Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Sở Giao Dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 25

PHẦN 1 - MỞ ĐẦU
Những diễn biến tiêu cực trên thị trường thế giới trong thời gian qua đã có
những tác động không nhỏ tới Việt Nam. Nguồn tín dụng khan hiếm, các Ngân hàng
thương mại buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt các khoản cho vay. Trong năm
2009, hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng phải đứng trước nhiều khó khăn: vừa phải
đề phòng nguy cơ tái lạm phát; tăng cường đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp trong bối cảnh huy động các nguồn vốn khá khó khăn.
Trước tình hình đó, các ngân hàng thương mại luôn cần có những sự chuẩn bị
và ứng phó hiệu quả với mọi diễn biến có thể xảy ra, nhất là trong công tác hạn chế
và xử lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Vì vậy, trong thời gian tới việc phòng
ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là thực sự có ý nghĩa và luôn là một đề tài bức xúc
đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tìm được các biện pháp phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng để tăng hiệu quả trong kinh doanh ngân hàng là mong
muốn của tất cả các nhà kinh doanh tiền tệ khi phải đối đầu với sự cạnh tranh quyết
liệt, giành giật thị phần để mang lại lợi nhuận.
Nhận thức được điều đó, cùng với mong muốn sử dụng những kiến thức đã
học cũng như các kết quả quan sát, học hỏi từ thực tiễn hoạt động tại chi nhánh Sở
giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài nghiên
cứu là: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Sở Giao Dịch 1 - Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”.
1
PHẦN 2 - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương
mại.
1.1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện chức năng phân
bổ nguồn vốn nhàn rỗi tới những nơi cần vốn đầu tư, hoặc tái phân bổ nguồn lực tài

Ngân hàng với vai trò thủ quỹ cho nền kinh tế, chịu trách nhiệm chi trả mọi nhu cầu
cho người gửi tiền. Do vậy ngân hàng luôn phải giữ một lượng tiền mặt trong két,
tiền gửi tại các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Nhìn chung ngân quỹ của
ngân hàng là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp song lại là tài sản có tính
thanh khoản - tính lỏng - cao nhất đáp ứng yêu cầu chi trả thường xuyên. Do vậy,
mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được.
+ Tín dụng: Là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng
thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Bản chất của hoạt động
tín dụng là ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời
gian nhất định. Sau khoảng thời gian đó, ngân hàng sẽ thu hồi cả vốn và lãi. Chính vì
vậy, hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Vấn đề này đặt ra yêu
cầu cho các ngân hàng thương mại là phải đặc biệt chú ý đến công tác phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng.
+ Đầu tư: Danh mục các hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại gồm:
đầu tư vào trái phiếu chính phủ, đầu tư vào các dự án bất động sản,…
- Hoạt động trung gian: dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh toán không dùng
tiền mặt, dịch vụ môi giới, tư vấn, uỷ thác, đầu tư, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
bảo hiểm, Hoạt động này góp phần làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch
vụ thanh toán, và đồng thời làm tăng nguồn vốn để mở rộng hoạt động cho vay của
ngân hàng, thể hiện trên số dư có của tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Nói chung, hoạt động của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể,
hoạt động huy động vốn quyết định quy mô, phạm vi hoạt động cho vay của ngân
hàng, hoạt động sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng và nó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở nguồn vốn được huy động, hoạt
động trung gian phát triển sẽ thu hút được thêm nhiều khách hàng, tạo điều kiện mở
rộng hoạt động huy động vốn và cho vay. Mỗi hoạt động của ngân hàng đều là tiền
3
đề, điều kiện để duy trì và phát triển các hoạt động khác, và cũng dựa vào hoạt động
khác để phát triển, mở rộng phạm vi cho chính mình. Tuy nhiên, trong các hoạt động
của ngân hàng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động quan trọng quyết định kết quả

4
Tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng quá hạn có khả năng thu hồi, tín
dụng quá hạn khó thu hồi.
+ Theo tài sản đảm bảo: Việc phân loại theo tiêu thức này có ý nghĩa quan
trọng đối với các ngân hàng trong việc định hướng thu hồi nợ, là loại cho vay được
ngân hàng cung cấp cho đối tượng khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo hoặc có
sự đứng ra bảo lãnh của bên thứ ba. Thông thường theo tiêu thức này tín dụng được
chia thành hai loại: Tín dụng có bảo đảm, tín dụng không có bảo đảm.
+ Theo mục đích sử dụng vốn: tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ
thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá hoặc cá nhân, hộ
gia đình đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng… phục vụ
quá trình sinh hoạt. Theo tiêu thức phân loại này tín dụng được chia thành hai loại:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng tiêu dùng.
Ngoài các tiêu thức trên tín dụng còn có thể phân loại theo hình thức tài trợ,
theo ngành kinh tế, theo xuất xứ tín dụng tuỳ theo mục đích nghiên cứu.
- Nguyên tắc: Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số
nguyên tắc đã được cụ thể hoá trong các quy định của ngân hàng nhà nước, cụ thể:
+ Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả. Các khoản
tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay.
- Quy trình phân tích tín dụng: Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng
thương mại luôn đặt ra mục tiêu cao nhất là thu hồi được gốc và lãi vay theo thời
hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Để thực hiện được mục tiêu này, ngân
hàng thương mại cần tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng thông qua một quy trình
chính như sau :
+ Phân tích trước khi cấp tín dụng.
Đây là bước quan trọng, quyết định chất lượng của phân tích tín dụng. Nội

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi.
Ngày nay, dù có rất nhiều hình thức kinh doanh mới trong hoạt động ngân
hàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ
yếu của các ngân hàng. Vì thế ở tất cả các nước, rủi ro tín dụng là vấn đề được đặc
biệt quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng, mà cả trong toàn nền kinh tế. Các
ngân hàng luôn luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những lợi tức cao nhất
có thể có ở các món vay và chứng khoán, đồng thời cố gắng giảm thiểu rủi ro liên
6
quan đến các hoạt động cho vay, như: sàng lọc và giám sát khách hàng vay, thiết lập
mối quan hệ khách hàng lâu dài, quy định các mức tín dụng, vật thế chấp, số dư bù và
hạn chế tín dụng. Dẫu sao, không một ngân hàng nào nghĩ được hết mọi sự bất ngờ
khi nó viết ra những quy định hạn chế vào một hợp đồng cho vay; sẽ luôn luôn có
những hoạt động rủi ro của người vay tiền, chưa có một quy định hạn chế nào loại bỏ
được chúng cả.
1.1.2.2. Mô hình đo lường rủi ro tín dụng.
Nếu các ngân hàng chỉ dựa duy nhất vào phương pháp truyền thống để đánh
giá rủi ro tín dụng thì vừa mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ quan. Vì vậy,
một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng của
người vay. Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với phương pháp truyền thống
ở chỗ: nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay, với chi
phí thấp, khách quan. Do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng
ngân hàng. Các mô hình cho điểm tín dụng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc
điểm của người vay để lượng hoá xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay
thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau. Để sử dụng các mô hình này, các nhà
quản lý phải xác định được các tiêu chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro
tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể: Mô hình xếp hạng của Moody's, mô
hình điểm số A, mô hình của Taffler, hệ thống cho điểm tín dụng, hệ thống xếp hạng
nội bộ, mô hình tính điểm số.

ngân hàng đúng hạn. Họ chây ỳ với hy vọng để quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng
lâu càng tốt. Vì vậy, công tác thẩm định và quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng là
hết sức cần thiết nó đảm bảo việc phòng ngừa và hạn chế được các rủi ro có thể xảy
ra trong đó có cả rủi ro về đạo đức.
- Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:
Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá
không tốt, cố tình làm sai, là một trong những nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Nhân viên ngân hàng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề, nhiều vùng, thậm chí
nhiều quốc gia. Để cho vay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách
hàng kinh doanh, môi trường mà khách hàng sống. Họ phải có khả năng dự báo các
vấn đề liên quan đến người vay, Như vậy, họ phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ
lưỡng, liên tục và toàn diện. Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách hàng họ
chưa đủ trình độ để hiểu kỹ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ. Sống trong môi
trường "tiền bạc", nhiều nhân viên ngân hàng đã không tránh khỏi cám dỗ của đồng
tiền. Họ tiếp tay cho khách hàng rút ruột ngân hàng. Như vậy, chất lượng nhân viên
ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghề nghiệp không đảm bảo là nguyên nhân
của rủi ro tín dụng.
8
Ngoài ra, nguyên nhân do cơ cấu tổ chức tín dụng, chính sách, quy trình tín
dụng, khả năng nhận biết rủi ro tín dụng, công cụ đánh giá rủi ro tín dụng, công
nghệ, của ngân hàng thương mại còn chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, chưa phù hợp
gây bất lợi cho hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Đây cũng chính là những nguyên nhân quan trọng gây ra rủi ro tín dụng ở các ngân
hàng thương mại hiện nay.
1.2. Hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm về hạn chế rủi ro tín dụng.
Hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng chính là năng lực thực hiện các chính
sách, quy trình tín dụng dựa trên cơ cấu tổ chức được thiết lập, cơ sở công nghệ ngân
hàng hiện có, khả năng chỉ đạo điều hành của Ban lãnh đạo, khả năng triển khai đội
ngũ nhân viên và các công cụ hỗ trợ thực hiện việc hạn chế sự xuất hiện của rủi ro

quản lý chặt chẽ rủi ro tín dụng và xử lý rủi ro tín dụng một cách hợp lý và triệt để.
* Quá trình quản lý rủi ro tín dụng gồm các bước sau:
- Bước 1: Phân hạng danh mục rủi ro tín dụng.
- Bước 2: Rà soát, xếp hạng rủi ro.
- Bước 3: Danh mục rủi ro tín dụng cần giám sát, nội dung giám sát.
- Bước 4: Lập phương pháp giám sát hợp lý.
- Bước 5: Quá trình kiểm tra, đánh giá.
- Bước 6: Các dấu hiệu cảnh báo về những khoản tín dụng có khả năng có vấn đề.
* Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại gồm:
- Xử lý các nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng thương mại:
+ Tổ chức hợp lý và khoa học quy trình tín dụng theo hướng chặt chẽ và có hiệu
quả, tập trung vào ba giai đoạn: nghiên cứu khách hàng, giám sát khách hàng vay và thu
nợ.
+ Thực hiện đa dạng hóa khách hàng và phương thức cho vay nhằm phân tán rủi
ro.
+ Nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là năng lực thẩm định dự án,
thẩm định khách hàng.
+ Xây dựng chiến lược khách hàng.
- Xử lý nợ quá hạn: Khi một khoản cho vay có vấn đề thì không phải ngân hàng
thương mại sẽ mất trắng. Ngân hàng thương mại cần phải tìm cách thu hồi toàn bộ hoặc
một phần khoản vay. Có hai sự lựa chọn đối với xử lý nợ quá hạn: khai thác hoặc thanh
lý. Tuy vậy cần nhấn mạnh ở đây ba nguyên tắc xử lý nợ quá hạn là: chống xóa nợ, hạn
chế gia nợ, chống đảo nợ.
+ Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản nợ được
trả một phần hay toàn bộ mà không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc thu nợ.
+ Thanh lý đối với các khoản nợ có vấn đề, nợ khó đòi được thực hiện khi việc tổ
chức khai thác tỏ ra không hiệu quả. Các công cụ để thực hiện thanh lý bao gồm: phát
10
mãi tài sản thế chấp, kết hợp với cơ quan pháp lý để ếp buộc thu hồi nợ, sử dụng nghiệp
vụ mua bán nợ trên thị trường.

Mặc dù các ngân hàng thương mại luôn tìm cách phòng ngừa và hạn chế rủi ro
tín dụng nhưng kết quả hạn chế rủi ro tín dụng đạt được không luôn như mong đợi.
11
Chính vì thế việc tìm hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến các biện pháp phòng ngừa,
hạn chế rủi ro tín dụng luôn là điều mà các ngân hàng thương mại cần quan tâm để
từ đó có cơ sở đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
dụng hiệu quả nhất.
1.2.3.1. Nhân tố chủ quan.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc hạn chế rủi ro tín dụng như:
- Nhận diện rủi ro tín dụng:
Mất an toàn trong cho vay thường ẩn chứa trong các khoản cho vay có vấn đề.
Do vậy việc nhận biết nguy cơ, tình trạng mất an toàn trong cho vay thông qua các
dấu hiệu trong các khoản vay là hết sức quan trọng. Dựa trên những yếu tố cấu thành
và những yếu tố có liên quan đến các chủ thể trong quan hệ vay - trả giữa ngân hàng
và người vay, cũng như những biến động có thể của những yếu tố đó. Ngân hàng cần
có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có những biện
pháp cần thiết để ngăn chặn hoặc xử lý chúng. Việc nhận diện được các dấu hiệu rủi
ro thực tế không dễ dàng. Nếu ngân hàng phát hiện ra được nhiều, chính xác dấu
hiệu xảy ra rủi ro tín dụng thì từ đó sẽ có hướng để áp dụng các biện pháp ngăn ngừa
hoặc hạn chế rủi ro tín dụng đó.
- Đánh giá rủi ro tín dụng:
Khi đánh giá rủi ro tín dụng theo phương pháp định tính cán bộ tín dụng
thường không nhất trí về cách xem xét các tiêu chí định tính như: chất lượng quản
lý, đặc điểm ngành nghề, khả năng cạnh tranh. Do đó chất lượng của việc đánh giá
rủi ro tín dụng theo phương pháp định tính phụ thuộc nhiều vào khả năng, trình độ
của cán bộ tín dụng. Hơn nữa quá trình đánh giá rủi ro tín dụng phụ thuộc vào tâm lý
và nhiều yếu tố chủ quan khác của cán bộ tín dụng. Tất cả những điều đó làm cho
công tác đánh giá rủi ro theo phương pháp định tính trở nên rất khó để xác định,
thẩm tra.
- Chính sách tín dụng và quy trình tín dụng:

- Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ:
Đây là một trong những hoạt động chính của các ngân hàng, nó được tiến hành một
các thường xuyên, liên tục nhằm duy trì hoạt động của ngân hàng diễn ra một cách an toàn
và hiệu quả. Trong hoạt động cấp tín dụng, quá trình kiểm tra, thẩm định chặt chẽ các
khoản tín dụng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra, nâng cao
chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng và đảm bảo thu nhập cho ngân hàng.
1.2.3.2. Nhân tố khách quan.
- Rủi do từ khách hàng:
+ Năng lực, trình độ quản lý của các khách hàng: Chất lượng nguồn nhân lực
của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ, công nhân viên với trình độ cao, nhiều
kinh nghiệm trong quản lý nguồn vốn đi vay là điều kiện cần thiết để đem lại hiệu quả
13
cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đảm bảo khả năng thanh toán các
khoản tín dụng cho ngân hàng.
+ Tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng: Nếu
doanh nghiệp gặp những khó khăn trong sản xuất kinh doanh như: sản phẩm làm ra
không tiêu thụ được, sử dụng vốn sai mục đích hoặc sử dụng vào các hoạt động có
mức rủi ro cao dẫn đến thua lỗ và không thu hồi được vốn.
+ Đạo đức của người đi vay: Để đáp ứng điều kiện đưa ra của ngân hàng về
điều kiện đảm bảo, cách thức sử dụng vốn vay, hoàn trả vốn… thể hiện ở chỗ người
vay không có thực lực tài chính nhưng cố tình quảng cáo, phô trương thanh thế, xây
dựng mối quan hệ thân thiết và có uy tín với ngân hàng để vay hoặc người vay kê
khai tài sản thế chấp gian dối, làm giả báo cáo tài chính lành mạnh Tuy nhiên, sau
khi đã được nhân vốn khách hàng không thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng
đối với ngân hàng hoặc khách hàng chây ỳ trả nợ, quỵt nợ khi đã đến hạn.
+ Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp: Đây là đặc điểm đầu tiên mà các
ngân hàng cần quan tâm trước khi tiến hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Đối với
các doanh nghiệp hoạt động hay đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm, thường xuyên có
sự biến động như bất động sản, chứng khoán… thì thu nhập đạt được thường cao

15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH 1.
2.1. Giới thiệu khái quát về chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam.
2.1.1. Giới thiệu khái quát Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam.
Chi nhánh Sở giao dịch 1 với tiền thân là Sở giao dịch 1 (SGD) được thành
lập ngày 28/3/1991 theo Quyết định số 76 QĐ/TCCB của Tổng giám đốc Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam, với nhiệm vụ là đơn vị trực tiếp kinh doanh của Hội
sở chính (HSC), thực thi có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược của BIDV. Bên cạnh
truyền thống cấp phát vốn và phục vụ nhu cầu vốn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
cơ bản, SGD từng bước trở thành đơn vị chủ lực trong hệ thống BIDV về quy mô và
doanh số hoạt động. SGD là nơi thực nghiệm các sản phẩm mới, thực hiện các
nhiệm vụ chăm sóc khách hàng đặc biệt, là môi trường đào tạo cán bộ quản lý, cán
bộ nghiệp vụ cho HSC. Đồng thời SGD cũng là đơn vị tiên phong triển khai thành
công hệ thống công nghệ mới, phương án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh
toán, mô hình quản lý mới theo hướng ngân hàng hiện đại.
Chi nhánh SGD 1 có trụ sở đặt tại Tháp A Vincom - 191 Bà Triệu, thực hiện
hạch toán nội bộ, có bảng cân đối tài khoản riêng, có con dấu riêng và trực tiếp giao
dịch với khách hàng. Kể từ khi ra đời, CN SGD 1 đã trải qua nhiều giai đoạn phát
triển:
Tháng 10 năm 2008, thực hiện quyết định của Ngân hàng Nhà nước về việc
mỗi ngân hàng thương mại chỉ được hoạt động một sở giao dịch, SGD 1 đã được đổi
tên thành Chi nhánh SGD 1 với mô hình tổ chức không thay đổi.
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Sở Giao Dịch 1.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, đặc biệt là trong hoạt động ngân
hàng với nhiều ngân hàng lớn trên thế giới phá sản bắt đã có những ảnh hưởng vô
cùng to lớn tới tình hình kinh tế toàn cầu nói chung và tình hình kinh tế của Việt

15.304.462
(100%)
28.919.460
(100%)
20.328.495
(100%)
20.809.293
(100%)
1. TG tổ chức
12.760.106
(83,38%)
26.485.352
(91,58%)
18.146.825
(89,27%)
19.330.138
(92,89%)
-TG KKH
3.768.506
(24,62%)
7.953.210
(27,5%)
6.123.410
(30,12%)
5.366.374
(25,79%)
- TG CKH
8.991.600
(58,75%)
18.532.142

395.620
(1,37%)
158.421
(0,78%)
115.647
(0,56%)
3. Huy động
khác
53.335
(0,35%)
78.235
(0,27%)
120.531
(0,59%)
148.253
(0,71%)
(Nguồn:báo cáo kết quả kinh doanh chi nhánh Sở giao dịch 1 BIDV 2008 - 2011)
Từ bảng 2.1 có thể nhận thấy,tình hình huy động vốn của chi nhánh Sở giao
dịch 1 liên tục tăng trong các năm qua. Năm 2011 tổng nguồn vốn huy động của Sở
tăng 2,37%. Trong đó, tiền gửi tổ chức chiếm đến 92,89% tổng nguồn vốn huy động,
tăng 1.183.313 triệu đồng so với năm 2010. Nếu so với tổng nguồn vốn huy động
năm 2010 thì năm 2011 đã tăng 35,96%. Có thể thấy, trong năm 2009 lượng vốn huy
động đạt được mức cao nhất và so các năm sau có sự sụt giảm. Có thể giải thích điều
này đó là do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Giai đoạn 2008 -
2009 là giai đoạn phát triển nóng nhất của nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên do khủng
hoảng kinh tế, Chính phủ cũng như bản thân Ngân hàng đã có những hoạt động điều
hành thích hợp để có thể đứng vững trong giai đoạn khó khăn đó.
Tuy nhiên, trong khi tiền gửi từ các tổ chức liên tục tăng trong các năm qua
thì lượng tiền gửi huy động từ các tổ chức dân cư lại có xu hướng giảm. Trong năm
2011 đã giảm 35,42 % so với năm 2010. Có thể dễ dàng nhận thấy mục tiêu hoạt

giai đoạn 2008 - 2011
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Tổng dư nợ
(tỷ trọng)
5.099.321
(100%)
5.807.045
(100%)
8.008.509
(100%)
8.798.904
(100%)
1. CV ngắn hạn
2.059.282
(40,4%)
2.915.632
(50,2%)
2.853.725
(35,6%)
2.959.901
(36,3%)
2. CV Trung dài
hạn
1.095.379
(21,5%)
1.035.021
(17,8%)
2.922.321
(36,5%)

(Nguồn:báo cáo kết quả kinh doanh chi nhánh Sở giao dịch 1 BIDV 2008 - 2011)
Xét trên tổng thể, tổng dư nợ tại chi nhánh Sở giao dịch 1 đã có những bước
phát triển đáng kể so với các năm trước. Cụ thể, tổng dư nợ năm 2011 so với năm
2010 tăng 9,86% và so với năm 2008 tăng 15,50%. Những số liệu trên cho thấy tình
hình hoạt động của Sở đang có những kết quả rất tốt, bằng những mục tiêu và chính
sách thích hợp để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, tìm kiếm khách hàng mới và duy
19
trì mối quan hệ tốt đẹp với những khác hàng cũ, Sở đã góp phần không nhỏ vào sự
tăng trưởng của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV.
Nhìn vào bảng 2.2 ta có thể thấy xu hướng hoạt động của chi nhánh Sở giao
dịch 1 đang có một số thay đổi so với các năm trước. Trong đó, tỉ lệ cho vay ngắn
hạn cũng như cho vay trung và dài hạn đã trở nên cân bằng hơn. Năm 2011 tỉ lệ cho
vay dài hạn là 39,67% và tỉ lệ cho vay ngắn hạn là 36,3% so với tổng dự nợ. Năm
2010, tỉ lệ tương ứng so với tổng dư nợ của vay ngắn hạn cũng như trung và dài hạn
là 35,6% và 36,5%. Có thể nhận thấy, chi nhánh Sở giao dịch 1 đã chú trọng phát
triển và phục vụ đa dạng hơn trong các nhu cầu của khách hàng,đáp ứng được nhu
cầu vay vốn của xã hội. Điều nay cho thấy rõ qua việc tăng lên của tổng dư nợ, tổng
tài sản (bảng 2.3) cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của Sở.
Bảng 2.3: Tổng kết quá trình hoạt động của ngân hàng BIDV
chi nhánh Sở giao dịch 1 giai đoạn 2008 - 2011
(Đơn vị:triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Tổng tài sản 17.899.521 30.125.642 20.456.321 22.654.597
Thu dịch vụ ròng 76.850 115.000 118.000 139.227
Lợi nhuận trước thuế 321.000 428.000 300.000 446.385
Thu dịch vụ ròng/ lợi nhuận
trước thuế
23,9% 26,87% 39,33% 31,19%
TG và các khoản huy động khác 15.304.462 28.919.460 20.329.495 20.809.293
Dư nợ TD ròng 5.099.321 5.807.045 8.008.509 8.798.904

Có thể dễ dàng nhận thấy, cơ cấu tín dụng theo loại vay của chi nhánh SGD 1
đã có nhưng thay đổi rõ rệt. Cho vay dài hạn liên tục tăng trong 3 năm gần đây dẫn
đến tổng dư nợ tăng lên đáng kể.
Trong khi đó, khối lượng cho vay ngắn hạn trong thời gian qua vẫn duy trì ở
mức ổ định và không có nhiều biến động. Tuy nhiên, do sự tăng mạnh của cho vay
trung và dài hạn nên tỷ trọng cho vay ngắn hạn có sự giảm sút.
Bên cạnh đó, cho vay đồng tài trợ, cho vay kế hoạch nhà nước và cho vay tài
trợ ủy thác có xu hướng giảm dần so với các năm trước. Có thể thấy, đây chính là
chính sách hoạt động linh hoạt của Sở trong từng thời kì, nhanh chóng điều chỉnh phù
hợp với tình hình biến động của nền kinh tế trong nước và quốc tế.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, chi nhánh SGD 1 luôn có
những phương án thích hợp để duy trì cũng như đẩy mạnh sự phát triển của mình.
Bên cạnh đó, bằng những chính sách thích hợp góp phần ổn định nền kinh tế, hỗ trợ
các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh cũng là một mục tiêu lớn trong
từng bước phát triển của Sở nói riêng và của Ngân hàng đầu tư và phát triển nói
chung.
2.2.1.2. Cơ cấu tín dụng theo tính chất bảo đảm.
Cơ cấu tín dụng theo tính chất bảo đảo được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng theo tính chất đảm bảo
(Đơn vị:triệu đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Dư nợ
(tr VND)
Tỷ trg
(%)
Dư nợ
(tr VND)
Tỷ trg
(%)

cho vay không có đảm bảo phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố như độ tin cậy của
khách hàng,khả năng tài chính… cũng như năng lực làm việc của đội ngũ nhân viên.
Trong thời gian tới, khi tín dụng theo kế hoạch Nhà nước giảm đi, tỷ trọng tín
dụng thương mại tăng lên thì việc tăng tỷ trọng cho vay có bảo đảm là một điều rất
cần thiết nhằm hạn chế bớt những rủi ro tín dụng có thể xảy đến. Với phương châm
mở rộng hình thức tín dụng có bảo đảm tại Sở giao dịch nhăm tăng khả năng hoạt
động kinh doanh và đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong
năm 2011, hình thức tín dụng có bảo đảm đạt gần 8.790 tỷ đồng tăng 789,5 tỷ đồng
so với năm 2010.
Qua phân tích tình hình tín dụng theo tính chất bảo đảm tại Sở giao dịch cho
thấy, tín dụng có bảo đảm chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng dư nợ tín dụng.
Lý do là các khách hàng của Sở giao dịch phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước,
các Tổng công ty có tiềm lực tài chính mạnh, có uy tín và được sự bảo đảm của Nhà
nước. Chính vì thế, việc cho vay có tài sản bảo đảm đối với những đối tượng khách
hàng như trên là không cần thiết.
22
Tuy nhiên, trong thời gian tới khi cơ cấu khách hàng thay đổi, tỷ trọng khách
hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên thì việc thực hiện cho vay có
bảo đảm bằng tài sản là cần thiết để hạn chế rủi ro. Tài sản bảo đảm cho khoản tín
dụng tuy chưa phải là thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng trong thời hạn tín dụng
nhưng khi mà khoản tín dụng này có vấn đề (không có khả năng hoàn trả cho khoản
tín dụng này của doanh nghiệp) nó trở thành nợ quá hạn và nợ khó đòi thì tài sản bảo
đảm lúc này chính là nguồn thu thứ hai của Ngân hàng. Ngân hàng có thể thu hồi
lượng vốn tín dụng mình bỏ ra nhờ phát mại tài sản này, nhờ đó giảm bớt được tổn
thất tín dụng, hạn chế rủi ro.
2.2.2. Tình hình rủi ro tín dụng tại chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam.
Qua phân tích số liệu về tình hình tín dụng tại Sở giao dịch có thể thấy, tín
dụng tăng trưởng khá tốt qua các năm. Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và cơ cấu tín
dụng cũng ngày càng hợp lý hơn. Tuy nhiên, để đánh giá tình hình tăng trưởng tín

( Nguồn: Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh tại SGD 1 BIDV)
Qua bảng số liệu 2.6 ta có thể thấy tỉ lệ nợ quá hạn của trong các năm gần đây
của sở chủ yếu chiếm phần lớn trong thời hạn vay dài, trên 12 tháng. Năm 2009 tỉ lệ
nợ quá hạn trên 12 tháng là 174.210 triệu đồng thì đến năm 2010 đã tăng lên
271.030 triệu đồng, tăng 55,57%. Có thể hiểu được vấn đề trên là do ảnh hưởng xấu
của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, các doanh
23
nghiệp lớn phải chịu những bất lợi từ quốc tế dẫn đến những khó khăn trong việc sản
xuất kinh doanh. Tuy nhiên đến năm 2011, nợ quá hạn đã giảm xuống 193.578 triệu
đồng, giảm 77.452 triệu đồng so với năm 2010. Đó là nhờ những chính sách điều tiết
kinh tế vĩ mô hợp lý của nhà nước nhằm đưa các doanh nghiệp đứng vững trong giai
đoạn khó khăn, sự nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp, linh hoạt trong mọi hoạt
động và đặc biệt là các chính sách hỗ trợ giúp đỡ các doanh nghiệp có vốn đầu tư
kinh doanh của ngân hàng.
NQH có thời hạn dưới 1 năm có thể thấy trên bảng số liệu năm 2010 đã có
chiều hướng tăng. Đây là một điều dễ hiểu bởi năm 2009 là năm vô cùng khó khăn
của nền kinh tế toàn cầu nói chung cũng như của Việt Nam nói riêng. Với rất nhiều
tác động xấu, việc các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc quay vòng vốn lưu
động là điều tất yếu. Tuy nhiên, nếu xét về tổng thể thì tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn trên
tổng dư nợ lại có xu hướng giảm. Điều này cho thấy rằng chất lượng tín dụng của Sở
đang ngày một nâng cao, trình độ chuyên môn quản lý cũng như trình độ nghiệp vụ
liên tục được trau dồi, sự tin tưởng của các doanh nghiệp mới cũng như bạn hàng lâu
năm luôn được duy trì ở mức cao.
Tuy tổng khối lượng nợ quá hạn có xu hướng tăng nhưng xét trên tổng dư nợ,
nợ tỷ lệ nợ quá hạn lại có xu hướng giảm và luôn nằm trong mức độ cho phép là từ
3% đến 5%. Đây có thể cho là một dấu hiệu tích cực và đáng mừng.
Bảng 2.7: Tỷ trọng nợ quá hạn trên tổng dư nợ giai đoạn 2009 - 2011
(Đơn vị:triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Nợ quá hạn 174.210 271.030 193.578

167.067 95,9 249.347 91,9 174.323 90,06
Ngoài KTQD
7.143 4,1 21.683 8,01 19.255 9,94
Tổng
174.210 100 271.030 100 193.578 100
( Nguồn: Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh tại SGD 1 BIDV)

Bảng 2.8 cho ta thấy, từ năm 2009 đến năm 2011, tỷ trọng nợ quá hạn của khu
vực kinh tế quốc doanh luôn chiếm tới trên 90% tổng số nợ quá hạn.
Năm 2009, số nợ quá hạn của khu vực kinh tế quốc doanh là 174.210 triệu
đồng chiếm tới 95,9% tổng số nợ quá hạn tại Sở giao dịch. Trong khi đó, đối với khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh con số này chỉ có 7.143 triệu đồng chiếm tỷ trọng là
4,1%. Xét về mặt tỷ trọng thì có thể thấy nợ quá hạn của các doanh nghiệp quốc
doanh chiếm hầu hết số nợ quá hạn của chi nhánh Sở giao dịch 1.
Năm 2010, cùng với sự tăng trưởng tín dụng cũng như sự ảnh hưởng tiêu cực
của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, số nợ quá hạn của các doanh nghiệp quốc
doanh cũng tăng vọt lên 82.280 triệu đồng đạt 271.030 triệu đồng chiếm 91,9% tổng
nợ quá hạn. Số nợ quá hạn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng tăng lên
14.540 triệu đồng đạt 21.683 triệu đồng chiếm 8,01% tổng nợ quá hạn. Có thể nhận
thấy tuy có sự gia tăng đáng kể của số lượng nợ quá hạn nhưng tỉ lệ nợ quá hạn của
khu vực kinh tế quốc dân trên tổng nợ quá hạn lại giảm so với năm 2009. Đây có thể
là dấu hiệu của sự tích cực đa dạng hóa các hoạt động cũng như phạm vi kinh doanh
và nâng cấp chất lượng tín dụng.
Sang năm 2011, số nợ quá hạn của khu vực kinh tế quốc doanh tính đến thời
điểm 31/12/2011 là 174.323 triệu đồng chiếm 90,06% tổng số nợ quá hạn tại Sở giao
dịch. Như vậy, đến cuối năm 2011 thì tình hình nợ quá hạn đã được giải quyết tốt
hơn năm 2010 nhờ những chỉ đạo kịp thời từ ban lãnh đạo ngân hàng cũng như Sở
giao dịch, nhờ những chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý của nhà nước và những dấu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status