tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự và thương mại điển hình - Pdf 25

Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỐ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TÌM HIỂU CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT
VỀ DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI
HÀ NỘI - 2012
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Nguyễn Thúy Hiền, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban chỉ đạo Đề án
TỔ CHỨC BIÊN SOẠN:
Nguyễn Duy Lãm, Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
Phạm Thị Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
THAM GIA BIÊN SOẠN:
1. ThS. Nguyễn Thị Hạnh, Học viện Tư pháp
2. ThS. Nguyễn Thị Hằng Nga, Học viện Tư pháp
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày 27/02/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 270/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Củng cố, kiện toàn và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” thuộc
Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012. Một trong các hoạt động của Đề án là cung cấp,
hỗ trợ tài liệu nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho các đối tượng của Đề án, góp phần nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của đội
ngũ thực hiện công tác này trong thời kỳ mới.
Nhằm đáp ứng nhu cầu về bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đối với những người trực
tiếp thực hiện công tác này, đặc biệt là đội ngũ báo cáo viên pháp luật, Ban chỉ đạo Đề án tổ chức biên soạn và phối hợp với Nhà xuất
bản Tư pháp xuất bản cuốn: “Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại”. Cuốn sách cung cấp cho báo cáo viên các vụ
việc pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại đã và đang diễn ra phổ biến trên thực tế như thừa kế, ly hôn, các hợp đồng
thuê, hợp đồng tín dụng, hợp đồng góp vốn… cùng với đó là những bình luận pháp luật và hướng giải quyết của các tác giả về những

của Toà án nhân dân thành phố H đã giữ nguyên bản án sơ thẩm nói trên của Toà án nhân dân quận HK.
Sau khi anh Bùi Văn H tiến hành việc đòi nhà theo sự ủy quyền và đã được cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án bàn giao trả
nhà số 8 HĐ thì hai cụ P và cụ C đã cùng anh H về sinh sống tại ngôi nhà này. Quá trình ở tại đây, anh H đã xây dựng, sửa chữa như
làm toàn bộ trần bằng toocxi, lát lại toàn bộ nền nhà, xây mới khu phụ, làm lại gác xép, cầu thang… Đến năm 2002, anh Bùi Văn H đã
làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà số 8 HĐ. Trên cơ sở đó, theo Quyết định số 1730/QĐ-UB
ngày 19/3/2002 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố H, nhà số 8 HĐ đứng tên chủ sở hữu nhà, sử dụng đất là
anh Bùi Văn H (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 5019.2002 ngày 19/3/2002 của UBND
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
thành phố H).
Còn đối với diện tích nhà, đất 1396m
2
tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H cũng là di sản của hai cụ P và cụ C. Sinh thời
hai cụ cũng có sinh sống tại nhà cấp 4 diện tích 52m
2
được xây dựng trên thửa đất này cùng với vợ chồng anh Bùi Văn T. Sau này, nhà
cấp 4 của các cụ được vợ chồng anh T sửa chữa, tôn tạo để sử dụng. Đến ngày 11/7/1999, cụ Bùi Văn P lập di chúc cho anh Bùi Văn T
được toàn quyền sử dụng phần diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT.
Ông Bùi Văn T chết ngày 20/5/2001, có vợ là Lương Thị AH và 02 người con là anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X. Ngoài ra, vợ
chồng ông T không có người con riêng, con nuôi nào khác.
Cụ Hoàng Thị C chết năm 1995 không để lại di chúc. Cụ Bùi Văn P chết năm 2002, có để lại di chúc định đoạt cho anh Bùi Văn T
được toàn quyền sử dụng phần tài sản của cụ tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H.
Ngày 24/2/2010, bà Bùi Thị M có đơn khởi kiện ông Bùi Văn H, bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H về việc chia thừa kế di sản của
hai cụ P và cụ C gồm ngôi nhà số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và nhà, đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H. Tại đơn khởi
kiện bổ sung ngày 26/8/2010, bà Bùi Thị M đề nghị Toà án chia thừa kế nhà số 8 HĐ theo pháp luật. Còn đối với nhà đất ở phường NT
thì công nhận di chúc của cụ P, còn lại 1/2 là phần của cụ C do thừa kế hết thời hiệu nên đề nghị Toà án chia tài sản thuộc sở hữu
chung. Nhưng sau đó, bà M lại thay đổi yêu cầu của mình đối với phần di sản nhà và đất tại tổ 18 phường NT hiện bà Lương Thị AH,
anh Bùi Duy H đang quản lý, bà yêu cầu chia theo pháp luật vì di chúc của cụ P không có hiệu lực.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn Th đề nghị Toà án chia theo hiện vật và chia chung.
Phía bị đơn ông Bùi Văn H trình bày:

Về hình thức của bản di chúc có chữ ký của cụ Bùi Văn P là người lập di chúc, có xác nhận của 2 người làm chứng, có xác nhận của UBND
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
xã NT, huyện GL (nay là phường NT, quận LB).
Bình luận:
* Về người để lại thừa kế, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995 để lại tài sản thừa kế, cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002. Sinh thời các cụ sinh được 04 người con
là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th, bà Bùi Thị M. Thời điểm ông T, cụ P chết là thời điểm BLDS năm 1995 đang có hiệu lực
nên áp dụng các quy định về thừa kế của BLDS năm 1995 để giải quyết vụ án. Ngoài 04 người con đẻ cụ C và cụ P không có người con riêng,
con nuôi nào khác. Ông Bùi Văn T chết năm 2001, sinh được 02 người con là anh Bùi Duy H, Bùi Thị X. Căn cứ Điều 634 BLDS năm 1995
xác định cụ C, cụ P là người để lại thừa kế. Theo Điều 638 BLDS năm 1995 thì ông T, ông H, ông Th, bà M là người thừa kế di sản của cụ C.
Tuy nhiên theo tình tiết trong vụ án, ông T chết trước cụ P nên không được thừa kế tài sản của cụ P, vì vậy theo Điều 680 BLDS năm 1995 thì
anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là người thừa kế thế vị hưởng di sản của cụ P để lại. Vì vậy, ông H, ông Th, bà M; anh H, chị X là người thừa kế
di sản của cụ P.
Theo Điều 636 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) năm 1995 thời điểm mở thừa kế lần 1 - cụ C chết ngày 03/01/1995;
thời điểm mở thừa kế lần 2 - cụ P chết ngày 29/12/2002. Ngày 24/02/2010, bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại
nên theo Điều 648 BLDS sự năm 1995 thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của cụ C đã hết. Do đó, không chia phần di sản của cụ C để lại
cho những người thừa kế.
Điều 634 BLDS năm 1995 quy định:
Quyền thừa kế của cá nhân
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo
di chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 635 BLDS năm 1995 quy định:
Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp
luật.
Điều 636 BLDS năm 1995 quy định:
Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

chết vào ngày 20/5/2001, cụ P chết vào ngày 29/12/2002. Thời điểm mở thừa kế của ông T là ngày 20/5/2001, thời điểm mở thừa kế
của cụ P là ngày 29/12/2002. Như vậy, người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc chết trước người để lại di sản nên theo quy định
tại Điều 638 BLDS năm 1995 ông T không phải là người thừa kế theo di chúc của cụ P. Và vì vậy, di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày
11/7/1999 không có giá trị pháp lý. Do di chúc của cụ P không có hiệu lực pháp luật nên theo quy định tại Điều 678 BLDS năm 1995
phần di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế.
Điều 638 BLDS năm 1995 quy định:
Người thừa kế
1. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa
kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế.
Điều 678 BLDS năm 1995 quy định:
Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được
hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di
sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng
di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di
chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Bùi Văn P bao gồm 4 người con đẻ của cụ P còn sống tại thời điểm viết di chúc: Ông Bùi Văn T, Bà
Bùi Thị M , ông Bùi Văn Th, ông Bùi Văn H (ông Bùi Văn T chết năm 2001). Hai người con của ông T - anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X

Di sản
1. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
2. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này.
- Đối với diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H: Quá trình giải quyết vụ kiện tại Toà án các bên đương sự
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
đều có lời khai xác nhận nguồn gốc diện tích 1396m
2
đất, trên có nhà cấp 4 và nhà tắm, nhà vệ sinh là do cụ P, cụ C mua. Sau đó, cho
vợ chồng ông T, bà Lương Thị AH về ở tại đây, hiện toàn bộ thửa đất này mang số thửa 87, tờ bản đồ số 4 đo vẽ năm 1993. Hiện bà
Lương Thị AH và anh Bùi Duy H đang quản lý sử dụng. Bà AH, anh H cho rằng, phần di sản của cụ P thì cụ P đã lập di chúc cho ông
Bùi Văn T nên đề nghị Toà án chia theo di chúc. Vấn đề này như phần trên đây đã nhận định, phân tích về di chúc của cụ Bùi Văn P là
di chúc không có hiệu lực nên di sản thừa kế của cụ P được chia theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế của cụ P, cụ C là 2 khối tài sản: Nhà số 8 phố HĐ, thành phố H và diện tích 1396m
2
nhà và đất tại tổ 18
phường NT, quận LB, thành phố H. Nay phía nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 2 khối di sản trên của cụ P, cụ C.
Nhà số 8 phố HĐ mà ông H đang quản lý sử dụng theo biên bản định giá thì tổng cộng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng
còn lại của nhà số 8 HĐ là di sản thừa kế của cụ P, cụ C tính thành tiền là: 12.150.000.000 đồng (giá trị quyền sử dụng đất) +
32.815.000 đồng (giá trị xây dựng còn lại) = 12.182.815.000 đồng.
Thời điểm mở thừa kế để chia di sản thừa kế của cụ C là năm 1995. Di sản thừa kế của cụ C để lại tại số 8 HĐ là 1/2 giá trị nhà số 8 phố
HĐ - thành phố H thành tiền là: 12.182.815.000 đồng : 2 = 6.091.407.500 đồng. Tính đến thời điểm bà Bùi Thị M khởi kiện vụ án dân sự -
Chia thừa kế là ngày 01/7/2010 thì thời hiệu để chia phần di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị C đã hết thời hiệu. Bà M có yêu cầu: Đối với phần
di sản của cụ C đề nghị Toà án chia tài sản chung theo quy định của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Về yêu cầu này của
bà M nhận thấy:
Theo quy định tại tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình hướng dẫn: “… Sau khi kết
thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người chết để lại
chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế…”.

Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
BLDS năm 1995 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: 03 người con đẻ còn sống tại thời điểm mở thừa kế và 02 người cháu là thừa
kế thế vị: ông Bùi Văn H, ông Bùi văn Th, Bà Bùi Thị M và anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X (01 kỷ phần thừa kế thế vị của ông T).
Xác định di sản thừa kế của cụ P có tổng giá trị thành tiền là 6.091.407.500 đồng và chia 4 kỷ phần + 01 kỷ phần trích trừ công sức
cho ông H, chia toàn bộ hiện vật nhà số 8 phố HĐ cho ông H sở hữu. Tổng di sản 6.091.407.500 đồng : 5. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa
kế của cụ P được hưởng di sản thừa kế tính thành tiền là 6.091.407.500 đồng : 5. Riêng ông Bùi Văn H được nhận một kỷ phần thừa kế
và một suất công sức quản lý, bảo quản di sản.
Chia toàn bộ bằng hiện vật phần di sản thừa kế của cụ P cho ông Bùi Văn H được hưởng và ông Bùi Văn H, có nghĩa vụ thanh
toán lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác. Phần di sản hết thời hiệu chia thừa kế của cụ C Tòa án không chia cho những người
thừa kế.
Điều 679 BLDS năm 1995 quy định:
Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu
ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có
quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.
Đối với di sản thừa kế tại tổ 18 NT, quận LB, thành phố H do bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H đang quản lý. Theo biên bản định
giá 1396 m
2
đất cùng các công trình xây dựng trên đất thì tổng di sản tính thành tiền gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
còn lại thuộc di sản thừa kế là 6.994.368.000 đồng.
Thời điểm mở thừa kế để phân chia di sản thừa kế của cụ C là năm 1995 di sản của cụ C gồm 1/2 quyền sử dụng đất là 698m
2
đất,

được chia theo pháp luật.
VỤ VIỆC SỐ 2
Nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị X trình bày:
Năm 1992, chị X kết hôn hợp pháp với anh Vương Văn V là con trai thứ sáu của ông Vương Văn Tr và bà Nguyễn Thị D. Bà D
chết năm 1996. Năm 2006, anh V mất do tai nạn lao động, không để lại di chúc. Vợ chồng chị có 03 con chung là: cháu Vương Thị H -
sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998. Khi anh V còn sống, vợ chồng chị có tạo
lập được một khối tài sản, trong đó có diện tích đất nông nghiệp là 2.472m
2
tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H.
Diện tích đất trên đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là
863/QSDĐ. Năm 2006, anh V chết, ông Vương Văn Tr là bố anh V đã lấy 1.080m
2
tại xứ đồng bờ Tuỳ để canh tác, không trả cho chị.
Sau nhiều lần yêu cầu ông Tr trả đất của vợ chồng chị, chị X đã yêu cầu UBND xã XG hòa giải nhưng không thành. Vì vậy ngày
20/8/2008, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Tr phải trả cho chị diện tích đất trên. Ngày 26/10/2008, chị có đơn thay đổi
yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất 1.080m
2
tại xứ đồng bờ Tuỳ do ông Tr đang chiếm giữ. Chị
X yêu cầu chia phần của chị và 03 con chung vào một khối.
Tại bản tự khai ngày 05/10/2007, ông Vương Văn Tr trình bày:
Năm 1992, con trai ông là Vương Văn V lấy chị Nguyễn Thị X về làm vợ và sinh được 03 người con là Vương Thị H, Vương Văn Th và
Vương Văn A. Năm 2006, con trai là anh Vương Văn V mất do tai nạn lao động. Nay chị X kiện ông yêu cầu chia diện tích đất nông nghiệp tại
xứ đồng bờ Tuỳ là 1.080m
2
, ông không chấp nhận vì diện tích đất trên là do ông đổi cho các hộ khác (ông K, ông C, ông H, ông M là người
cùng làng), về gần nhà để tiện canh tác, còn sổ đỏ cấp cho anh V là không đúng vì ông Nguyễn Xuân H lúc đó là chủ nhiệm hợp tác xã đã tự
ghi tên anh V vào trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (2.472m
2
). Hiện tại, ông Tr đang canh tác diện tích đất

tại xứ đồng bờ Tuỳ nên Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn. Người thừa kế theo
pháp luật thuộc hàng thứ nhất của anh V theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 gồm 05 người: ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn
Thị X, cháu Vương Thị H, cháu Vương Văn Th, cháu Vương Văn A. Cháu Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh
năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998. Chị X khởi kiện ngày 20/8/2008 khi đó các cháu chưa thành niên nên chị X là người
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
đại diện hợp pháp của 03 con chị.
* Về di sản thừa kế:
Ông Tr cho rằng 1.080m
2
đất đang có tranh chấp là tài sản của ông, do ông đổi với một số hộ dân cùng thôn từ những năm 1988, ông
Nguyễn Xuân H lúc đó là chủ nhiệm hợp tác xã đã tự ghi tên anh V vào trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp
(2.472m
2
) nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V là không đúng. Còn chị X có quan điểm, diện tích đất tranh chấp vợ
chồng chị đã nhận chuyển nhượng của ông K, nhưng hiện nay ông K đã chết và giấy tờ thì không có. Song thực tế là từ tháng 01/1998 thì
diện tích đất có tranh chấp đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Vương Văn V.
Theo nội dung lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thực hiện Nghị định số 64-CP, thì ông là người trực tiếp đến nhà anh V - chị X, lúc đó
ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai (ông H là họ hàng của cả ông Tr và chị X), ông Tr, anh V, chị X đã thống nhất và nhờ ông
ký tên hộ. Khi có Giấy chứng nhận ông đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr.
Căn cứ vào các đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện
S, cũng như căn cứ vào Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S đã khẳng định đối tượng được cấp Giấy
chứng nhận 2.472m
2
đất là hộ gia đình anh Vương Văn V (gồm ông Tr, anh V, chị X). Từ những căn cứ trên, xác định diện tích đất
tranh chấp là tài sản của hộ gia đình anh Vương Văn V theo quy định tại Điều 106, 107, 108, 688 BLDS năm 2005. Do vậy, anh V, ông
Tr, chị X có quyền ngang nhau đối với diện tích họ đang có tranh chấp là 1.080 m
2
. Do xác định diện tích đất tranh chấp là tài sản

2. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc
công nhận quyền sử dụng đất.
3. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác cũng được xác lập do được người khác chuyển quyền
sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
Phần đất của anh V được chia có diện tích 360 m
2
là tài sản chung của vợ chồng anh V, chị X theo quy định tại Điều 27 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000. Anh V chết, thanh toán chia tài sản chung của vợ chồng nên xác định quyền sử dụng đất là di sản
của anh V để lại là 360 m
2
: 2 còn 180m
2
chia đều cho 05 người thừa kế theo quy định tại các điều 676, 689, 735 BLDS: 180 m
2
: 5
= 36 m
2
(gồm ông Tr = chị X = cháu H = cháu Th = cháu A). Như vậy, ông Tr, chị X, cháu H, cháu Th, cháu A được chia mỗi
người 36 m
2
từ 180 m
2
đất di sản thừa kế của anh V.
Ðiều 689 BLDS năm 2005 quy định:
Hình thức chuyển quyền sử dụng đất
1. Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Ðiều này.
2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
3. Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 733 đến Ðiều 735 của Bộ luật này.
Ðiều 733 BLDS năm 2005 quy định:
Thừa kế quyền sử dụng đất

. Cộng gộp lại là chị X và 03 con được
chia diện tích 684 m
2
.
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng 1.080 m
2
đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H
của Nguyễn Thị X đối với ông Vương Văn Tr.
2. Xác định quyền sử dụng 1.080 m
2
đất nông nghiệp đo thực tế tại xứ đồng bờ Tuỳ thuộc thôn LC (bản đồ địa chính lập năm 1992) được
cấp cho hộ gia đình anh Vương Văn V gồm: anh Vương Văn V, chị Nguyễn Thị X, ông Vương Văn Tr. Chia đều mỗi người được quyền sử
dụng 360 m
2
đất.
3. Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của anh Vương Văn V là ngày 28/3/2006.
Hàng thừa kế thứ nhất của anh V là ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn Thị X, các cháu Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A.
Mỗi thừa kế được chia 36m
2
.
571 572
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị X và 03 con xin chia chung vào một khối. Chia cho chị Nguyễn Thị X và 03 con là Vương Thị H,
Vương Văn Th, Vương Văn A quyền sử dụng 684 m
2
đất nông nghiệp còn lại tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H.
5. Chia cho ông Vương Văn Tr quyền sử dụng 396 m
2
đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H (trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status