BÁO CÁO THIẾT KẾ CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG Phương pháp, Công cụ Nghiên cứu Tác động của Hội nhập đến Nông nghiệp, Nông thôn - Pdf 25


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DỰ ÁN HỖ TRỢ KỸ THUẬT XÂY DỤNG ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT DỰ
ÁN “PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VIỆC THỰC HIỆN CAM
KẾT WTO VÀ CÁC CAM KẾT KHU VỰC” TRONG NGÀNH NÔNG
NGHIỆP
*****
BÁO CÁO
THIẾT KẾ CÔNG CỤ VÀ
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG Hà Nội, tháng 8 năm 2010 Phương pháp, Công cụ Nghiên cứu Tác động
của Hội nhập đến Nông nghiệp, Nông thôn
đổi mới. Để tham gia vào sân chơi chung của Thế giới, Việt Nam đã chủ động thực
thi đầy đủ và nghiêm túc các cam kết gia nhập WTO, bao gồm các cam kết về mở cửa
thị trường hàng hoá và dịch vụ, và các cam kết đa phương về tuân thủ các quy định
chung trong WTO.
Việc gia nhập WTO đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam như (i) tạo thị trường rộng
lớn cho xuất khẩu hàng hoá sản xuất ở Việt Nam, (ii) xác lập chuẩn mức mới cho việc
xây dựng thể chế kinh tế, (iii) giúp Việt Nam có địa vị bình đẳng với các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, bảo đảm một nền thương
mại công bằng hơn, bình đẳng hơn, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng,
không phân biệt đối xử, nhờ đó tạo điều kiện cho đầu tư của các thành phần kinh tế
thu hút đầu tư nước ngoài.
Đối với Việt Nam, nông nghiệp, nông thôn vẫn đang và tiếp tục đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế. Hiện nay, khoảng 70,4% dân số Việt Nam sinh sống tại khu
vực nông thôn, trên 60% số hộ gia đình dựa vào nông nghiệp làm hoạt động kinh tế
chính và trên 53% lao động thuộc khu vực nông nghiệp, GDP nông nghiệp chiếm
khoảng 22% GDP của cả nước. Việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới sẽ có nhiều
tác động đến khu vực nông nghiệp. Trong khi đó, nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm
và dễ bị tổn thương hơn cả trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm nền sản
xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suất kém, chất lượng sản phẩm không
cao, bình quân đất nông nghiệp trên một lao động thấp, những doanh nghiệp nông
nghiệp vốn lâu nay quen dựa vào sự bao cấp của nhà nước, không có khả năng tự
vươn lên trong cạnh tranh; lực lượng lao động trong các doanh nghiệp này có thể mất
việc làm dân cư trong nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là những vùng khó khăn có
thể bị những tác động tiêu cực do phải mở cửa thị trường, khoảng cách giàu nghèo sẽ
bị doãng ra, ảnh hưởng tiêu cực đến định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Những vấn đề nêu trên cần cũng được nhìn nhận, phân tích và đánh giá qua một số
các nghiên cứu với các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu ảnh
hưởng đến hội nhập nói chung và việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói riêng,
kinh tế xã hội nói chung và tới khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nói riêng

ngành cung cấp và mua các đầu vào trung gian cho nhau. Ví dụ một sản phẩm trong
ngành lúa gạo được bán cho cả ngành chế biến thực phẩm và cho các hộ gia đình. Một
sự thay đổi trong cầu đối với phở sẽ ảnh hưởng đến cả ngành chế biến thực phẩm và
ngành sản xuất gạo. Dòng đầu tư: một số sản phẩm của các ngành, đặc biệt là ngành xây dựng và
ngành sản xuất máy móc thiết bị được dùng để tạo nên tài sản cố định và các khoản
đầu tư dài hạn trong các ngành khác. Vì các ngành khác nhau đòi hỏi các loại thiết bị
máy móc khác nhau, nên với cùng một số vốn đầu tư gộp của toàn quốc, thay đổi
trong phân bổ đầu tư giữa các ngành sẽ có tác động trực tiếp đến các ngành sản xuất
hàng đầu tư.

Chi phí lưu thông: để sản phẩm có thể lưu thông từ người sản xuất đến người
sử dụng cuối cùng, đòi hỏi phải có dịch vụ vận tải và thương mại. Như vậy, số phận
của các ngành sản xuất ra dịch vụ lưu thông này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sản lượng
chung của nền kinh tế và vào cơ cấu của cầu đối với hàng hóa.

Mối liên hệ gián tiếp thông qua các giới hạn chung

Cho dù các ngành sản xuất không trực tiếp quan hệ với nhau qua các dòng
hàng hóa, dịch vụ, chúng vẫn phụ thuộc lẫn nhau vì một số yếu tố sau:

Giới hạn phía cung: Các ngành trong một nền kinh tế phải cùng chia sẻ các
nguồn lực khan hiếm là các yếu tố sản xuất ban đầu như đất đai, lao động và vốn.
trong dài hạn, các yếu tố này có thể dịch chuyển giữa các ngành. Trong ngắn hạn, vốn
có thể được coi là cố định trong toàn bộ nền kinh tếm nhưng không cố định trong từng
ngành. Như vậy, các ngành phụ thuộc lẫn nhau vì chúng cùng cạnh tranh để có được
nguồn lực khan hiếm của đất nước. Trong kinh tế thị trường, nhìn chung giá cả đóng
vai trò phân bổ các nguồn lực đó. ví dụ khi cầu tăng mạnh đối với lúa mì, giá đất nông

tác nhân kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng), về công nghệ hoặc các ràng buộc về
thể chế (các hàm sản xuất, hàm thỏa dụng, cơ cấu thị trường, v.v.). theo lý thuyết cân
bằng chung của Walras. Theo thuyết này các hộ gia đình sẽ tối ưu hóa độ thỏa dụng
của họ trong khoản thu nhập giới hạn và các nhà kinh doanh thì tối ưu hóa lợi nhuận.
Hộ gia đình được tính là bao gồm cả người tiêu dùng và người sở hữu các nguồn lực
sản xuất (lao động, vốn…). Thu nhập hộ gia đình được sử dụng để tiêu dùng nhằm đạt
được độ thỏa dụng. Trong hầu hết các mô hình, các tác nhân kinh tế được coi là hành
động hợp lý. Ví dụ, người sản xuất chọn các đầu vào trong sản xuất nhằm giảm thiểu
chi phí sản xuất một lượng sản phẩm đầu ra cho trước và người tiêu dùng chọn gói
hàng hóa ngân sách của mình sao cho tối đa hóa độ thỏa dụng. Trong một nền kinh tế,
thị trường hàng hóa và thị trường yếu tố phải cân bằng,v.v. Dựa trên các giả thiết này, cơ cấu lý thuyết của mô hình được xây dựng bằng
các phương pháp kinh tế học thông thường. Cơ cấu lý thuyết này về thực chất là một
hệ phương trình đồng thời (simultaneous system of equations) bao gồm các phương
trình cung và cầu của các sản phẩm, phương trình cân bằng thị trường, phương trình
hạch toán kinh tế quốc dân, v.v. Trong hệ phương trình này sẽ có nhiều tham số như
hệ số chi phí đầu vào, độ co giãn của cầu với giá, độ co giãn của cầu với thu nhập, các
độ co giãn thay thế, v.v. Các tham số này có thể được tính ra dựa trên các số liệu của
nền kinh tế trong một hay nhiều năm. Sau đó hệ phương trình được giải ra để tìm
nghiệm của một số biến số quan tâm.

Các mô hình liên ngành khác nhau chủ yếu ở các giả định và ở quy mô của hệ
phương trình.

Có 2 loại số liệu được sử dụng cho mô hình CGE: 1/ Ma trận hạch toán xã hội
SAM diễn đạt các tài khoản quốc gia của 1 quốc gia, đưa ra con số tương ứng đại diện
về tương tác giữa các ngành cũng như các tác nhân kinh tế. Mỗi ngành của nền kinh
tế được thể hiện bằng 1 dòng (thể hiện người nhận thu nhập) và 1 cột (thể hiện nguồn

thuyết. Đối với mô hình hoàn chỉnh có thể xem xét những khía cạnh của các nhóm đối
tượng trong nền kinh tê như nhóm hộ, lao động có tay nghề hay không có tay nghề, cư
dân nông thôn hay thành thị, v.v… Tuy nhiên điều này phụ thuộc rất nhiều vào các
thông tin và các dữ liệu đầu vào liệu có thể hiện được đầy đủ các mối quan hệ hay chi
tiết thỏa mãn những hệ phương trình thể hiện các mối quan hệ đó không?

1.3. Các nghiên cứu tiêu biểu sử dụng mô hình cân bằng tồng thể

1.3.1. Các nghiên cứu quốc tế

• Kym Anderson, Jikun Huang, Elena Ianchovichina, “Will China’s WTO
accession worsen rural poverty?” Mô hình cân bằng tổng thể GTAP được
sử dụng để đo lường tác động của WTO đến nông hộ Trung Quốc. Kết quả
cho thấy ngay cả khi giá sản phẩm của các nông hộ (dựa chủ yếu vào đất
đai) giảm thì giá sản phẩm của các nông hộ khác (dựa trên lao động) sẽ
tăng. Sự chênh lệch giữa các nhóm nông hộ và phi nông hộ có thể tăng
nhưng giữa khu vực nông thôn - đô thị thì không có bằng chứng.

• Xinshen Diao, Shenggen Fan, Xiaobo Zhang (2002) “How China’s
WTO accession affects rural economy in the less-developed regions”, -

Nghiên cứu sử dụng mô hình cân bẳng tổng thể theo vùng để đánh giá các
tác động của của WTO tới các vùng khác nhau tại Trung Quốc tới sản xuất
nông nghiệp, thương nghiệp, và thu nhập của nông dân ở các vùng khác
nhau của Trung Quốc. Để phân tích các tác động theo vùng, các tác giả
chia Trung Quốc thành 7 vùng theo khu vực địa lý, cơ cấu sản xuất nông
nghiệp và mức độ phát triển kinh tế. Sự khác biệt trong phát triển kinh tế
giữa 7 vùng được đánh giá qua mức GDP bình quân đầu người và tỷ lệ
đóng góp của nông nghiệp trong GDP của vùng và mức thu nhập bình
quân trong nông thôn. Theo tiêu chí này, trong 7 vùng sẽ có 2 vùng kém

CGE để phân tích tác động của gia nhập tự do hóa thương mại Trung -
Nhật - Triều đến ngành nông nghiệp và đưa ra kiến nghị cho kinh tế Triều
Tiên cụ thể là chiến lược chính sách và kế hoạch hành động cho việc hội
nhập khu vực tự do hóa thương mại Trung - Nhật - Triều. Nghiên cứu tập
trung phân tích cấu trúc sản xuất nông nghiệp và giao thương giữa 3 quốc
gia. Ngoài ra trong báo cáo này, mô hình cân bằng từng phần PE cũng
được sử dụng để tập trung phân tích hiệu ứng chuyên môn hóa của gia
nhập tự do hóa thương mại, không xét đến hiệu ứng phản hồi của nền kinh
tế vĩ mô.
1.3.2. Các nghiên cứu về Việt Nam
• Sabine Daude (2004) “Agricultural trade liberalization in the WTO and
its poverty implications-the case of rural households in Northern
Vietnam” - Trong nghiên cứu này các tác giả đã sử dụng mô hình cân
bằng tổng thể GTAP để đánh giá các thay đổi về giá cả dưới tác động của
tự do hóa thương mại với hai kịch bản giả định: Việt Nam là thành viên
WTO và Việt Nam không là thành viên WTO. Trên cơ sở số liệu điều tra
hộ gia đình tại khu vực miền núi phía Bắc (2001) cùng với các tính toán
mô phỏng về sự thay đổi của giá do tác động của các các yếu tố vĩ mô, tác
giả đánh giá ảnh hưởng của chúng đến khía cạnh nghèo đói của hộ gia
đình. Để ước lượng thu nhập thuần và đo ảnh hưởng của tự do hóa thương
mại đến nghèo đói, tác giả phân tích hiệu ứng về thu nhập (dựa vào sự thay
đổi của giá) cũng như hiệu ứng tiêu dùng (cũng dựa vào sự thay đổi của
nhân tố giá). Các hộ gia đình được phân loại dựa trên cấu trúc thu nhập và
tỷ lệ tiêu dùng các loại sản phẩm khác nhau. Kết quả cho thấy nguyên
nhân các nông hộ ở các tỉnh miền núi phía Bắc có thể bị ảnh hưởng bởi sự
tự do hóa thương mại trên thế giới và tại sao tự do hóa thương mại lại có
tác động đến thu nhập thuần và mức độ nghèo đói của các nông hộ miền
núi phía Bắc Việt Nam

• Tarp Jensen H. and Tarp F. (2005), “Trade liberalization and spatial

Nam thì khả năng nghèo đói có thể sẽ xảy ra hầu hết ở phía Nam trong khi
có sự cải thiện không đáng kể ở phía Bắc. Nghiên cứu này tuy nhiên bị hạn
chế vì sự đơn giản hóa phương pháp luận trong quá trình xây dựng ma trận

hạch toán xã hội SAM khi giả định rằng sự phân phối giá trị gia tăng của
tất cả các tác nhân sản xuất của tất cả các ngành có cấu trúc giống nhau.
Sự đơn giản hóa này phần lớn ảnh hưởng tới việc hiện thực hóa tác động
phân phối của chính sách kinh tế.

• Fujii and Roland-Holst (2007), “How Does Vietnam’s Accession to the
World Trade Organization Change the Spatial Incidence of Poverty?”, –
Nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE trên bộ
VLSS 1998 để ước lượng tác động địa lý của việc gia nhập WTO lên đói
nghèo ở các cấp độ chi tiết nhất bằng các vẽ ra bản đồ đói nghèo sử dụng
phương pháp tiếp cận của Elbers. Cụ thể là sử dụng bản đồ mô tả đói
nghèo với số liệu năm 1999 kết hợp với số liệu VLSS 1997/1998. Nguyên
tắc của bản đồ đói nghèo là ước tính phương trình thu nhập sử dụng số liệu
từ bộ VLSS và từ đó áp dụng phương trình ước tính cho toàn bộ dân số.
Tình trạng đói nghèo do đó có thể ước lượng bằng phương pháp này cho
bất kỳ 1 tác nhân đơn lẻ nào dựa trên đặc điểm cá nhân của nhân tố ấy và
do đó có thể áp dụng để tính cho bất kỳ khu vực địa lý nào, dù khu vực ấy
nhỏ đến đâu đi nữa. GTAP đưa ra các giả định về giá và lượng. Mô hình
CGE giả định rằng toàn bộ các nhân tố lao động và vốn tự do lưu thông
trong tất cả các ngành kinh tế. Đất đai là nhân tố đặc trưng cho ngành nông
nghiệp. Mô hình cũng giả định rằng cạnh tranh là không hoàn hảo.

Tác giả đặt ra 3 kịch bản:
- Kịch bản thứ nhất: Tự do hóa thương mại đơn phương trong đó Việt Nam
gia nhập WTO nhưng chỉ tham gia giảm thuế phía Việt Nam và bãi bỏ trợ
cấp xuất khẩu.

hộ gia đình nghèo trong mẫu quan sát trở nên hết nghèo trong giai đoạn
đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ hội thoát nghèo trong số hộ sản xuất
cà phê là gấp đôi và cho hộ sản xuất gạo là tăng 50%. Điều này cho thấy
rằng tự do thương mại có tác dụng tích cực tới các hộ gia đình được
nghiên cứu.

• Isik-Dikmelik (2006), “Trade Reforms and Welfare: An Ex-post
Decomposition of Income in Vietnam”, - tương tự như nghiên cứu của
Niimi Y., Vasudeva-Dutta P. and Winters A., tác giả sử dụng mô hình cân
bằng từng phần PE và mô hình hồi quy đa biến với cùng mẫu số liệu để
theo dõi tốc độ tăng về thu nhập từ nông nghiệp thay vì theo dõi tốc độ

tăng trong thu nhập từ các nguồn khác của các hộ nông dân. Tác giả kết
luận rằng các chính sách cải tổ những năm 1990 đặc biết là chính sách tự
do hóa thương mại lúa gạo đã tạo ra sự cải thiện lớn về phúc lợi. Các tiếp
cận của tác giả có ưu điểm là các giả định ít bị hạn chế theo lý thuyết và đã
tìm ra được chi tiết các tác động kinh tế vi mô. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn
còn mang tính mô tả và bị hạn chế bởi số liệu về hộ gia đình cho nghiên
cứu là quá ngắn (5 năm). Hơn nữa, về phương pháp, nghiên cứu không
tách biệt được rõ ràng các nhân tố tác động tới nhân tố giá (đặc biệt là các
ảnh hưởng tương đối của các chính sách thương mại, khuynh hướng giá
thế giới ). Nghiên cứu đơn thuần đánh giá tác động của chính sách
thương mại, không chỉ ra được mối quan hệ giữa các chính sách và phúc
lợi.

• Nguyễn Mạnh Toàn (2005), “Ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đối
với phân phối thu nhập ở Việt Nam”, - Trong nghiên cứu này tác giả sử
dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để xem xét mối quan hệ giữa tự do
hóa thương mại và phân phối thu nhập giữa các nhóm hộ. Tác giả cũng đã
xây dựng mô hình cân bằng chung đa ngành dựa trên ma trận hạch toán xã

ngành hàng chăn nuôi (thịt bò, thịt lợn và thịt gia cầm). Mô hình PE được
sử dụng ở đây giới hạn trong phạm vi của một nhóm tương quan giải thích
hành vi ứng xử thị trường của ngành chăn nuôi thịt. Ngoài ra, với sự mô
phỏng đơn giản hóa các đặc trưng của ngành hàng mô hình này cũng giúp
khắc phục tình trạng thiếu số liệu phân tích và thời gian nghiên cứu eo
hẹp. Mô hình PE sử dụng các hệ số co giãn là các biến “ngoại sinh” và
được đưa trực tiếp vào cấu trúc hàm của mô hình. Các hệ số co giãn này
chính là những giả định lượng hóa mức độ phản ứng cung cầu trong ngành
chăn nuôi. Tuy nhiên, trong báo cáo này, do hạn chế về số liệu nên các hệ
số co giãn của cung theo giá sản phẩm chủ yếu được xây dựng trên cơ sở
tham khảo các nghiên cứu định lượng của IFPRI và UNCTAD cũng như tư
vấn với các chuyên gia. Phạm vi nghiên cứu trong báo cáo này là xem xét
các mối liên hệ giữa cung, cầu, xuất nhập khẩu và giá cả thị trường của ba
mặt hàng thịt; mối liên hệ này được thể hiện thông qua hệ 33 phương trình.
Các biến nội sinh bao gồm lượng cung và cầu nội địa, giá cả và lượng
xuất-nhập khẩu được xác định trong mô hình. Các biến ngoại sinh như hệ
số co giãn cung-cầu, thuế xuất-nhập khẩu, tỉ lệ chênh lệch giá và giá quốc
tế được xác định ở bên ngoài mô hình. Mô hình sử dụng cấu trúc động do
các phản ứng điều chỉnh của cung và cầu theo tín hiệu giá cả thị trường

thường có độ trễ về thời gian đặc biệt là đối với ngành hàng thịt bò và thịt
lợn. Điều này giúp lượng hóa được tác động của chính sách diễn ra từng
năm. Kịch bản cho ngành chăn nuôi thịt ở Việt Nam giai đoạn 2005-2015
được xây dựng dựa trên các giả định về chính sách sản xuất và thương mại
trong nước, các điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường thế giới. Mô hình
AIDS (Deaton và Muelbauer (1980)) được sử dụng để ước lượng cầu cho
sản phẩm chăn nuôi và đánh giá ảnh hưởng của chi tiêu và giá đến cầu với
cầu được đại diện bởi tỉ lệ ngân sách của mỗi hàng hóa, giá và thu nhập
được thể hiện bằng giá trị logit.


gạo, hạt tiêu, chè, dứa và chăn nuôi trên thị trường nội địa và thị trường
khối ASEAN. Mô hình cân bằng tổng thể với bộ cơ sở dữ liệu từ GTAP
cho 57 ngành và 87 nước (được tổng hợp và thu gọn thành 8 ngành và 10
nước/khu vực) được sử dụng để đánh giá tác động của hội nhập khu vực
AFTA đến nông nghiệp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đến
nông sản Việt Nam là khá rõ và theo hướng tích cực. Dưới tác động của
TDHTM khu vực, nhìn chung giá cung và cầu nông sản trong nước có xu
hướng giảm, nhưng giá tiêu dùng nông sản giảm nhiều hơn. Trong khi giá
nội địa giảm thì lượng cung và cầu nông sản đều tăng, chủ yếu là do tác
động của tăng xuất nhập khẩu nông sản và do tăng cầu đối với nông sản
nhập khẩu. Các hoạt động xuất nhập khẩu nông sản dưới tác động của hội
nhập AFTA đều tăng. Nhận định về tổng thể, trong thương mại nông sản
với khu vực AFTA, Việt Nam luôn có kim ngạch xuất khẩu lớn hơn kim
ngạch nhập khẩu mà chủ yếu nhờ xuất khẩu gạo với khối lượng lớn và
tăng mạnh. Tác động của tăng cường hội nhập AFTA giúp mức suất siêu
nông sản của Việt Nam tăng thêm 228.7 tỷ USD, trong đó riêng gạo có
mức tăng suất siêu đạt 182.1 triệu USD. Xuất khẩu thịt mà chủ yếu là thịt
lợn cũng có tốc độ tăng cao trong khi đó nhập khẩu thịt có xu hướng giảm.
Tuy nhiên do quy mô trao đổi thương mại thịt của Việt Nam với khu vực
là không lớn, mức suất siêu tăng thêm chỉ đạt gần 12 triệu USD.

2. Mô hình lực hút (Gravity Models) 2.1 Khái niệm
Các nghiên cứu hầu hết sử dụng mô hình CGE để đánh giá ảnh hưởng vĩ mô
của nền kinh tế khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, mô hình lực hút cũng (GM) là 1 mô
hình khá thích hợp để đánh giá tác động của các chính sách thương mại.


tức là đo lường độ sai lệch giữa kết quả của tự do hóa thương mại và kết quả dự báo
chứ không thể dự báo được tác động tự do hóa thương mại trước khi tham gia hội
nhập.

Điển hình trên thế giới có thể kể tới các nghiên cứu sau:

• Zhu H., Gu H., (2008) “Border effect of China-U.S. agricultural trade
based on the gravity model” – Nghiên cứu này sử dụng mô hình lực hút
nhằm nghiên cứu hiệu ứng ranh giới trong thương mại nông sản Mỹ-
Trung. Số liệu trong nghiên cứu bao gồm số liệu các nông sản giao thương
giữa 2 nước trong các năm 1987-2005. Kết quả cho thấy hiệu ứng ranh
giới có vai trò quan trọng trong hoạt động giao thương nông sản Mỹ -
Trung và có xu hướng giảm dần qua các năm.

• Mandana T. et al (2009) “Regionalism and its effects on Iranian
agriculture exports: the case of Economic Cooperation Organization” –
nghiên cứu sử dụng mô hình lực hút để đánh giá tác động của việc Iran gia
nhập vào tổ chức hợp tác kinh tế tới xuất khẩu nông nghiệp. Nghiên cứu
áp dụng cả mô hình lực hút chuẩn và mô hình lực hút tổng thế để chỉ ra
các nhân tố hiệu quả hỗ trợ xuất khẩu nông sản của Iran khi gia nhập tổ
chức hợp tác quốc tế. Kết luận cho thấy việc gia nhập tổ chức hợp tác kinh
tế có tác động tích cực đến thương mại nông sản Iran. Kết quả cũng cho
thấy các nước Tajikistan, Pakistan, Kazakhstan and Azerbaijan trong khối
hợp tác kinh tế chung là các nước yêu thích sản phẩm nông sản nhập khẩu
của Iran hơn cả.

2. 2. Ưu nhược điểm khi sử dụng mô hình đánh giá tác động tự do hóa
thương mại


quan tâm (tạm gọi là biến bị tác động bởi hội nhập). Việc đánh giá tác động là xác
định sự khác biệt giữa giá trị của biến bị tác động trong điều kiện bình thường so với
trong điều kiện có hội nhập kinh tế thế giới. Sự khác biệt của biến bị tác động trong
điều kiện có và không có hội nhập kinh tế thế giới có thể được định nghĩa như sau:

01
ttX
XX −=∆
(1) Với và là các giá trị của biến bị tác động tại thời điểm t nhưng tương ứng với 2
điều kiện khác nhau, đó là: có hội nhập và không có hội nhập (điều kiện bình thường).
có thể được dự đoán dựa trên giả định rằng tốc độ biến động của X ở thời điểm t
sẽ tương tự như ở thời điểm t-1 (trước hội nhập). Như vậy giá trị của biến X ở thời
điểm t với giả định không có hội nhập sẽ là:

1
00
)1(

+=
tXt
XGX
(2)

Với
0
X
G

0
0
0
lnln
(4)

Còn trong điều kiện có hội nhập kinh tế:

( ) ( )
ttttt
DZYX
εββββ
++++=
321
1
0
1
lnln
(5)

Nếu ta giả định rằng kênh tác động chính của hội nhập kinh tế thế giới là thông qua
biến Y thì khi đó sự khác biệt của X giữa hai điều kiện: có hội nhập và không có hội
nhập sẽ được thể hiện như sau:

( ) ( ) ( ) ( )
[ ]
1
0101
lnlnlnln
β

. (7)
Từ (7) suy ra:

1
1
0
1
1
01
)1(
)1(
β








+
+=⇒


tY
t
tXt
YG
Y
XGX

+
+
=−=∆
t
X
t
Y
t
tX
ttX
X
G
YG
Y
X
GXX
β
(9)












Để xác định tác động của hội nhập đến biến X dưới dạng chênh lệch tương đối ta có
thể áp dụng phương pháp tuyến tính hóa phương trình (6) (tức lấy đạo hàm 2 vế) và
có kết quả như sau:

1
0101
)(
β
YYXXG
GGGG
X
−=−=∆
(11)
1
β
YX
GG
∆=∆
(12)

Như vậy tác động của hội nhập được đo bằng chênh lệch về tốc độ tăng của biến X
(biến bị tác động của hội nhập) sẽ bằng chênh lệch về tốc độ tăng của biến Y (kênh
truyền tác động hội nhập) nhân với
1
β
(hệ số co giãn của X theo Y).

Hệ số co giãn

là sai số;
0
β
là hệ số tự do;
1
β
là độ co giãn của X theo Y;
2
β

3
β
là hệ số tương quan của Z

t
D
;
1
t
X

0
t
X
là các giá trị của biến X tại thời điểm t tương ứng với 2 giả định: có hội
nhập và không có hội nhập;
X

là chênh lệch về giá trị tuyệt đối của biến X tại thời điểm t tương ứng với 2 giả
định nêu trên;


là chênh lệch về tốc độ tăng (giá trị tương đối) của biến X tại thời điểm t tương
ứng với 2 giả định: có hội nhập và không có hội nhập;

Sử dụng mô hình kinh tế lượng trong việc đánh giá tác động của toàn cầu hóa được
nhiều tác giả trong và ngoài nước áp dụng trong những năm gần đây như Nguyễn Viết
Cường (2010), Warren-Rodríguez, A. (2009), Harrison, A. (2005) …Tuy nhiên
phương pháp này bên cạnh những lợi thế cũng còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau:

3.2. Ưu điểm Ưu điểm nổi bật của phương pháp đánh giá tác động hội nhập bằng mô hình kinh tế
lượng là không quá phức tạp, không quá trìu tượng và dễ hiểu.

3.3. Nhược điểm

Cần phải thu thập khá nhiều số liệu cả trước và sau hội nhập để chạy mô hình kinh tế
lượng và ước tính hệ số co giãn của biến bị tác động cũng như số liệu để lượng hóa
được các kênh tác động chính của hội nhập. Việc dự đoán biến động của các biến
trong điều kiện không có hội nhập dựa trên giả định tốc độ tăng tương tự như tốc độ
tăng bình quân của giai đoạn tiền hội nhập sẽ làm tăng thêm mức độ trệch của các ước
lượng và khả năng bóc tách giữa tác động của hội nhập với các tác động khác cũng
gặp nhiều khó khăn.

4. Kết luận

Nhìn chung tác động hội nhập được các nhà nghiên cứu và chính sách rất quan tâm.
Việc ra nhập WTO của Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn đến khu vực nông nghiệp nói
chung và các ngành cụ thể. Việc xác định các phương pháp đánh giá tác động cũng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status