LUẬN VĂN:
Quan điểm của C.Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ
tư chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
cộng sản
A. Phần mở đầu Chủ nghĩa xã hội không phải là một sự xuất hiện tự nhiên từ một đầu óc
thiên tài nào, mà xuất hiện từ hiện thực khách quan của đời sống xã hội, từ quá
trình đấu tranh giai cấp.
Khi nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người C.Mác rút ra kết
luận: Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên.
với Angghen đã rút ra kết luận về sự diệt vong tất yếu của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa và sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
Hai ông; trước hết, chỉ rõ sự tiến bộ lịch sử của chế độ tư bản, vai trò cực kỳ to lớn
của nó trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hoá lao động; mặt khác, cũng
chỉ ra giới hạn, tạm thời về mặt lịch sử của chế độ đó. C.Mác-Angghen đã dự báo
rằng: “ Sự tập trung tư liệu sản xuất, và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà
chúng ta không còn thích hợp vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ
tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Nhưng kẻ đi tước
đoạt bị tước đoạt”.
C.Mác-Ăngghen: 1059/23
Nhưng cái vỏ đó không tự nó vỡ tung ra mà phải thông qua cuộc cách mạng bắt
đầu băng việc giai cấp vô sản dẫn đầu quần chúng lao động nội dậy giành lấy
chính quyền. C.Mác viết: “ Cách mạng nói chung-lật độ chính quyền hiện có và
phá huỷ những quan hệ cũ là một hành vi chính trị. Nhưng CNXH không thể được
thực hiện mà không có cách mạng. Chủ nghĩa xã hội cần đến hành vi chính trị này
bởi lẽ nó cần tiêu diệt và phá huỷ cái cũ”.
C.Mác-Ăngghen: 616/1
C.Mác chỉ ra rằng: “Giai cấp công nhân biết rằng nó phải trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giai cấp. Nó biết rằng việc thay thế những điều
kiện của lao động tự do và liên hợp, chỉ có thể là một sự nghiệp tiến triển trong
thời gian (đó việc cải tạo kinh tế)… sau một quá trình phát triển lâu dài…”.
C.Mác-Ăngghen:724-725/17
Trong khi phê phán cương lĩnh Gô-ta, C.Mác đồng thời nêu ra những nhiệm
vụ của cuộc đấu tranh cho cách mạng XHCN, cho thắng lợi của chuyên chính vô
sản, cho việc tước đoạt giai cấp tư sản. Nhưng ý kiến đó của C.Mác không những
có ý nghĩa vô cung lớn lao trong thời kỳ đó đối với giai cấp công nhân, mà ngay
phối trong mỗi giai đoạn.
C.Mác chỉ ra rằng, cần phân biệt rõ “xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát
triển trên những cơ sở của chính no”, hay là “giai đoạn cao hơn”, với “ một xã hội
cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa”, hay là “giai đoạn
đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ
nghĩa ra sau những cơn đau đẻ dài”.
SĐD tr 36.
Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng: Nói về giai đoạn đầu của chủ
nghĩa cộng sản C.Mác chỉ ra rằng, đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế,
đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra.
Chính vì vậy, trong giai đoạn này còn có những thiếu sót không thể tránh khỏi.
Về mặt kinh tế, đó là sự thiếu sót trong khâu phân phối. Trong giai đoạn này việc
phân phối được thực hiện theo nguyên tắc phân phối sản phẩm tiêu dùng theo số
lượng và chất lượng lao động. Sự tiến bộ của nguyên tắc này là ở chỗ nó không
thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả, bất cứ người lao động nào cũng như
nhau. Một cống hiến của mỗi người được đo bằng một thước đo như nhau, tức là
bằng hiệu quả lao động . Sự thiếu sót không thể tránh khỏi của nguyên tắc này là ở
chỗ nó không thừa nhaahj sự không ngang nhau về thể chất, về tinh thần, năng
khiếu, tóm lại về năng lực lao động. Do đó, “quyền ngang nhau ấy là một quyền
không ngang nhau đối với một lao động không ngang nhau”. Về việc phân phối
những vật phẩm tiêu dung vẫn phải tuân theo nguyên tắc trong việc trao đổi hàng
hoá- vật ngang giá: một số lượng lao động dưới một hình thức này được đổi lấy
cùng một số lượng lao động dưới một hình thức khác. Vì vậy, ở đây về nguyên
tắc cái quyền ngang nhau cũng là cái quyền tư sản, tuỳ rằng ở đây nguyên lý và
thực tiễn không còn mâu thuẫn với nhau nữa.
Chỉ đến một giai đoạn cao hơn, tức là dưới chủ nghĩa cộng sản thực sự, khi
đã tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần; “khi mà sự phụ thuộc có tính chất nô
đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản”.
V.I. Lênin: 295/41
Như vậy, đối với nước kinh tế kém phát triển khi dành được chính quyền
thì phải quá độ lên chủ nghĩa cộng sản mà là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (giai
đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản). Thời kỳ quá độ này cũng là một yếu tố khách
quan:
- Trước hết, do bản chất chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách
mạng này khác về bản chất với mọi cuộc cách mạng xã hội trước đây, không phải
chỉ là thay thế hình thức sở hữu tư nhân này bằng hình thức tư nhân khác, và
không phải thay nhà nước bóc lột này bằng nhà nước bóc lột khác, mà xoá bỏ tận
gốc sở hữu tư nhân và xoá bỏ nhà nước và giai cấp.
- Hai là, từ một nước kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội phải tiến hành
cải biến cách mạng một cách toàn diện, sâu sắc: từ kinh tế đến chính trị-xã hội; từ
lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng
tầng. Nghĩa là đối với những nước phải trải qua nhiều bước quá độ để tạo tiền đề
cho những bước tiếp theo. Nhất là phải bắc một cái cầu trung gian, đó là chủ
nghĩa tư bản nhà nước, chỉ có như thế đưa được một nước tuyệt đại là tiểu nông đi
lên chủ nghĩa xã hội một cách chắc chắn.
V.I. Lênin khẳng định hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà giai
đoạn thấp là xã hội chủ nghĩa), tất yếu phải là hình thai kinh tế-xã hội tư bản chủ
nghĩa trên cả 3 yếu tố: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, và kiến trúc thượng
tầng. Mặt khác ông cũng chỉ ra rằng “chủ nghĩ xã hội sẽ như thế nào khi nó đạt tới
những hình thức hoàn chỉnh của nó, điều đó chúng ta không biết, không thể nói
lên được…” bởi chúng ta còn chưa đủ tài liệu để noi về chủ nghĩa xã hội, “những
viên cạch để xây dựng chủ nghĩa xã hội còn chưa làm xong. Chúng ta cần phải hết
sức then trọng và chính xác. Điều đó, và chỉ điều đó mới sẽ lam cho cương lĩnh
của chúng ta có sức hấp dẫn” nếu ngược lại “cương lĩnh đó của chúng ta chẳng
Trước hết là, chức năng bạo lực. V.I. Lênin khẳng định chuyên chính vô sản
là sự tiếp tục đấu tranh giai cấp trong tình hình mới, nhiệm vụ mới. Vì giai cấp tư
sản mới bị đánh bại chứ chưa bị tiêu diệt. Nó không chịu ngồi yên để mất thiên
đường, mà lao vào cuộc đấu tranh với giai cấp vô sản cách mạng quyết liệt, với
mọi hình thức, mọi sức mạnh. Nên buộc giai cấp vô sản phải dùng bạo lực để trấn
áp sự phản kháng đó của giai cấp tư sản.
Thứ hai là, chức năng tổ chức xây dựng. Mặc dù nhấn mạnh chức năng bạo
lực nhưng theo V.I. Lê nin đây không phải là chức năng cơ bản nhất. Chức năng
cơ bản nhất là chức năng tổ chức xây dưng để xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa; tiến hành công nghiệp hoá xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật và tiến hành
cách mạng tư tưởng, văn hoá. Chỉ có chức năng tô chức xây dựng thì chuyên chính
vô sản mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là xây dựng được một xã hội mới
tốt đẹp hơn chủ nghĩ tư bản.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại”.
ĐCS VN, Văn kiện lần thứ IX, NXB
CTQG, HN 2001, tr 83.
Những luận điểm của Hồ Chí Minh về quá độ lên CNXH ở Việt Nam được
hình thành, được chín muồi từ khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lênin, trở
thành người cộng sản vào những năm 20 của thế kỷ XX đến khi Người ở cương vị
lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng
giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hồ Chí Minh là người
theo đuổi đến cùng lý tưởng và mục tiêu của CNXH.Người trung thành với chủ
nghĩa Mác- Lênin, đồng thời phát triển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa ấy và thực
sự là Người đã có những đóng góp, những cống hiến làm sống động chủ nghĩa
Mác- Lênin trong thực tiễn. Sáng tạo nổi bật và cống hiến xuất sắc nhất của Hồ Với các nước lạc hậu, tiền tư bản lên CNXH, các nhà kinh điển từ Mác,
Ăngghen tới Lênin đều đặc biệt nhấn mạnh phải phát triển lực lượng sản xuất,
chỉ như vậy mới có thể dần dần xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xoá bỏ
triệt để tình trạng bóc lột, áp bức, bất bình đẳng, xác lập chế độ công hữu đảm bảo
cho sự phát triển của con người, xã hội tới dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng
thực sự.
Theo Người, đặc điểm lớn nhất ở những nước lạc hậu trong TKQĐ là từ
một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải không qua giai
đoạn phát triển TBCN. Cho nên, Người xác định toàn diện các nhiệm vụ xây dựng
CNXH ở những nước này là phát triển toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hoá, phát triển giáo dục, xây dựng con người mới Mấu chốt của vấn đề kinh
tế là phát triển lực lượng sản xuất. Mấu chốt của vấn đề chính trị là giữ vững chế
độ, bảo vệ thành quả cách mạng Mấu chốt của vấn đề xã hội là đảm bảo công
bằng xã hội hướng vào sự phát triển con người và xã hội. Và, thực chất của vấn đề
văn hoá là xây dựng con người mới, đạo đức mới Theo Người, tức là phải phù
hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước.
Từ những quan điểm trên ta có thể tóm tắt khái niệm TKQĐ như sau:
TKQĐ đó là thời kỳ đặc biệt nằm trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tế cộng
sản chủ nghĩa, thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc triệt để trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. TKQĐ được bắt đầu sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đã thiết lập được chính quyền Nhà nước và trức tiếp bắt tay vào cải taọ xã
hội cũ xây dựng xã hội mới cho đến khi xây dựng xong những cơ sở về kinh tế,
chính trị-xã hội và văn hoá tinh thần để CNXH bước vào quá trình phát triển trên
cơ sở của chính nó.
Hay chúng ta có thể nói cách khác: TKQĐ lên CNXH là thời kỳ tạo ra
những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một xã hội mà trong đó
những nguyên tắc căn bản của xã hội XHCN sẽ được thực hiện. Như vậy, XHCN
không đủ sức phá huỷ ngay điều bất công kia, tức là việc phân phối vật phẩm tiêu
dụng theo lao động chứ không theo nhu cầu.
Những nhà kinh tế học tầm thường trong đó có bọn giáo sư tư sản, kể cả
Tu-gan của “chúng ta” nữa, luôn luôn trách những người XHCN là quên mất sự
bất bình đẳng giữa người ta với nhau và mơ ứơc xoá bỏ sự bất bình đẳng ấy. Rõ
ràng là sự trách móc ấy chỉ là chứng tỏ rằng các ngài tư tưởng gia tư sản hết sức
dốt.
C.Mác tính rất sát không những đến sự bất bình đẳng không thể trách được
giữa người ta với nhau, mà còn tính cả đến điểm sau này là chỉ riêng bạn thân việc
biến tư liệu sản xuất thành sở hữu chung của toàn thể xã hội, ( CNXH theo
nghĩa thông thường) thì cũng không xoá bỏ được những khuyết điểm của sự phân
phối và sự bất bình đẳng của pháp quyền tư sản, pháp quyền này vẫn tiếp tục
thống trị, vì sản phẩm được phân phối theo lao động. Mác nói “… Nhưng những
khuyết điểm ấy không thể nào tránh khỏi được trong giai đoạn đầu của XHCS , là
xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản mà ra, sau một thời kỳ sinh để lâu dài và đau
lớn. Quyền lợi không bao giờ có thể cao hơn trình độ văn minh của xã hội thích
ứng với tình trạng của kinh tế ấy” …
Như thế là trong giai đoạn dầu của XHCS ( mà người ta vẫn thường gọi là
CNXH ), pháp quyền tư sản không bị xoá bỏ hoàn toàn mà chỉ xoá bỏ một phần,
chỉ bị xoá bỏ trong phậm vi mà cách mạng kinh tế được hoàn thành, nghĩa là chỉ
trong phạm vi có liên quan đến tư liệu sản xuất thôi. Pháp quyền tư sản thừa nhận
tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân. CNXH biến tư liệu sản xuất thành tài
sản chung. Chính là trong phạm vi ấy, pháp quyền tư sản mới bị xoá bỏ.
Trong giai đoạn này nguyên tắc phân phối là phân phối theo lao động, về
vấn đề này C.Mác viết: “ ở đây rõ ràng cũng là một nguyên tắc như nguyên tắc
điều tiết việc trao đổi hàng hoá, miễn là sự trao đổi ngang nhau. Nội dung và hình
thức khác nhau vì những điều kiện vốn đã khác nhau, thì không ai có thể cung cấp
nghĩa tượng tưởng có tính chất kinh viện và giả tạo, không bám vào những cuộc
tranh luận vô ích về danh từ ( thế nào là CNXH, thế nào là CNCS ?), trái lại
C.Mác phân tích cái mà người ta có thể gọi là những trình độ chín muồi về kinh tế
của CNCS.
Trong giai đoạn đầu, trong bước đầu CNCS chưa thể hoàn toàn chín muồi
về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toan thoát khỏi những tập tục hay những tàn tích của
CNTB. Do đó có hiện tượng đáng chú ý là: “Cái quan điểm chật hẹp của pháp
quyền tư sản”, vẫn được duy trì dưới chế độ cộng sản, trong giai đoạn đầu của nó.
Đương nhiên về mặt phân phối vật phẩm tiêu dùng thì pháp quyền tư bản tất nhiên
đòi hỏi phải có một nhà nước kiểu tư sản, vì nếu không có một bộ máy đủ sức
cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của quyền lợi thì quyền lợi có
cũng như không…
V.I. Lênin: tr 535-539-541-542/25.
Nếu chúng ta tự hỏi : CNCS và CNXH khác nhau thế nao, thì chúng ta phải
trả lời rằng CNXH là một xã hội trực tiếp phát sinh từ CNTB, là hình thức đầu tiên
của xã hội mới, còn CNCS là hình thức xã hội cao hơn và chỉ có thể phát triển
được sau khi CNXH hoàn toàn được củng cố. CNXH có nghĩa là làm việc không
có sự giúp đỡ của nhà nước tư bản, là lao động xã hội dưới sự kiểm kê, kiểm soát
và giám sát nghiêm ngặt nhất của đội tiên phong có tổ chức, tức bộ phận tiên tiến
của những người lao động, đồng thời phải quy định mức độ lao động và sự thù lao
cho lao động. Sở dĩ cần phải quy định như vậy, là vì xã hội TBCN đã để lại cho
chúng ta những tàn tích và tập quán như lao động riêng lẻ, không tin vào nền kinh
tế tập thẻ, thói quen cũ của người tiểu chủ, …hết thảy những cái đó đều chiếm địa
vị thống trị trong tất cả các nước nông dân. Tất cả những cái đó đều trái với kinh
tế CSCN chân chính. CNCS mà chúng ta nói đây là chế độ trong đó mọi người
đều có thói quen thực hiện nghĩa vụ xã hội mà không cần đến những cơ quan
cưỡng bức đặc biệt và lao động không lấy thù lao để phục vụ lợi ích chung trở
Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản là một tất yếu lịch sử đối với Việt
Nam, vì:
Ngày nay, trong những điều kiện lịch sử mới, chúng ta có thể đi con đường
phát triển rút ngắn, phát triển theo định hướng XHCN tránh cho nhân dân những
đau khổ của con đường TBCN. Sự rút ngắn này được thực hiện thông qua những
biện pháp kế hoạch đông thời việc sử dụng biện pháp thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng XHCN trên cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế nhà nước
vững mạnh đóng vai trò chủ đạo đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự rút ngắn
này chỉ có thể thực hiện thành công với điều kiện chính quyền thuộc về nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuỳ nhiên cần nhận thức đầy đủ
rằng sự rút ngắn ở đây không phải là công việc có thể làm được nhanh chóng “
Tiến lên CNXH, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và
giáo dục”; “CNXH không thể làm mau được mà phải làm dần dần”.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Nxb.
CTQG, HN1996, T 8, tr
228,226.
Nhận thức đúng nội dung của sự quá độ bỏ qua hay rút ngắn này có ý nghĩa
thực tiễn quan trọng, giúp chúng ta khác phục được quan niệm giản đơn duy ý chí
về thời kỳ qua độ lên CNXH từ một nước mà CNTB kém phát triển.
CNXH theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“…trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi
người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.
CTQG,
HN1996, T 8, tr 228,226.
Quán triệt tư tưởng cơ bản đó, định hướng XHCN cho sự phát triển nền
quốc phòng cho phù hợp với tình hình mới. Vì vậy mục tiêu phát triển trong thời
kỳ này phải phục vụ cho nhiệm vụ “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “tất
cả để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”, Hoàn cảnh đó đem lại cho việc
xây dựng kinh tế ở thời kỳ này đặc điẻm mô hình kinh tế “cộng sản thời chiến”.
Mô hình kinh tế này là mô hình kinh tế có tính tập trung cao nên đã động
viên được lực lượng để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt bằng
sự chỉ đạo tập trung nghiêm ngặt, bằng chế độ phân phối bình quân, bao cấp…
Tuỳ nhiên, ngay trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước đã dẫn đầu thấy ra được
những nhược điểm của mô hình kinh tế đó và bắt đầu có chủ trương cải biến một
phần cơ chế quản lý kinh tế. Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành TW khoá III
(tháng 9-1975) đã đề cập đến việc duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miên
Nam trong một thời gian nhất định, ra sức sử dụng mọi khả năng lao động, kỹ
thuật, tiền vốn, kinh nghiệm quản lý để đẩy mạnh sản xuất. Những tư tưởng này
được tiếp tục phát triển và vận dụng vào thực tiễn những năm sau.
* Thời kỳ từ 1976 – 1986: Đây là thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH trong
tinh hình đất nước chịu đựng những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau
cuộc chiến tranh ác liệt lâu dài, với những diễn biến trong tình hình thế giới có mặt
không thuận lợi. Là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ
một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là cuộc khủng hoảng
kinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80.
ĐH V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước từ năm
1976-1980 (kế hoạch kinh tế 5 năm) là thời kỳ nên kinh tế ở trạng thái trì trệ. Trên
mặt trận kinh tế, Việt Nam đứng trước nhiều vấn đề gay gắt.
Tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan như nên kinh tế đang gánh
chịu những hâu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài, phải đối phó với hai
cuộc đấu tranh biên giới để bảo vệ Tổ quốc, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời
kỳ chiến tranh. Những nguyên nhân chủ yếu, làm trầm trong thêm tình hình khó
lõi. Đây là mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng
CNXH của Việt Nam, vận dụng một cách có phát triển sáng tạo những quan điểm
cơ bản V.I. Lênin về “Chinh sách kinh tế mới” vao những điều kịên lịch sử ở Việt
Nam và thế giới ngày nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu
sụp đổ.
Từ những quan điểm của các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,VII,VIII
và từ cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, có thể rút ra
được một số đặc trưng cơ bản và chủ yếu của mô hình kinh tế mới này là:
- Chuyển nền kinh tế từ kinh tế hiện vật bao cấp là chủ yếu sang nền kinh
tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN. Đó là cach tổ chức sản xuất tối ưu để xây dựng cơ sở vật
chất-kỹ thuật của CNXH mà hiệu quả kinh tế cuối cùng là năng suất lao động cao,
tạo ra nền sản phẩm thăng dư.