PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Suốt cả cuộc đời,
Người phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Cùng với sự
nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế một tài sản tinh thần vô giá.
Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng kinh tế là mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và những quy luật kinh tế khách quan vào
điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những tư tưởng đó đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định
đường lối, chính sách kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng nhằm đảm bảo
kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công.
Ngày nay, điều kiện trong nước và thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, nhưng tư
tưởng Hồ Chí Minh trong thời ì quá độ lên chủ nghĩ xã hội vẫn có ý nghĩa lớn lao.
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam nên bản
thân em chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam”, làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một đề tài rộng và còn khá mới mẻ. Mặc dù vậy, đã có một số
đề tài và sách chuyên khảo nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau.
* Đề tài khoa học:
- Cấp bộ năm 2001: “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh” do Tiến sĩ Phạm Ngọc Anh làm chủ
nhiệm đề tài, Viện Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì.
* Sách chuyên khảo:
- Kinh điển: + Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội,
1990.
+ Hồ Chí Minh về kinh tế (trích tác phẩm kinh điển). Tài liệu tham khảo
chuyên ngành-Viện Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
-
Sách tham khảo:
Ngoài các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng các
phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử kết hợp với lôgíc, so sánh, phân tích, tổng
hợp, thống kê và phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn...
6. Đóng góp của đề tài:
- Góp phần làm sâu hơn và rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ.
- Dựa vào phương pháp luận Hồ Chí Minh đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển
kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, nhất là những năm đối mới.
- Đề tài làm sáng tỏ những ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 2
chương, 4 tiết.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
1.
Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là một học thuyết cách mạng, cùng
với chủ nghĩa Mác - Lê nin, là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động của cách
mạng Việt Nam. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không theo lối tầm chương trích cú mà
nghiên cứu một cách hệ thống, nắm vững và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn những tư tưởng,
quan điểm cốt lõi nhất về những vấn đề cơ bản nhất. Đó cũng là định hướng và yêu cầu quan
với nhau gay gắt. rong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần phải sắp xếp, bố trí lại lực lượng sản xuất
hiện có của xã hội, cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hướng tạo ra sự
phát triển cân đối của nền kinh tế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Lĩnh vực chính trị: kết cấu giai cấp xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng, phức tạp bao gồm: giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp tư sản. Thời kỳ quá
độ này cần tiến hành cuộc đấu trang chống lại các thế lực thù đich, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội; xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh; xây
dựng các tổ chức chính trị- xã hội, đảng cộng sản trong sạch vững mạnh.
L ĩnh vực tư tưởng văn hóa xã hội: tồn tại nhiều tư tưởng và văn hóa khác nhau. Lĩnh vực này yêu cầu
phải khắc phục tệ nạn do xã hội cũ để lại; từng bước khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng
miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội, xây dựng mối quan hệ
tốt đẹp giữa người với người ,…
2.3. Các hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Theo chủ nghĩa Mác- Lênin thì thời kỳ quá độ là một tất yếu đối với mọi nước đi lên chủ nghĩa xã
hội. tuy nhiên do đặc điểm của từng nước là khác nhau, có nước có nền kinh tế lạc hậu và kém phát
triển, có nước nền kinh tế phát triển theo chủ nghĩa tư bản, vì vậy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
cũng khác nhau. Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng có 2 loại hình quá độ, đó là:
● Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội: Loại hình này tuân th o quy luật phát
triển tuần tự của xã hội loài người. Đó là loại hình quá độ với các nước đã trải qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa, nên đã sẵn có tiền đề về cơ sở vật chất ký thuật. Vì thế công cuộc quá độ chỉ còn là
biến những tiền đề ấy thành cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, thiết lập một quan hệ sản xuất mới, một
xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa
● Quá độ gián tiếp từ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội (từ các hình thái kinh tế- xã hội trước chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội). Loại hình này tuân theo quy luật phát triển nhảy vọt của xã hội loài người.
với các nước có nền kinh tế lạc hậu kém phát triển cũng có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên để có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội thì các nước này cần phải từng
bước quá độ và phải có những điều kiện phù hợp. Các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo hình thức
này phải có các điều kiện:
làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài. Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần
tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Hồ Chí
Minh lý giải trên các điểm sau:
+ Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời
giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.
+ Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa có kinh
nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng ta, nên phải vừa làm,
vừa học và có thể có vấp váp và thiếu sót. Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn
đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời. Thứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta luôn luôn bị các thế
lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá.
Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên trong
xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn. Vấn đề cơ bản
là phải xác định đúng từng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, biết kết
hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng bước, từ thấp đến cao. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội
đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có
nghệ thuật khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế.
2.
Quan niệm của HCM về nội dung xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNX
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một sự nghiệp cách mạng mang tính toàn diện. Hồ
Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực:
- Trong lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của
Đảng. Đảng phải được chỉnh đốn, nâng cao sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng các
yêu cầu, nhiệm vụ mới. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã trở thành Đảng cầm
quyền. Mối quan tâm lớn nhất của Người về Đảng cầm quyền là làm sao cho Đảng không trở thành Đảng
quan liêu, xa dân, thoái hóa, biến chất, làm mất lòng tin của dân, có thể dẫn đến nguy cơ sai lầm về
đường l i, cắt đứt m i quan hệ máu th t với nhân dân và để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở dưới nhiều hình
CNXH Ở VIỆT NAM.
1.
Phương châm:
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, khó khăn. Vì vậy, phải làm
dần dần, từng bước vững chắc trên cơ sở xác định một cách đúng đắn bước đi; phải tổng kết kinh
nghiệm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời học tập kinh nghiệm của các
nước khác trên thế giới; phải có kế hoạch và có quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Chủ
nghĩa xã hội có mục tiêu, nguyên lí chung giống nhau, nhưng mỗi nước có đặc điểm lịch sử cụ thể riêng
khác nhau, nên phương thức, biện pháp, bước đi, cách làm khác nhau. Hồ Chí Minh xác định rõ nhiệm
vụ lịch sử, nội dung của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều trăn trở khôn nguôi của
Người là tìm ra hình thức, bước đi, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, biến nhận thức lí
luận thành chương trình hành động, thành hoạt động thực tiễn hằng ngày. Để xác định bước đi và tìm
cách làm phù hợp với Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra hai nguyên tắc có tính chất phương pháp luận:
+ Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần quán triệt các
nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham khảo, học tập kinh
nghiệm của các nước anh em. Học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến, nhưng không được sao chép,
máy móc, giáo điều. Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam có thể làm khác Liên Xô, Trung Quốc và các nước
khác vì Việt Nam có điều kiện cụ thể khác.
+ Hai là, xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ điều kiện
thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân. Trong bước đi lên chủ nghĩa xã
hội, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý vai trò của công nghiệp hóa chủ nghĩa xã hội, coi đó là “con đường phải
đi của chúng ta”.
2.
Biện pháp:
quan điểm hết sức đặc sắc về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hồ Chí Minh ý thức được rõ ràng giá trị
của chủ nghĩa xã hội về mặt lý luận là quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường
để thực hiện những giá trị này.
Vào những năm hai mươi thế kỷ XX, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là
đảm bảo cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn
kết, ấm no, việc làm cho mọi người và niềm vui, hoà bình, hạnh phúc cho mọi người. Nghĩa là, chủ
nghĩa xã hội hướng tới bảo đảm các giá trị làm người chân chính trong quá trình phát triển các quan
hệ xã hội mang đúng bản chất người cao quý.
Vào những năm năm mươi, sáu mươi, khi miền Bắc trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người
xác định rõ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là thoả mãn các nhu cầu sinh tồn và phát triển của con
người: chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho
mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy bỏng mà Hồ Chí Minh
hy sinh cả cuộc đời mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế giới.
Quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, trải qua một
thời kỳ quá độ, nhiều bước trung gian, quá độ nhỏ. Đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí
Minh cho rằng: “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch
sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc
rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây
dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế, chúng ta phải dần dần biến nước ta
từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp… Chúng ta phải biến một nước dốt
nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”. Như vậy, Hồ Chí Minh
đã xác định các mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội.
II- Vận dụng
1.
Kiên trì mục tiêu độc l p dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh là người tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt am: Con đường độc lập dân tộc
chủ được thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nhất là ở địa phương, cơ sở, làm
cho dân chủ thật sự trở thành động lực của sự phát triển xã hội.
+ Chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
+ Thực hiện nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở lấy liên minh
công - nông - trí thức làm nòng cốt, tạo nên sự đồng thuận xã hội vững chắc vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
3.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Cách mạng khoa học và công nghê, xu thế toàn cầu hóa để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,
thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý và công nghệ hiện đại:
Hội nghị ban chấp hành trung ương 3 (khoá V ) chỉ rõ: Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ
hợp tác với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi và không có điều kiện
chính trị ràng buộc, hạn chế đến mức thấp nhất cái giá phải trả.
Đại hội V (năm 1991) đã thông qua ương lĩnh của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 10 năm, đồng thời cũng nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế qu c tế là: Việt am mu n là bạn với
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Tháng 11 năm 1998, Việt Nam trở thành một thành viên của diễn đàn Kinh tế Châu Á – Thái
Bình Dương APEC
Tham gia APEC trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có sự khởi sắc ấn tượng trên
cơ sở ổn định, bền vững. Điều này được thể hiện qua mức vốn FDI rót vào đạt kỷ lục theo từng
năm, đặc biệt, 11 tháng năm 2008, FDI đạt kỷ lục 61 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2007,
trong đó khoảng 75% đến từ các nền kinh tế thành viên APEC . Đối với hoạt động xuất khẩu, khu
vực châu Á – Thái Bình Dương đã và đang đóng vai trò quan trọng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam trong năm 2008 sang thị trường khu vực này đạt khoảng 33,5 tỷ USD, chiếm trên
50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. (theo bộ ngoại giao Việt Nam)
Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007.
em sẽ có không ít thiếu sót. Rất mong được sự góp ý và đánh giá của Thầy/cô để đề tài được
hoàn thiên hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhà xuất bản chính trị
2. Tài liệu Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam
(tailieu.com)
3.
Mục đích của đường lối phát triển kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh của tác
4.
giả Nguyễn Thế Hinh.
TS. Phạm Ngọc Anh (chủ biên): Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
5.
kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới của tác giả Lý Hoàng Mai.
6.