TIỂU LUẬN TÌM HIỂU SỰ VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 25

- 1 -
Tìm hiểu sự vận dụng và phát triển tư tưởng HCM về CNXH trong giai đoạn cách mạng
nước ta hiện nay:
1. Lời Mở Đầu:
Một nội dung cơ bản và nhất quán trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc
bằng con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển
thành cách mạng XHCN. Ngay từ rất sớm Người đã nói rõ "ham muốn" tột bậc của
mình là làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Và qua 30 năm ra đi tìm
đường cứu nước, cuối cùng Người khẳng định, tin tưởng rằng: chỉ có CNXH mới là
con đường để "ham muốn" đó được thực hiện. Tư tưởng của Bác đã trở thành tư
tưởng hướng đạo cho cách mạng Việt Nam.
I: Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong giai đoạn cách mạng mới:
Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và sự
hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là những thành quả rực rỡ của chủ nghĩa
Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ mãi là mặt trời chói lọi, soi sáng con đường đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Những năm gần
đây, đời sống chính trị - xã hội thế giới có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm
vào thoái trào. Các thế lực thù địch ra sức phê phán, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và
những người sáng lập. Thế nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn thu hút trái tim, khối óc
của hàng triệu nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc, giành hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Những nhân tố của
chủ nghĩa xã hội vẫn đang nảy sinh và phát triển ngay trong lòng nhiều nước tư bản và dù
con đường đi có khác nhau, có lâu dài, có những bước thăng trầm, nhưng lịch sử nhân
loại tất yếu dẫn tới chủ nghĩa cộng sản như lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ
ra.Đối với cách mạng Việt Nam, công ơn của Các Mác cao như núi, sâu như biển. Có chủ
nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ta mới tìm được con đường
đi tới độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Cách đây nửa thế kỷ, lúc dân tộc Việt Nam phải sống trong ngục tù của chế độ thực dân,
phong kiến, cha ông ta đã nhiều lần nổi lên đấu tranh giành độc lập, nhưng các cuộc đấu

kim chỉ nam cho hành động cách mạng”.
Kỷ niệm 190 năm Ngày sinh Các Mác là dịp để chúng ta đẩy mạnh nghiên cứu học tập,
vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của
cách mạng Việt Nam; làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, những
vấn đề cần bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; kiên
quyết đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng phản động và sai lầm để bảo vệ sự
trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Để tỏ lòng biết ơn Các Mác, chúng ta hãy nâng cao lòng trung thành vô hạn với chủ
nghĩa Mác - Lênin. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
II.Tư tưởng hcm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở VN. Vận dụng
tư tưởng đó vào thực tiễn VN.
Tthcm về CNXH có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái và tư
tưởng cộng đồng làng xã VN, được hình thành từ lâu đời trong ls dựng nước và giữ nước
của dt.
HCM đã từng biết đến tt CNXH sơ khai ở phương Đông, qua "thuyết đại đồng của " Nho
giáo, chế độ công điền ở phương đông là cơ sở kinh tế tạo nên sự cố kết cộng đồng bền
chặt của người VN.
Khi ra nước ngoài khảo sát cách mạng thế giới, NAQ đã tìm thấy trong học thuyết Mác
về lý tưởng một xh nhân đạo, về con đường thực hiện ước mơ giải phóng các dt bị áp bức
- 3 -
khỏi ách nô lệ. Đến năm 1923, NAQ đến LX, lần đầu tiên biết đến "chính sách kt mới"
của Lênin, được nhìn thấy thành tự của nhân dân xô-viết trên co đường xây dựng xh mới.
1. Tthcm về CNXH
1.1-Cơ sở hình thành tthcm về CNXH ở VN
+ HCM tiếp cận tư tưởng CNXH từ quan điểm hình thái KT-XH của Mác. Luận điểm cơ
bản của Mác-ăngghen về 1 xh mới với những đặc trưng bản chất là xóa bỏ chế độ người

- Tư duy triết học phương đông: coi trọng hòa đồng, đạo đức nhân nghĩa. HCM quan
niệm, CNXH là thống nhất với văn hóa, đạo đức, "CNXH là giai đoạn phát triển cảo hơn
so với CNTB về mặt văn hóa và giải phóng con người".
+ HCM tiếp cận CNXH từ yêu cầu thực tiễn của CMVN và xu hướng phát triển của thời
đại.
- CMVN đầu thế kỷ 20 đặt ra yêu cầu khách quan là tìm 1 ý thức hệ mới đủ sức vạch ra
đường lối và phương pháp CM đúng đắn đem lại thắng lợi cho CMVN. CMVN đòi hỏi
có 1 giai cấp tiên tiến đại diện cho phương thức sx mới, có hệ tư tưởng độc lập, có ý thức
tổ chức và trở thành giai cấp tự giác đứng lên làm cách mạng. HCM sớm nhìn thấy phong
trào yêu nước VN đang rơi vào khủng hoảng về đường lối, vì vậy cách mạng chưa đem
- 4 -
lại gpdt. Tư tưởng độc lập dt gắn liền với CNXH xuất phát từ thực tiễn CMVN.
- CMT10 Nga giành thắng lợi đã mở ra con đường hiện thực cho gpdt ở phương đông:
độc lập dt gắn liền với CNXH. NAQ đã bắt đầu truyền bá tư tưởng CNXH trong dân.
+ HCM đến với CNXH từ tư duy độc lập sáng tạo tự chủ. Đặc điểm của định hướng tư
duy tự chủ sáng tạo là: định hướng tư duy trên cơ sở thực tiễn; luôn tìm tận gốc của sự
vật, hiện tượng; kết hợp lý trí khoa học và tình cảm cách mạng. Tư duy của HCM là tư
duy rộng mở và văn hóa.
1.2-Quan điểm của HCM về đặc trưng, bản chất của CNXH.
- Về bản chất của CNXH:
Nêu khái quát luận giải của các nhà kinh điển về giai cấp thấp của CNXH.
Mác, Ăngghen dự kiến phác thảo về xh mới với 4 đặc trưng cơ bản. Lênin phát triển quan
điểm của Mác và nêu 2 giai đoạn phát triển của phương thức sx mới: giai đoạn thấp và
giai cấp cao.
Quan niệm của HCM về bản chất của CNXH thống nhất với các nhà kinh điển đã nêu.
Bằng thực tiễn chỉ đạo xây dựng CNXH ở nước ta, vào thời điểm khác nhau bác nêu bản
chất của CNXH là:
+ Làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, mọi người đều có công ăn việc làm,
được ấm no và sống 1 đời hạnh phúc. Mục tiêu là giải phóng nhân dân lao động khỏi
nghèo nàn, lạc hậu.

chí công vô tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật; có tinh thần sáng tạo, nhạy bén với cái
mới. Đó cũng là động lực quan trọng nhất để xây dựng thành công CNXH.
Phải quan tâm đến phụ nữ (1 nửa của xh), phải giải phóng phụ nữ, xây dựng bình đẳng
nam-nữ.
Về động lực của CNXH
+ Phát huy các nguồn động lực cho việc xây dựng CNXH: vốn, khoa học công nghệ, con
người (năng lực của con người); trong đó lấy con người làm động lực quyết định.
"CNXH chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng
chục triệu người".
Phát huy động lực con người trên cả hai phương diện: cộng đồng và cá nhân. Phát huy
động lực của cộng đồng là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết- động lực chủ yếu để
phát triển đất nước. Phát huy sức mạnh của cá nhân trên cơ sở kích thích hành động gắn
liền với lợi ích vật chất chính đáng của người lao động; "phải chăm nom đến chỗ ăn, chỗ
ở, việc làm của nhân dân". "Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét, đảng và
chính phủ có lỗi".
Tác động cả về chính trị và tinh thần trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động và ý thức làm chủ. Sau vấn đề dân chủ là thực hiện công bằng xh, đặc biệt là trong
phân phối phải theo nguyên tắc: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng". Tránh bình
quân, Bác nêu khẩu hiệu 3 khoán và 1 thưởng. Thưởng phạt công minh. "Khoán là 1 điều
kiện của CNXH ". Sử dụng vai trò điều chỉnh các nhân tố tinh thần khác như: văn hóa,
đạo đức, pháp luật đối với hoạt động của con người.
+ Khác phục lực cản:
Căn bệnh thoái hóa, biến chất của cán bộ;
Chống chủ nghĩa cá nhân; Bác coi đó là kẻ thù hung ác của CNXH.
Chống tham ô lãng phí; Bác coi đó là bạn đồng minh của thực dân phong kiến.
Chống bè phái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều; chống lười
biếng Theo Bác các căn bệnh trên sẽ phá hoại đọa đức cách mạng, làm suy giảm uy tín
và ngăn trở sự nghiệp cách mạng của đảng, bác gọi đó là giặc nội xâm.
2. Tthcm về con đường đi lên CNXH ở VN
2.1- Về thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN.

Chính trị, cuộc đấu tranh gay go giữa cái cũ đang suy tàn và cái mới đang nảy nở cho
nên sự nghiệp xây dựng CNXH khó khăn và phức tạp.
Kinh tế, tạo lập những yếu tố, những lực lượng đạt được ở thời kỳ tư bản nhưng sao cho
không đi chệch sang CNTB; sử dụng hình thức và phương tiện của CNTB để xây dựng
CNXH. Kẻ thù muốn đè bẹp ta về kt thay bằng quân sự, vì vậy ta phải phát triển kt.
Tư tưởng, văn hóa, xh: bác nêu phải khắc phục sự yếu kém về kiến thức, sự bấp bênh về
chính trị, sự trì trệ về kt, lạc hậu về văn hóa tất cả sẽ dẫn đến những biểu hiện xấu xa,
thoái hóa cán bộ, đảng viên là khe hở CNTB dễ dàng lợi dụng. HCM nhấn mạnh "muốn
cải tạo XHCN thì phải cải tạo chính mình, nếu không có tư tưởng XHCN thì không làm
việc XHCN được".
- Về nhân tố đảm bảo được thực hiện thắng lợi CNXH ở VN: phải giữ vững và tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước; phát huy tính
tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị-xh; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH.
2.2- Tư tưởng HCM về quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB ở Việt Nam:
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người qua nhiều
thời kỳ khác nhau đã có những kiến giải thiết thực, dung dị mà sâu sắc về bản chất, mục
tiêu và động lực của CNXH. Phương pháp tiếp cận CNXH của Người cũng đầy tính sáng
tạo, đặc biệt là cách tiếp cận đạo đức học khi Người đặt CNXH đối lập với chủ nghĩa cá
nhân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân nhưng không bao giờ phủ nhận , xem thường
cá nhân về mặt lợi ích và vai trò của nó. Nguời cũng nhấn mạnh tới hệ giá trị cơ bản của
CNXH là Độc lập-Tự do và Hạnh phúc, coi mục đích cao nhất của CNXH là quyền sống,
hạnh phúc của dân, quyền tự do dân chủ và làm chủ, sự phát triển mọi năng lực sáng tạo
của nhân dân, từ mỗi người đến toàn thể cộng đồng.
Song vấn đề đặt ra là , nhận thức về con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN thì
điều quan trọng không chỉ dừng lại ở nhận thức bản chất, mục tiêu, động lực của CNXH.
Điều quan trọng là phải có cách làm, buớc đi cho thích hợp, biện pháp phải sáng tạo để
- 7 -
CNXH từ một khả năng khách quan thành hiện thực sinh động trong đời sống của nhân
dân, do nhân dân sáng tạo làm nên.

hạnh phúc cho nhân dân, làm lợi cho nhân dân, tránh cho dân những điều hại, những sai
trái dù chỉ là một điều sai, một cái hại nhỏ.
Tiến nhanh, tiến mạnh nhưng phải đúng quy luật, không làm bừa, làm ẩu. Phải cụ thể,
thiết thực và tỷ mỷ. Phải điều tra, nghiên cứu để vạch kế hoạch, chương trình cho sát, cho
đúng, chớ đem chủ quan của mình thay thế cho điều kiện khách quan.
- 8 -
Kế hoạch mười phần, biện pháp phải cụ thể 20 phần, chỉ đạo sát sao phải 30 phần. Phải
luôn nhìn xa, trông rộng, chú trọng thiên thời, địa lợi, nhân hoà mà nhân dân là gốc, là
quyết định.
Nguyên tắc thì giữ vững, nhất quán, kiên định mà biện pháp phải uyển chuyển, linh hoạt,
mềm dẻo. Phải chăm chú học hỏi kinh nghiệm các nước anh em nhưng không được chủ
quan, máy móc, giáo điều. Phải có tinh thần độc lập, sáng tạo. Ta không thể giống Liên
Xô vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác. Ta có thể đi con
đường khác để tiến lên CNXH. Con đường đi lên CNXH ở nước ta, tiến trình xây dựng
CNXH ở nước ta luôn luôn phải gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữ gìn bản sắc truyền thống và vươn tới hiện
đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.
Nguời vạch ra một hệ thống những nhiệm vụ phải giải quyết trong công cuộc xây dựng
CNXH phù hợp với đặc điểm nước ta như:
- Ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí, tham ô.
- Đảng và Nhà nước phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hoá, chăm lo đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
- Cán bộ là khâu quyết định. Đào tạo cán bộ là công việc gốc của Đảng.
- Thực hành dân chủ rộng rãi. Dân có quyền làm chủ thì cũng phải có nghĩa vụ của người
làm chủ.
- Đảng cầm quyền phải trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cho đạo đức, văn minh của dân
tộc.
- Ra sức thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
Tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường đi lên của nước ta, tuy khó khăn,
phức tạp nhưng nếu có cách làm đúng đắn, sáng tạo “đúng quy luật, thuận lòng dân, hợp

3. Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dt với sức mạnh thời đại.
4. Xd đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây dựng CNXH
Thực tế cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện CNXH và CNXH là cơ
sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Không giành được độc lập dân tộc thì không
có điều kiện để xây dựng CNXH. Độc lập dân tộc thật sự đòi hỏi xóa bỏ áp bức, nô dịch
của dân tộc này với dân tộc khác, gắn liền độc lập dân tộc với tự do, bình đẳng, hạnh
phúc của nhân dân, do đó chỉ có thể gắn liền với sự phát triển xã hội XHCN. Chính nhờ
sự kiên định nội dung tư tưởng đó mà Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác, viết nên một lịch sử Việt Nam anh hùng với những mốc son chói lọi:
Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước và đi lên xây dựng CNXH. Tư tưởng đúng đắn, hợp quy luật,
hợp lòng dân đó đã được Đảng quán triệt xuyên suốt trong cả tiến trình cách mạng, đặc
biệt là trong quá trình đổi mới.
Đại hội lần thứ VI (12-1986) của Đảng mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước đã khẳng định:
"Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và
lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công CNXH và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục nhấn mạnh:
"Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách
mạng nước ta".
Tiếp tục dòng chảy xuyên suốt và thống nhất đó, Báo cáo chính trị được thông qua tại
Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng Việt
- 10 -
Nam trong giai đoạn mới là: "Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá
trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì
chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh".
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) - Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, đại hội
của dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã tiếp tục khẳng định: "Trong quá trình đổi
mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status