
việc trong ngành nông nghiệp.
5. Số năm đi học trung bình của những người trưởng thành trong hộ. Trình độ học vấn
của các thành viên trưởng thành trong hộ càng cao càng có khả năng tiếp cận với
công nghệ, kỹ thuật nông nghiệp, tiếp cận với thị trường lao động và nâng cao cơ
hội cải thiện thu nhập. Nghiên cứu này giả định số năm đi học của những thành
viên đã đến tuổi lao động có mối quan hệ nghịch biến với xác suất rơi vào ngưỡng
nghèo.
Nhóm nhân tố liên quan đến vai trò Chính phủ (trong phân bổ nguồn lực):
6. Phân bổ đất sản xuất đến hộ gia đình. Nông dân ở nông thôn sống chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp mà nông nghiệp gắn liền với đất đai. Hộ có nhiều đất canh
cơ sở
Xã hội
Giới tính
của chủ
hộ
Tỷ lệ phụ
thuộc
Tình trạng
việc làm
Loại
ngành
nghề
Dân tộc
Sô năm đi
học trung
bình của
hộ
Phân bổ
nguồn lực
Đất đai
Tín dụng
-22-
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
3.1 Sơ lược về vùng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng ven biển ĐBSCL. Mẫu khảo sát bao gồm 360 hộ
gia đình sống ở 120 xã (40 xã ven biển) thuộc 26 huyện ven biển của 7 tỉnh giáp biển
gồm Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (sơ đồ
3.1).
Theo VHLSS 2004, vùng ĐBSCL có 467 xã tham gia điều tra “Phỏng vấn xã” trong đó
Tỉnh Trà
Vinh
4 huyện
Tỉnh Cà
Mau
5 huyện
Nguồn: tác giả.
3.2 Xác định nghèo đói
3.2.1 Sử dụng chi tiêu bình quân đầu người làm tiêu chí phân tích nghèo
Với những lý do như đã phân tích ở phần 2.2, nghiên cứu này chọn chi tiêu bình quân
một người trong hộ gia đình (thay vì thu nhập bình quân đầu người) làm cơ sở để phân
-23-
-24-
tích nghèo. Chi tiêu dùng để so sánh với ngưỡng nghèo gồm chi tiêu bằng tiền cho hàng
hóa lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm. Các ước lượng về giá trị sử
dụng nhà ở và hàng hóa lâu bền cũng được tính trong chi tiêu, mặc dù ở Việt Nam thị
trường nhà ở cho thuê vẫn còn kém phát triển. Sau khi tính toán chi tiêu, cần điều chỉnh
chi tiêu về giá trị thực để có thể so sánh giữa các vùng. Trong bộ dữ liệu VHLSS 2004
(GSO, 2004), biến chi tiêu dùng thực bình quân đầu người có tên là pcexp1rl, ở tập tin có
tên hhexpe04.
3.2.2 Lựa chọn ngưỡng nghèo
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ngưỡng nghèo (PL) do GSO đưa ra, có giá trị
PL = 2.077.110 VNĐ (GSO, 2004). Như vậy, một hộ gia đình là nghèo nếu mức chi tiêu
bình quân đầu người của hộ thấp hơn 2.077.110 VNĐ và ngược lại, hộ không là hộ nghèo
khi chi tiêu dùng bình quân đầu người của hộ từ 2.077.110 VNĐ trở lên.