Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
LỜI MỞ ĐẦU
Một con thuyền nhỏ bé mỏng manh đang lênh đênh trên đại dương bao la,
rộng lớn. Một con thuyền đang mất phương hướng giữa đại dương trong một
không gian mịt mù không một ánh đèn, chỉ có những tia sáng nhỏ ánh lên từ mắt
của những người thủy thủ và một luồng sáng rực rỡ phát ra từ đôi mắt sâu thẳm
của vị thuyền trưởng. Số phận của đất nước Việt Nam trong những ngày tháng
nô lệ ấy chẳng khác nào con thuyền đang lênh đênh trên đại dương bao la không
xác định được phương hướng. Tuy nhiên “thất bại chưa thua, đầu hàng mới
thua”,”còn nước còn tát”. Trong thời điểm đen tối ấy vẫn có rất nhiều những
người con anh hùng của đất nước An Nam nhỏ bé đi tìm đường cứu nước.
Nguyễn Ái Quốc người anh hùng Nghệ An, một người An Nam nhỏ bé nhưng
đã làm chấn động cả thế giới với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị thuyền trưởng đã đưa con thuyền cách mạng Việt
Nam đến với bến bờ thành công, đất nước Việt Nam đến với bến bờ độc lập, tự
do, hạnh phúc- đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở để sáng tạo nên tư tưởng
của chính mình: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chiếc
“la bàn” đã đưa cách mạng Việt Nam đến bến bờ thành công và hơn thế nữa.
Với tư tưởng đúng đắn sáng tạo- tư tưởng Hồ Chí Minh- đã đưa xã hội Việt
Nam đến bến bờ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, một vùng đất mà ở đó mọi người dân
đều làm chủ, mọi tài sản đều là của chung, một xã hội không có giai cấp, không
có bóc lột, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên mặc dù chúng
ta đang ở trên bến bờ xã hội chủ nghĩa nhưng một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh thì vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của Đảng và dân ta.
Trên cơ sở đó mà nhóm chúng em đã chọn và tiến hành nghiên cứu “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam”, em mong rằng đề tài sẽ giúp người đọc biết rõ hơn về con
đường mà chúng ta đang đi và nhận thức về nó sâu sắc hơn, từ đó sẽ xác định
được những nhiệm vụ mà chúng ta cần phải làm trong tương lai. Đề tài nhóm
em nghiên cứu có kết cấu như sau:
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
lịch sử loài người có 5 hình thức quan hệ sản xuất chính, và nhấn mạnh “ không
phải quốc gia dân tộc nào cũng đều trải qua các bước phát triển tuần tự như vậy”.
Bác sớm đến với tư tưởng quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua
giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh tiếp cận tư tưởng về chủ nghĩa xã hội từ khát vọng giải
phóng dân tộc, nhu cầu giải phóng con người một cách triệt để và xu hướng
phát triển của thời đại.
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
3
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu khách quan là tìm
một ý thức hệ mới đủ sức vạch ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng
đắn đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. (Bậc cách mạng tiền bối hoặc là
có ý thức giành độc lập dân tộc lại không có ý thức canh tân đất nước; hoặc là
có ý thức canh tân đất nước lại kém ý thức chống Pháp). Cách mạng Việt Nam
đòi hỏi có một giai cấp tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất mới, có hệ tư
tưởng độc lập, có ý thức tổ chức và trở thành giai cấp tự giác đứng lên làm cách
mạng. Hồ Chí Minh sớm nhìn thấy phong trào yêu nước Việt Nam đang rơi vào
khủng hoảng về đường lối, vì vậy cách mạng chưa đem lại giải phóng dân tộc.
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội xuất phát từ thực tiễn
cách mạng Việt Nam.
Cách mạng tháng mười Nga giành thắng lợi đã mở ra con đường hiện
thực cho giải phóng dân tộc ở phương Đông: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
và Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu truyền bá tư tưởng CNXH trong dân.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức,
hướng tới giá trị nhân đạo, nhân văn mác- xít. Chủ nghĩa xã hội là đối lập
với chủ nghĩa cá nhân.
Giải quyết tốt quan hệ cá nhân và xã hội theo quan điểm của C. Mác và
Ph. Ăngghen trong bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà hai ông công bố
tháng 2/ 1848: Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
đạo đức, văn hoá. Hồ Chí Minh đã làm phong phú thêm cách tiếp cận về chủ
nghĩa xã hội, đóng góp vào phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa xã hội từ tư duy độc lập, sáng tạo, tự
chủ.
Đặc điểm của định hướng tư duy tự chủ sáng tạo là: định hướng tư duy trên cơ
sở thực tiễn; luôn tìm tận gốc của sự vật, hiện tượng; kết hợp lý trí khoa học và
tình cảm cách mạng. Tư duy của Hồ Chí Minh là tư duy rộng mở và văn hoá.
Hồ Chí Minh nhận thức tính tất yếu và bản chất của chủ nghĩa xã hội
là kết quả tác động tổng hợp của các nhân tố: truyền thống và hiện đại; dân
tộc và quốc tế; kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hoá.
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
5
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:
Quan điểm của các nhà kinh điển.
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thì chủ nghĩa xã hội
không phải là một hình thái kinh tế -xã hội mà chỉ là một giai đoạn, một trình độ
phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Lênin viết: “Xã hội
cộng sản, đó là một xã hội trong đó tất cả là của chung: ruộng đất, nhà máy, lao
động chung của mọi người”. Tuy nhiên, khi gọi chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa
cộng sản thì Lênin đã khẳng định rằng đó chưa phải là chủ nghĩa cộng sản phát
triển trên những cơ sở của chính nó, chưa phải là chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn.
Mà trái lại, đó mới chỉ là giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản
chủ nghĩa. Khi giải thích những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin viết:
“... Về mặt khoa học, thì sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản thật là rõ ràng. Cái mà người thường gọi là chủ nghĩa xã hội, thì C.Mác gọi
là giai đoạn “đầu” hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa”.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa xã
hội với tư cách là một giai đoạn, một nấc thang của xã hội mới, là xã hội trực
tiếp phát sinh ra từ chủ nghĩa tư bản thì nó không chỉ đối lập một cách chung
nền đại công nghiệp cơ khí. Nhưng theo Lênin, bản thân nền đại công nghiệp
hiện đại không dung hợp với chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa; nó đòi hỏi phải thủ
tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất.
Hai là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động
mới.
Trong những luận giải của mình về chủ nghĩa xã hội, Lênin còn nêu thêm
nguyên nhân chủ nghĩa xã hội đã tạo ra được một năng suất lao động cao hơn so
với chủ nghĩa tư bản là do những yếu tố vốn có của chủ nghĩa xã hội, yếu tố này
không thể có được trong lòng chủ nghĩa tư bản. Đó là cách tổ chức lao động và
kỷ luật lao động mới.
Lênin khẳng định kỷ luật của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến là kỷ luật
roi vọt; kỷ luật của chủ nghĩa tư bản là kỷ luật đói; còn kỷ luật của chủ nghĩa xã
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
7
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
hội là kỷ luật tự giác. Theo ông, kiểu tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa xã
hội sở dĩ cao hơn so với kiểu tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa tư bản là vì
nó dựa vào một kỷ luật tự giác và tự nguyện của chính ngay những người lao
động. Song, theo Lênin, để có được cách tổ chức lao động mới thì cần phải thực
hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát toàn dân.
Như vậy, chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra một năng suất lao động cao hơn chủ
nghĩa tư bản nhờ việc đưa ra một hình thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động
mới. Hình thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động đó được thực hiện trên cơ
sở của sự kiểm kê, kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân phối sản
phẩm.
Ba là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Theo Lênin, phân phối theo lao động là cách thức phân phối trong giai
đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cách thức phân phối theo lao động là
thích hợp nhất với chủ nghĩa xã hội, bởi vì nó được dựa trên chế độ công hữu về
hội chủ nghĩa...”. Đồng thời, Lênin cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội không hề
xóa bỏ tất cả các quyền sở hữu của mọi công dân mà chỉ muốn xóa bỏ quyền sở
hữu của bọn địa chủ và tư bản.
Như vậy, Lênin cũng coi một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là
xóa bỏ chế độ tư hữu, nhưng không phải chế độ tư hữu nói chung mà là chế độ
tư hữu tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội không hề xóa bỏ tất cả các quyền sở
hữu của quần chúng nhân dân lao động.
Năm là, chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc
lột, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện..
Tiếp thu những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các tác phẩm
của mình, Lênin đã khẳng định sự áp bức, bóc lột là tai họa lớn đối với người
lao động. Sự thay thế của các xã hội trước chủ nghĩa xã hội chẳng qua cũng chỉ
là sự thay thế của các hình thức áp bức, bóc lột đối với người lao động mà thôi.
Chỉ đến chủ nghĩa xã hội thì con người mới có khả năng được giải phóng khỏi
các hình thức áp bức và bóc lột đó khỏi tình trạng dân tộc này thống trị dân tộc
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
9
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự gần gũi và sự hợp nhất
giữa các dân tộc.
Sáu là, chủ nghĩa xã hội thực hiện sự bình đẳng xã hội.
Lênin khẳng định rằng cơ sở của mọi sự bất bình đẳng xã hội và bất bình
đẳng chính trị là do sự phân chia xã hội thành giai cấp gây ra. Do đó, để xóa bỏ
mọi bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng chính trị thì cần phải xóa bỏ sự phân
chia xã hội thành giai cấp; và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được vấn
đề đó. Sở dĩ Lênin khẳng định như vậy là vì dưới chủ nghĩa tư bản nền kinh tế
thị trường không những còn tồn tại mà quyền lực của đồng tiền và sức mạnh của
tư bản còn được giữ vững. Khi quyền lực của đồng tiền còn được giữ vững thì
không thể nói đến sự bình đẳng được. Từ đó, ông đã chỉ ra rằng không những
ruộng đất, mà cả lao động của con người, bản thân con người, lương tâm, tình