GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế là mục tiêu cho tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam. Với chủ trưởng đổi mới chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ
chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam đã đạt được
những thành tựu nhất định. Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều khó
khăn thách thức để tiến tới mục tiêu CNH -HĐH trong tương lai, trong đó có việc đáp
ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư và phát triển. Kênh dẫn vốn chính của xã hội đó là hệ
thông ngân hàng. Do vậy muốn thu hút được nhiều vốn trước hết phải làm tốt công
tác tín dụng . Hơn thế nữa trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thành phần kinh tế
doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm vị trí rất quan trọng. Để có thể đầu tư mở rộng quy
mô và mua trang thiệt bị cũng như tham gia các quan hệ xã hội khác, các DNVVN
cần có vốn và ngân hàng thương mai chính là một nơi đáp ứng nhu cầu đó.
Là một trong những ngân hàng ngoài quốc doanh đầu tiên ở Việt Nam, ngân
hàng cổ phần thương mại Việt Nam thịnh vượng VpBank đã luôn cố gắng góp sức
mình vào sự phát triển kinh tế của nước nhà. Vpbank đã xác định khách hàng mục
tiêu của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và luôn chú trọng phát triện tập
trung vào thị trường này để đáp ứng được tối đa nhu cầu về vốn không ngừng phát
triển của các DNVVN. Tuy cũng đã đạt được nhiều thành tựu không nhỏ, nhưng
Vpbank vẫn vấp phải một số hạn chế nhất định làm cho hiệu quả cho vay của ngân
hàng ảnh hưởng phần nào .
Xuất phát từ những luận cứ và thực tế khảo sát tình hình cho vay vốn tới
DNVVN tại ngân hàng cổ phần thương mại Việt Nam thịnh vượng Vpbank chi
nhánh Ngô Quyền cùng với sự hướng dẫn của tiến sĩ Nguyên Thành Hiếu , em xin
mạnh dạn chọn đề tài : “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngô Quyền - VPbank ”, nhằm mục đích tìm ra những
giải pháp để nâng cao hiệu quả về cả chất và lượng cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại chi nhánh .
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
1
- Huy động vốn ngắn hạn trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi
có kỳ hạn ,không kỳ hạn ,tiếp nhận các nguồn vốn ủy thác đầu tư và phát triển của
các tổ chức trong nước ;vay vốn của các tổ chức tín dụng khác .
- Cho vay ngắn hạn ,trung hạn, dài hạn; Chiết khấu thương phiếu ,trái phiếu
và các giấy tờ có giá;Hùn vốn và liên doanh theo luật định .
- Thức hiện dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế; Huy động các loại
vốn từ nước ngoài và thực hiện các dịch vụ ngân hàng có liên quan đén nước ngoài
khi được NHNN cho phép .
- Hoạt động bao thanh toán .
2 Quá trình hình thành và phát triển VPbank và Chi nhánh Ngô Quyền:
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
3
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
2.1 Lịch sử hình thành và phát triền của ngân hàng Vpbank
Khi mới thành lập Vpbank có tên là ngân hàng Thương mại Cổ phần các
Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy
phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp
ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt
động từ ngày 04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày
04 tháng 09 năm 1993.Sau đó tới ngày 27/7/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
ban hành Quyết định số 1815/QĐ-NHNN, chấp thuận đổi tên Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh thành Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND. Sau đó, do nhu cầu
phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Đến tháng 8/2006,
vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp
thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước
ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều
ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; Công ty Chứng Khoán.Năm 2007 cho ra mắt 2
dòng sản phẩm thẻ Vpbank mastercard Platium và Vpbank mastercard MC ứng
dụng công nghệ thẻ chip theo tiểu chuẩn của EMV.Năm 2008 cho ra mắt sản phẩm
thẻ mới Vpbank mastercard E-card ,loại thẻ này có thêm các công cụ để bảo vệ
người sử dụng, ngoài ra VPbank cũng khai trương thêm 32 chi nhánh và phòng giao
dịch nâng số lượng chi nhánh và phòng giao dịch lên 135 điểm giao dịch .Tới năm
2010 ,được sự cho phép của thống đốc ngân hàng ,Vpbank đã chính thức đổi tên
thành ngân hàng cổ phần thương mại Việt Nam thịnh vượng Vpbank . Cho tới thời
điểm hiện tại Vpbank vẫn tiếp tục phát triển một cách vững chắc, đang từng ngày
đổi mới ,luôn theo sát thị trường nắm bắt cơ hội, phục vụ khách hàng một cách tốt
nhất . Chắc chắn rằng một tương lai tươi sáng sẽ đến với ngân hàng Vpbank.
2.2 Lịch sử hình thành và phát triền của chi nhánh Vpbank Ngô Quyền
*Chi nhánh Ngô Quyền được khai trương ngày 10/7/2007 .
Địa chỉ : Tòa nhà Vinaplast 39A Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Thời gian đầu khai trương, VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền có 03 Phòng
Giao dịch trực thuộc là PGD Hoàn Kiếm, PGD Chương Dương, PGD Ngọc Lâm.
Sau đó từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền tiếp
tục phát triển thêm 03 PGD trực thuộc là PGD Hàng Cót, PGD Đông Anh và PGD
Nguyễn Biểu. Tính đến nay, Chi nhánh Ngô Quyền đã phát triển với mạng lưới 01
Chi Nhánh cấp 1 và 06 PGD trực thuộc. Lợi nhuận kinh doanh của Chi nhánh
không ngừng tăng qua từng năm (năm 2007 là 8,371,184,970 VND; năm 2008 là
9,567,688,486 VND ;năm 2009 là 10,517,666,738 VND). Đặc biệt là năm 2008,
nền kinh tế toàn cầu có sự suy thoái mạnh nhưng VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền
vẫn hoàn thành đạt chỉ tiêu kế hoạch cả năm.
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
5
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của chi nhánh cấp 1 Ngô Quyền
3.1. Cơ cấu tổ chức
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
7
Giám đốc
Phó
Giám đốc
Hành
chính
& tổ chức
Phòng
Kế toán
Phòng
A/O
Doanh
nghiệp
Phòng
A/O
cá nhân
Phòng
Giao dịch
Kho quỹ
Phòng
Giao dịch
Phòng
Thẩm
định
TSBĐ
Phó
Giám đốc
Ban
- Thực hiện các công việc khác theo chỉ thị của Giám đốc
* Phòng kế toán
- Thực hiện công tác hạch toán kế toán tổng hợp
- Kiểm tra, giám sát các khoản chi tiêu tài chính, tham mưu cho Giám đốc các
giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị, điều hành, các quyết định về kinh tế, tài chính.
- Lưu trữ, báo cáo, cung cấp thông tin số liệu kế toán theo quy định.
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
8
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
* Phòng A/O doanh nghiệp, phòng A/O cá nhân
- Phòng A/O doanh nghiệp và phòng A/O cá nhân có nhiệm vụ tương tự
nhau là phục vụ khách hàng các sản phẩm và dịch vụ. Điểm khác nhau giữa hai
phòng là phân loại đối tượng khách hàng: doanh nghiệp hoặc cá nhân. Phòng có
chức năng chính là đầu mối thiết lập quan hệ khách hàng, duy trì và không ngừng
mở rộng các mối quan hệ đó với khách hàng trên tất cả các mặt hoạt động, tất cả
các sản phẩm ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh doanh một cách an
toàn, hiệu quả và tăng thị phần của VPBank.
* Phòng giao dịch kho quỹ
- Phòng giao dịch kho quỹ chủ yếu thực hiện chức năng thu chi tiền mặt
( Bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ ).
- Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống kho quỹ.
- Kiểm tra, phát hiện và thu hồi tiền giả trong quá trình giao dịch góp phần
bảo vệ uy tín của đồng Việt Nam
- Quản lý và bảo quản các tài sản quý và các loại giấy tờ có giá.
* Phòng thẩm định tài sản đảm bảo
- Nhận yêu cầu công việc và hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố
- Tiếp xúc với khách hàng, hoàn thiện hồ sơ, đối chiếu hồ sơ tài sản
-Kiểm tra và đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ về chứng từ sở hữu tài sản.
-Đo đạc, thẩm tra tình hình thực tế nơi tài sản tọa lạc; đảm bảo tính toán giá
ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu Hơn nữa, kinh doanh
tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác
trong nền kinh tế. Những đặc điểm khác biệt này sẽ ảnh hưởng tới việc phân tích
tình hình tài chính của một chi nhánh ngân hàng thương mại.nói chung . Và sự khác
biệt này thể hiện qua một số đặc điểm sau :
- Thứ 1: Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng
đồng thời cũng là đối tựơng kinh doanh của Vpbank. Và chính đặc điểm này sẽ bao
trùm hơn và rộng hơn so với các loại hình DN khác.
- Thứ 2: Vpbank kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của
Vpbank chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh
của Vpbank luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một
mức độ mạo hiểm nhất định. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình,
Vpbank không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình
DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng.
-Thứ 3: Hoạt động kinh doanh của Vpbank có liên quan đến nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình
hình tài chính của Vpbank có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các DN,
tâm lý của người dân
- Thứ 4: Hoạt động kinh doanh của Vpbank là hoạt động chứa nhiều rủi ro,
bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng,hơn thế nữa rủi ro trong hoạt
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
10
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
động kinh doanh của Vpbank sẽ gây ảnh hưởng tới các DN khách hàng của ngân
hàng, và lan sang các DN khác.
( Nguồn:bài viết của Nguyễn Thị Hương-ĐH Đà Nẵng (Tạp chí Kế toán) )
5. Tình hình hoạt động kinh doanh của VpBank chi nhánh Ngô Quyền
Vì những đặc điểm đã nêu ở trên mà việc phản ánh tình hình hoạt động kinh
doanh của chi nhánh Vpbank Ngô Quyền cũng sẽ khác với phản ảnh tình hình hoạt
đãi về lãi suất, tăng cường quảng bá về sản phẩm dịch vụ, ,tiết kiệm chi phí, áp
dụng công nghệ hiện đại, đưa ra thêm nhiều chương trình khuyến mãi nhằm nâng
cao hiệu quả huy động vốn.
Nhìn vảo bảng số liệu trên ta thấy nguồn huy động vốn của Chi nhánh Ngô
Quyền không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2007, tổng vốn huy động được là
303,787 triệu đồng; năm 2008 là 695,292 triệu đồng; năm 2009 là 903,475 triệu
đồng, tính tới tháng 10 năm 2010 con số đó là 1,130,244 triệu đồng Đáng chú ý là
giai đoạn từ năm 2008 ,và một vài tháng đầu năm 2009 ,là quãng thời gian kinh tế
khó khăn, tình hình lạm phát cao, các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt về tiền gửi
để đảm bảo nguồn vốn và khả năng thanh khoản. Ở tình thế đó VPbank đã đưa ra
nhiều chương trình khuyến mãi, “Đi tìm triệu phú Bạch kim”, “ Quà tặng từ
VPBank” ,“ Gửi tiền hôm nay nhận ngay phiếu mua hàng” , hay đưa ra các gói
sản phẩm huy động vốn độc đáo, hấp dẫn, đáp ứng đúng tâm lý người dân; “Tiền
gửi bù lạm phát” và “Lãi suất cao trúng thưởng lớn”. Ngoài ra VPBank cũng đã
điều hành lãi suất huy động linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường, đảm
bảo được khả năng tự chủ về nguồn vốn. Nhờ những bước đi đúng đắn này mà chỉ
số huy động vốn tại chí nhánh Ngô Quyền năm 2008 vẫn tăng gần 128% so với
năm 2007. Nguồn huy động chính của VPBank Ngô Quyền là từ các tổ chức kinh tế
và dân cư, trong đó chủ yếu là VNĐ chiếm khoảng 85% .Năm 2009, lãi suất huy
động đã dần ổn định nhờ sự ổn định lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, do lãi suất huy động
thấp và một phần nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các kênh đầu tư khác như: chứng
khoán, bất động sản, vàng, nên huy động vốn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, việc
cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn ngày càng quyết liệt hơn. Trước tình hình
đó,dể đảm bảo đáp ứng đủ nguồn vốn cho vay và khả năng chi trả, VPBank tiếp tục
thực hiện các chương trình khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng, Ngoài ra, VPBank
còn kéo dài thời gian giao dịch, giao dịch thông trưa nên nguồn vốn huy động của
VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền năm 2009 đã tăng lên 903,475 triệu đồng, tăng
29.94% so với năm 2008. Tới năm 2010 ,VpBank tiếp tục đưa ra những gói sản
phẩm dich vụ mới ,như ngày 5/2/2010 VPBank chính thức triển khai SMS Banking
cho tài khoản Thẻ - với dịch vụ này của VPBank, Khách hàng có thể truy vấn các
Quyền đạt 3,700 triệu đồng; năm 2008 tăng lên 4,500 triệu đồng, tăng lên 21.62%
so với năm 2007. Năm 2009, doanh thu từ dịch vụ tiếp tục tăng lên 4,500 triệu
đồng, tăng 20% so với năm 2008 nhưng sang năm 2010 con số đố đã giảm xuống
còn 3,436 triệu đồng. Một trong những nguồn thu chủ yếu từ dịch vụ của Chi nhánh
Ngô Quyền là sản phẩm thẻ. Sản phẩm thẻ của VPBank khá đa dạng, phong phú và
phù hợp với từng nhóm khách hàng. Đó là thẻ ghi nợ nội địa Autolink, VPBank
Platinum EMV dành riêng cho doanh nhân thành đạt, VPBank MC
2
EMV
MasterCard dành riêng cho giới trẻ, sản phẩm thẻ thanh toán qua mạng VPBank
MasterCard E-card và sản phẩm thẻ ATM nhận diện dành riêng cho đối tượng là
sinh viên. (nguồn: www.vpb.com.vn )
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
13
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
5.4. Hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế được triển khai ngay từ khi chi nhánh mới
được thành lập. Và hoạt động thanh toán quốc tế của VpBank chi nhánh Ngô Quyền
chủ yếu là mở L/C nhập khẩu. Tuy nhiên trong vài năm gần đây do ảnh hưởng của
quộc khủng hoảng tài chính thế giới nên hoạt động thương mai quốc tế suy giảm
trầm trọng. Do đó trị giá nhập khẩu L/C giảm. Năm 2007 con số đó là 10,465 nghìn
USD, năm 2008 giảm xuống còn 9,568 nghìn USD, năm 2009 tiếp tục giảm xuống
còn 8,468 nghìn USD. Phí dịch vụ cũng theo đó mà giảm qua các năm từ 2007 là
1,065 triệu đồng, năm 2008 , năm 2009 lần lượt là , 985 triệu đồng, 931 triệu đồng.
Nhưng tới năm 2010 một tín hiệu khả quan cho hoạt động này, là doanh số hoạt
động nhập khảu L/C đã tăng trở lại đạt tới con số 10,870USD.
5.5. Lợi nhuận trước thuế
Lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh Ngô Quyền không ngừng tăng lên qua
các năm, cụ thể: năm 2007 là 8,372 triệu đồng; năm 2008 là 9,568 triệu đồng; năm
( Đơn vị: Triệu đồng )
Chỉ tiêu Năm
2007
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số tuyệt
đối
So với
năm 2007
Số tuyệt
đối
So với năm
2008
Số tuyệt đối So với
năm 2009
Tổng doanh
số cho vay 1132,941 664,509 -41.35% 1259,114 89.48% 1694,232 16.27%
DNN&V 385,200 248,191 -35.57% 528,828 113.07% 806,245 52.45%
DN siêu nhỏ 55,647 59,806 7.47% 80,730 34.97% 90,125 11.6%
Cá nhân 566,471 283,413 -49.97% 566,602 99.92% 701,536 23.81%
Hộ gia đình 125,623 73,099 -41.81% 82,954 13.48% 96,326 16.12%
(Nguồn: Thuyết minh BCTC Chi nhánh Ngô Quyền )
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
15
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
Doanh số cho vay của ngân hàng Vpbank chi nhánh Ngô Quyền có sự biến
động trái chiều qua các năm: giảm năm 2008 và lại tăng lên năm 2009. Cùng với
đó, doanh số cho vay đối với DNVVN cũng tăng giảm theo sự biến động của
DSCV. Cụ thể:
Năm 2007- năm khai trương chi nhánh , tổng doanh số cho vay của chi
16
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
sách lãi suất linh hoạt, hỗ trợ lãi suất cho vay, chủ động tìm kiếm những DN mới
hoạt động kinh doanh hiệu quả, duy trì tốt mối quan hệ với DN truyền thống, nâng
hạn mức cho vay với DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng được đánh giá
tốt…
Sang tới năm 2010 với nhiều tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế thế giới về
Việt Nam, gói kích cầu của chính phủ trong năm 2009 cũng bắt đầu phát huy hiệu
quả phần nào. Thêm vào đó năm nay gói kích cầu của chính phủ vẫn còn hiệu lực,
các ngân hàng vẫn đang tiếp túc cố gắng rải ngân cho vay với các DNVVN. Do đó
tổng doanh số cho vay của chi nhánh tăng một cách đáng kể 16.27%, trong đó tăng
đối với DNVVN là 52.45%. Điều này chứng tỏ, chi nhánh Vpbank vẫn tiếp tục xu
hướng tập trung vào thị trường DNVVN và cho vay tiêu dùng.
1.1.2. Tổng dư nợ đối với DNVVN
Dư nợ tín dụng DNVVN là số tiền mà ngân hàng hiện còn đang cho DN vay tại
một thời điểm nhất định ( hay lượng vốn mà DN còn nợ ngân hàng tại một thời điểm
cụ thể), được xác định bằng số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Bảng 3 Tình hình dư nợ đối với DNVVN
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Năm 2010
(tới tháng 10 )
Số
tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số
tuyệt
Nợ quá hạn là biểu hiện không lành mạnh của khoản vay, chứa đựng nguy cơ
rủi ro của ngân hàng do khách hàng gây ra. Các khoản nợ quá hạn làm kéo dài thời
hạn tín dụng, làm thay đổi kế hoạch tài trợ, kinh doanh của ngân hàng, mặt khác có
thể dẫn tới nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Đây là một
trong những chi tiểu quan trọng để xác định được tính hiệu quả của hoạt động cho
vay với DNVVN của VPbank. Chỉ tiêu này được phản ánh qua bảng sau.
Bảng 4: Tình hình dư nợ đối với DNN&V theo chất lượng tín dụng
của VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ
tiêu
2007 2008 2009 2010
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số
tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Tổng dư nợ
tăng cao ảnh hưởng tới tỷ giá của đồng Việt Nam, tới việc khan hiếm nguồn vốn,
trong năm này việc tiếp cận các nguồn vốn của DNVVN nhỏ cũng bị ảnh hưởng
trực tiếp bới chính sách thắt chặt tìn dụng của ngân hàng nhà nước.Đã rất nhiều
doanh nghiệp phải lao đao, tình hình hoạt động kinh doanh bắt đầu xuống dốc. Tuy
vậy, với tỷ lệ nợ xấu là 1,46% thực sự đây là một con số so với các ngân hàng khác
lúc bấy giờ vẫn là một con số khá là an toàn. Đạt được con số này một phần là nhờ
đội ngũ quản trị của Vpbank đã linh động sáng suốt trong việc gia hạn và cơ cấu nợ
cho các DNVVN. Nhưng điều này chỉ có thế có tác dụng trong ngắn hạn. Thực tế là
cho thấy tới năm 2009, tỷ lệ nợ xấu này đã tăng lên một cách đột biến lên tới
12.51%. Đây chính là hệ quả khi mà ban quản trị của VPbank đã ra quyết định hạn
chế việc gia hạn và cơ cấu lại nợ. Vì thế mà trong năm 2009 tổng dư nợ đối với
DNVVN của VPBank-Chi nhánh Ngô Quyền là 206,684 triệu đồng. Trong đó, nợ
nhóm I là 176,824 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 85.55%; nợ nhóm II là 4,000 triệu
đồng, chiếm tỷ trọng 2.94%; nợ xấu là 25,860 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 12.51% . .
Nợ xấu đối với DNVVN cao là một trong những nguyên nhân chính làm cho tỷ lệ
nợ xấu của toàn Chi nhánh tăng lên 3.61%. Năm 2010 khi mà nền kinh tế thế giới
có dấu hiệu ấm lên và cũng trong năm nay chính phủ tiếp thực hiện gói kích cầu trợ
giúp cho các DNVVN,các gói kích cầu từ năm 2009 này đã phát huy được tác dụng
giúp cho các DN có thế hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Và một tín hiệu vui đó
là việc nợ xấu của chi nhánh đã giảm xuống chỉ còn 2.56 % nhỏ hơn 3%
Như vậy nhìn lại gần bốn năm hoạt động cho thấy tỷ lệ mất vốn của ngân hàng
với DNVVN luôn đi theo chiếu hướng tăng cao, điều này sẽ gây cho NH không ít khó
khăn, NH nên có các biện pháp đề khắc phục tình trạng này.
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
19
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
1.2.2. Lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu lớn nhất mà các NH hướng tới. Vì thế, ngoài những
chỉ tiêu đã nêu trên, để đánh giá chất lượng tín dụng còn có thể xem xét đến mức
dụng đối với DNVVN vào tổng lợi nhuận từ tín dụng vẫn tăng 3.12% so với năm
2007,từ 30.37% lên 33.49%.
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
20
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
Năm 2009, lợi nhuận từ tín dụng đối với DNN&V tăng 3,300 triệu đồng lên
8,100 triệu đồng ;dư nợ tín dụng đối với DNN&V tăng 76,218 triệu đồng so với
năm 2008, tăng lên 206,684 triệu đồng nên Lợi nhuận từ tín dụng đối với DNN&V/
Tổng dư nợ đối với DNN&V tăng lên 3.92%, tăng 1.24% so với năm 2008. Năm
2009, đóng góp của lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNN&V tăng 4.18% so
với năm 2008, tăng lên 37.67% và trong 10 tháng đầu năm 2010 tỷ lệ đó tiếp tục
tăng 13.44% so với năm 2009 tăng lên 51.11% . Tất cả các con số trên đều chứng tỏ
chất lượng cho vay đối với DNVVN luôn được đảm bảo.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay tại chi nhánh Vpbank
Ngô Quyền
2.1. Các nhân tố khách quan
2.1.1. Môi trường kinh tế
Hoạt động ngân hàng rất dễ nhạy cảm với mỗi sự thay đổi của nền kinh tế.
Khi nền kinh tế tăng trưởng, các ngân hàng cũng có xu hướng tăng trưởng theo và
ngược lại. Các nhân tố ảnh hưởng tới môi trường kinh tế là chu kì kinh tế, tỷ lệ lạm
phát, mức độ ổn định của giá cả, lãi suất, tình trạng thất nghiệp….Theo ông Trịnh
Quốc Cường trường phòng tín dụng của phòng giao dịch Hoàn Kiếm trực thuộc chi
nhánh cập 1 Vpbank Ngô Quyền. Những nhân tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới
hiệu quả cho vay của ngân hàng Vpbank chi nhánh Ngô Quyền. Nền kinh tế tăng
trưởng ổn định đi lên sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các DNVVN mở rộng sản xuất, kích
thích nhu cầu tín dụng. Sản xuất phát triển là cơ hội để các ngân hàng mở rộng hoạt
động cho vay, nâng cao chất lượng các khoản vay, thu hồi nợ thuận lợi. Còn nền
kinh tế suy thoái, lạm phát tăng cao, lãi suất biến động khó lường… sẽ làm giảm
nhu cầu đầu tư, các DNVVN do năng lực tài chính thấp sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề,
kinh doanh, đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Môi
trường chính trị có ổn định thì các DN mới an tâm bỏ vốn vào thị trường, mở rộng
đầu tư. Từ đó sẽ phát sinh nhu cầu vay vốn và tín dụng ngân hàng chính là nguồn
tài trợ vốn có hiệu quả. Ngược lại, nếu chính trị bất ổn thì nhu cầu tín dụng sẽ giảm
làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng.Vì cũng là một ngân hàng
thương mại nên Vpbank cũng không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng này. Nhất là mục
tiêu của Vpbank là thị trường bán lẻ, tập trung thị trường cho vay đối với người tiêu
dùng và các DNVVN . Cho nên các chính sách, công cụ điều tiết của chính phủ như
chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách tiền tệ sẽ tác động trực tiếp và
khá rõ ràng tới ngân hàng. Đặc biệt chính sách tiền tệ, chúng ta có thể thấy rõ biểu
hiện của nó, năm 2009 khi mà chính phủ đưa ra gói kích cầu, ữu đãi vốn vay cho
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
22
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
cái DNVVN, hỗ trợ lãi suất tới tận 4% cho các doanh nghiệp này, kết quả cả tổng
doanh số cho vay, và doanh số cho vay với DNVVN đều tăng mạnh 89.48% và
113,07% . Rõ ràng chính sách của nhà nước là một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh
hưởng tới hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại Vpbank.
Một nhân tố nữa cũng không kém phần quan trọng đó chính là môi trường
pháp lý. Không chỉ ngân hàng mà tất cả các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng ít hay
nhiều bởi nhân tố này. Môi trường pháp lý được hiểu là hệ thống luật mà nhà nước
đã ban hành.Nhân tố này vừa ảnh hưởng trực tiếp vừa ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt
đông của ngân hàng.Ông Cường có giải thích rằng trong nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò quan trọng, là một hàng rào pháp lý
tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể kinh tế, nhà nước, cá nhân, công dân và bắt buộc các chủ thể
phải tuân theo. Các tố chức cá nhân đều phải chịu sự tác động của nó, ngân hàng
cũng vậy. Mặt khác, đối với các DN, người tiêu dùng là khách hàng của chi nhánh
cũng chịu tác động của pháp luật, vì thế nhân tố này cũng tác động một cách gián
* Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp
Hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh bó hẹp trong một phạm vi
nhỏ, số lượng mặt hàng ít mà họ thường kinh doanh đa dạng các mặt hàng, mở rộng
mạng lưới tiêu thụ ra nhiều khu vực lãnh thổ, từ các tỉnh thành phố trong nước ra
các nước trong khu vực và thế giới. Sự hình thành mạng lưới hoạt động phức tạp
như thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự tổ chức sản xuất và tiêu thụ hợp lý. Tổ
chức tốt việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là yếu tố giúp quá trình tái sản xuất diễn
ra được thông suốt, nhanh chóng, tăng khả năng quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí và
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự đảm
bảo cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng
2.2. Các nhân tố chủ quan
Đây là các nhân tố thuộc về bản thân của ngân hàng, nội tại của ngân hàng
mà có liên quan tới hoạt động và phát triển của ngân hàng, đặc biết có liên quan tới
hiệu quả cho vay đối với DDVVN tại chi nhánh VPbank Ngô Quyền. Thông qua
một cuộc khảo sát điều tra thực tế tại chi nhánh,tôi đã sử dụng kết quả bảng hỏi của
35 nhân viên ngân hàng( Bảng 1 trang 50 ) ,từ đó dựa vào câu trả lời của nhân viên
trong chi nhánh mà chúng ta có thể thấy trong các nhân tố chủ quan thì có 5 nhân tố
Sinh viên thực hiện: Lưu Quang Tùng Lớp: QTKD Công nghiệp & Xây dựng
B
24
GVHD: TS. Nguyễn Thành Hiếu
chính tác động tới hiệu quả cho vay của chi nhánh : chính sách tín dụng, quy trình
tín dụng, cơ cấu tổ chức ngân hàng, trình độ nhân viên và kiểm soát nội bộ
2.2.1. Chính sách tín dụng
Bảng 2.2.1: Bảng thông kê kết quả điều tra
câu hỏi câu trả lời số người trả lời tỷ lệ
1) Chính sách tín dụng có
ảnh hưởng tới hiệu quả
cho vay của ngân hàng