Biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường học phổ thông tại trường Trung học phổ thông Quất Lâm, tỉnh Nam Định - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THANH GIANG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẤT LÂM - TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Đức Chính

7
1.2.2. Quản lý giáo dục
8
1.2.3. Chất lượng
9
1.2.4. Chất lượng giáo dục
10
1.2.5. Quản lý chất lượng
14
1.3. Các đặc điểm cơ bản của quản lý chất lượng
14
1.4. Các cấp độ trong quản lý chất lượng
15
1.5. Các mô hình quản lý chất lượng
16
1.5.1. Mô hình kiểm soát chất lượng
16
1.5.2. Mô hình đảm bảo chất lượng
17
1.5.3. Mô hình quản lý chất lương tổng thể
18
1.6. Quy trình quản lý chất lượng
19
1.6.1. Nghiên cứu chuẩn
19
1.6.2. Đối chiếu thực trạng với chuẩn (báo cáo tự đánh giá)
20
1.6.3. Xây dựng kế hoạch khắc phục điểm yếu
21
1.6.4. Phối hợp với đoàn đánh giá ngoài

trường THPT Quất Lâm

40
2.4. Đánh giá chung
71
2.4.1. Điểm mạnh
72
2.4.2. Điểm yếu
72
Kết luận chương 2
73
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐẢM BẢO
CHẤT LƢỢNG THEO CHUẨN TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUẤT LÂM 74
3.1. Các nguyên tắc đề xuất
74
3.2. Một số biện pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT tại trường THPT Quất Lâm

78
3.2.1. Thành lập Hội đồng đảm bảo chất lượng
78
3.2.2. Xây dựng văn hoá chất lượng
80
3.2.3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến về các tiêu chuẩn
81
3.2.4. Xây dựng quy trình quản lý các hoạt động gắn với từng tiêu

ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BGH
Ban giám hiệu
Bộ GD& ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
CB - GV - CNV
Cán bộ, giáo viên, công nhân viên
CBQL
Cán bộ quản lý
CLGD
Chất lượng giáo dục
CMHS
Cha mẹ học sinh
CSVC
Cơ sở vật chất
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GD-LĐ-HN-DN
Giáo dục - lao động - hướng nghiệp - dạy nghề
GDTC-QP-AN
Giáo dục thể chất - quốc phòng - an ninh
GV-HS
Giáo viên và học sinh
Hội đồng TĐG
Hội đồng tự đánh giá
KT&KĐCLGD
Khảo thí và kiểm định chất lượng

Bảng 2.2. Xếp loại kết quả chỉ số a tiêu chí 1 – Tiêu chuẩn 7 của
trường THPT Quất Lâm so với chuẩn (năm học 2009 – 2010)

56
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của
các biện pháp

105



2
lý do trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại trường
trung học phổ thông Quất Lâm - Tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp.
Chọn đề tài này, tôi mong muốn tìm ra và đề xuất các biện pháp quản lý đảm
bảo chất lượng giáo dục theo Bộ tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo tại trường THPT Quất Lâm - Tỉnh Nam Định.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những quyết định, những nghị định, những thông tư hướng dẫn, từ
cơ sở lý luận và thực tế công tác quản lý nhằm đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại trường
THPT Quất Lâm - Tỉnh Nam Định, người làm luận văn đề xuất các biện pháp
quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường để tiếp cận
và đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
trung học phổ thông của Bộ giáo dục Đào tạo.
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại trường THPT Quất
Lâm - Tỉnh Nam Định.
4. Mẫu khảo sát
Các quyết định, thông tư, nghị định, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về công tác đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT như: Quyết định
số 80/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 30/12/2008 về Ban hành quy định về tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông; Quyết định
số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ giáo dục và Đào tạo về Ban
hành quy trình và chu kì kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông; chỉ
thị số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/08/2008 của Bộ giáo dục và Đào tạo về
việc Tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; Hướng
dẫn số 7880/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 8/9/2009 của Bộ giáo dục và Đào


4
7. Giả thuyết nghiên cứu
Việc thực hiện quyết định số 80/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30/12/2008 về
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông để nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường là thực sự cần thiết đối với
các nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Công tác quản lý nhằm đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông của trường THPT Quất Lâm -
Tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua còn nhiều bất cập, chưa thực sự khoa
học, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông tại trường
THPT Quất Lâm - Tỉnh Nam Định.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: phân tích các văn bản hướng dẫn về đánh giá chất
lượng giáo dục trường trung học phổ thông. Phân tích các biện pháp quản lý đảm
bảo chất lượng theo tiêu chuẩn chất lượng trường trung học phổ thông của
trường THPT Quất Lâm - Tỉnh Nam Định trong 3 năm học 2009 – 2010; 2010 –
2011; 2011 – 2012. Phân tích các số liệu thu thập từ các số liệu thống kê.
Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu cụ thể liên quan đến chất
lượng giáo dục của trường THPT Quất Lâm các năm học từ năm học 2009
đến nay.
Phương pháp điều tra từ các đối tượng là đối tượng quản lý đảm bảo
chất lượng theo chuẩn.
Phương pháp tổng hợp ý kiến từ các cuộc họp triển khai, các cuộc họp
sơ kết, tổng kết của trường THPT Quất Lâm về công tác quản lý và thực hiện
nhằm đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường trung
học phổ thông từ năm học 2009 đến nay.


nghiên cứu tìm hiểu, thống nhất để đưa ra một bộ tiêu chuẩn cho các cấp học.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, sau nhiều năm nghiên cứu ngày
30/12/2008, Bộ GD-ĐT ban hành quyết định số 80/2008/QĐ-BGDĐT về ban
hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học
phổ thông.
Bên cạnh các văn bản hướng dẫn đối với cơ sở giáo dục của Bộ GD –
ĐT về công tác quản lý đảm bảo chất lượng theo bộ tiêu chuẩn có nhiều công
trình, đề tài nghiên cứu về các biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn chất lượng giáo dục trường THPT như: Nguyễn Văn Chất. Biện pháp
chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường THPT của
Thành phố Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục. Hà Nội 2009; Trần
Trọng Hà: Quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo tiêu chuản đánh giá
chất lượng giáo dục trường THPT tại trường THPT Yên Hoà. Luận văn Thạc
sĩ Quản lý giáo dục. Hà Nội 2010.
Tuy nhiên việc tìm ra và đề xuất các biện pháp quản lý đảm bảo chất
lượng theo bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT tại Nam
Định nói chung và tại trường THPT Quất Lâm – Tỉnh Nam Định nói riêng
chưa có một đề tài hay một công trình nghiên cứu nào, do vậy tác giả đã chọn
đề tài này với mục đích đề xuất một số biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng

7
theo bộ tiêu chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT tại trường THPT Quất Lâm -
Tỉnh Nam Định.
1.2. Những khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
“Quản lý xưa cũ như chính con người vậy” – DanielA.Wren [10, tr.23]. Và
đúng như lời nhận xét của ông, các tư tưởng quản lý có từ rất lâu đời rất đa
dạng và phong phú. Các tư tưởng đó đã có từ nền văn minh Lưỡng Hà (5000
năm trước Công nguyên) rồi Ai Cập, Do Thái, Babilon, Hi Lạp, Trung Hoa,
Lã Mã, Nhà thờ Thiên chúa đến những tư tưởng quản lý cận đại, các quan

thác, những tác động có định hướng, có chủ đích đến đối tượng quản lý.
Đối tượng quản lý: có thể là một hoặc nhiều người trong tổ chức và các
yếu tố được sử dụng làm nguồn lực của tổ chức. Đối tượng quản lý chịu sự
tác động của chủ thể quản lý.
Công cụ quản lý: là phương tiện, là giải pháp của chủ thể quản lý được
sử dụng để định hướng, dẫn dắt, khích lệ, phối hợp với các hoạt động của con
người và các bộ phận trong một tổ chức, để thực hiện mục tiêu đề ra. Như
vậy, công cụ quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập phương thức
thực hiện cho hoạt động quản lý. Công cụ quản lý có tác động trực tiếp trong
việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong
tổ chức
1.2.2. Quản lý giáo dục
Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục đã được
nhiều học giả đưa ra với những cách diễn đạt khác nhau.
Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo đường lối nguyên tắc giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ

9
là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu
dự kiến và tiến lên trạng thái mới về thể chất” [16, tr.17]
Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động
điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đầy mạnh công tác đào tạo
thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [16, tr.17]
Dù khái nhiệm quản lý giáo dục được học giả đưa ra các định nghĩa
khác nhau nhau vậy, song các khái niệm trên đều đề cập tới các yếu tố cơ bản
sau: chủ thể quản lý giáo dục, khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý
giáo cục, cách thức quản lý giáo dục, công cụ quản lý giáo dục.

Sản phẩm của các ngành sản xuất công nghiệp là một vật dụng cụ thể
có thể cân đo, đong đếm, là một loại sản phẩm đã được làm xong và có thể
đưa vào sử dụng ngay nhưng việc đưa ra một sản phẩm có chất lượng cũng
không hề dễ. Còn sản phẩm giáo dục là con người với sự phát triển toàn diện,
nên định nghĩa chất lượng trong giáo dục là công việc vô cùng khó khăn. Nên
khi xem xét chất lượng trong giáo dục phải có cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu
sắc và nó là vấn đề của mọi thời đại.
Giáo dục là một hoạt động hướng đích rõ rệt. Do vậy, chất lượng giáo
dục đều hướng tới các mục đích sau:
- Sự xuất sắc trong giáo dục (Petes and Waterman, 1982)
- Giá trị gia tăng trong giáo dục (Feigenbaum, 1983)
- Trùng khớp của kết quả đầu ra của giáo dục với các mục tiêu; yêu cầu
đã hoạch định (Crosby, 1979, Gilmore 1974)
- Không có sai sót trong quá trình giáo dục (Crosby 1979)
- Đáp ứng hoặc một quá trình kì vọng của khách hàng trong giáo dục
(Parasuraman 1985)
Theo Jeymour (1992), đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu của khách hàng,
cải tiến liên tục, sự phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống, hạn chế sự e dè,

11
thừa nhận và tưởng thưởng, làm việc theo đội, giải quyết vấn đề một cách hệ
thống là nguyên tắc chất lượng trong giáo dục.
Giáo dục là hoạt động hướng đích, do vậy, chất lượng giáo dục phụ
thuộc nhiều vào mục tiêu của giáo dục. Liệu có thể xác định được chúng ta
cần loại sản phẩm nào? Nếu chúng ta cần 1 kĩ sư, chúng ta sẽ xác định một
loạt những kiến thức, kĩ năng, năng lực mà một kĩ sư giỏi có thể có. Nhưng
người kĩ sư đó còn có thể là người chồng/vợ, cha/mẹ, là thành viên của một
hệ thống chính trị - xã hội nhất định. Một nền giáo dục có chất lượng phải bao
quát cả những mục tiêu cá nhân trong bối cảnh rộng lớn của cả xã hội.
Một tác giả có đề cập tới các cấp độ trong chất lượng giáo dục, mà

Tự khẳng định (Self –actualization) – là mức cao nhất trong chất lượng
giáo dục khi con người đạt tới sự phát triển toàn diện, khơi dậy mọi tiềm năng.
Hay phải xem xét chất lượng giáo dục ở nhiều cấp độ khác nhau
Ở cấp độ hệ thống (hệ thống giáo dục quốc dân), chất lượng giáo dục
được hiểu là chất lượng của cả hệ thống giáo dục ấy. Một hệ thống giáo dục
thường phức tạp và bao gồm nhiều thành tố cấu tạo nên hệ thống. Do vậy, khi
nói đến chất lượng giáo dục của hệ thống chúng ta ngầm hiểu rằng chất lượng
giáo dục của cả hệ thống là tổng hợp chất lượng của tất cả những gì tạo nên
hệ thống. Điều này nhắc nhở chúng ta phải phân biệt được giữa chất lượng
giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục. Chất lượng giáo dục là một phạm trù
triết học xác định sự vật là nó chứ không phải là cái khác, còn quản lý chất
lượng giáo dục là hành động chủ quan, có mục đích rõ ràng (hoạch định, đánh
giá, thẩm định, kiểm định, giám sát, cải tiến, …).
Ở cấp độ các cơ sở giáo dục (trường học, trung tâm đào tạo), xét về
chức năng và tổ chức thì cũng được coi là một hệ thống giáo dục thu nhỏ.
Trong cơ sở giáo dục có đầy đủ những thành phần của hệ thống giáo dục,
nhưng chúng có tính cụ thể và năng động hơn nhiều. Do vậy, chất lượng giáo
dục ở đây cũng chính là chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục. Tuy nhiên đối

13
với các cơ sở giáo dục thì chất lượng giáo dục đáng quan tâm nhất là quá trình
giáo dục của cơ sở giáo dục ấy.
Trong chương trình hành động Dakar (Senegal – 2000), UNESCO đã
đề nghị cách hiểu chất lượng giáo dục ở trường học hay chất lượng trường
học như là đơn vị tổ chức giáo dục thông qua 10 tham số sau:
1/ Người học khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, được khuyến khích
thường xuyên để có động cơ học tập chủ động.
2/ Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức.
3/ Phương pháp và kỹ thuật dạy học - học tập tích cực.
4/ Chương trình giáo dục thích hợp với người học và người dạy.

phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất
lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó”[14, tr.15]
Theo GOST 1567, “Quản lí chất lượng sản phẩm là xây dựng đảm bảo
duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông
và tiêu dùng. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ
thống, cũng như những tác động hướng tới đích tới các nhân tố và điều kiện
ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm”[14, tr.15]
Có hàng loạt định nghĩa khác nhau về quản lí chất lượng. Song, cho dù
đề cập đến khái niệm “quản lí chất lượng” từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu
cũng thống nhất ở một điểm chung, đó là:
- Thiết lập chuẩn
- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn
- Có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn
[14, tr.16]
1.3. Các đặc điểm cơ bản của quản lý chất lƣợng
Nếu quản lý theo kiểu truyền thống là quản lý theo chức năng bao gồm
4 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra. Quản lý theo

15
chức năng là tác động trực tiếp của người qản lý đến các hoạt động, quản lý
trực tiếp đối tượng quản lý. Thì ở quản lý chất lượng, các chức năng trên
không tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý mà chỉ tác động gián tiếp
thông qua chuẩn. Do vậy quản chất lượng có những chức năng cơ bản sau:
Chức năng quy định chất lượng: thể hiện ở các khâu điều tra, nghiên
cứu, thiết kế, đề xuất mức chất lượng, quy định những điều kiện, những tiêu
chuẩn kĩ thuật cụ thể mà các bộ phận trong quá trình sản xuất phải đạt được
sao cho phù hợp với các quy định của cơ quan quản lý, với yêu cầu khách
hàng về chất lượng… với các tổ chức hành chính dịch vụ, thể hiện trên
phương hướng, mục tiêu, chính sách, chuẩn mực về chất lượng.
Chức năng quản lý chất lượng: bao gồm tất cả các khâu của quá trình

chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm nào. Đảm bảo chất lượng là
thoả mãn các tiêu chuẩn kỹ thuật một cách ổn định…
- Quản lý chất lượng tổng thể: đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng
nhưng mở rộng và phát triển thêm. Quản lý chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá
chất lượng, mà ở đó mục tiêu của từng nhân viên của toàn nhân viên làm hài
lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm
điều này. Quản lý chất lượng tổng thể là tổng thể là tầng bậc cao nhất nếu so
sánh với các cấp độ khác nhau trong quản lý chất lượng.
Ở cả 3 cấp độ trên của quản lý chất lượng đều giống nhau là quản lý
bằng chuẩn. Tuy nhiên ở 3 cấp độ đó có sự khác nhau cơ bản về mục đích: ở
cấp độ kiểm soát chất lượng là để loại bỏ sản phẩm; ở cấp độ đảm bảo chất
lượng là để ngăn ngừa và duy trì; ở cấp độ quản lý là chất lượng tổng thể là để
tạo ra sự mong muốn, hài lòng của khách hàng tạo ra chất lượng toàn diện, tạo
ra văn hoá chất lượng.
1.5. Các mô hình quản lý chất lƣợng
1.5.1. Mô hình kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là kĩ thuật đầu tiên trong quản lí chất lượng xuất
hiện vào những năm 1930, còn thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” là

17
thuật ngữ do Feigenbaum (1983) đề xuất. “Kiểm soát chất lượng trong nghĩa
rộng nhất của nó là tựu trung vào những phương pháp quản lý đa dạng nhằm
cố duy trì chất lượng của sản phẩm ở mức độ mong muốn “Bách khoa toàn tư
Quốc tế về Khoa học xã hội 1979). Vấn đề cơ bản của kiểm soát chất lượng là
phát hiện và loại bỏ những sản phẩm đã hoàn thành (Fidler, 1996). Kiểm soát
chất lượng được xác định như “một quá trình xác định như “một quá tình xác
lập những tiêu chuẩn chấp nhận được với những giới hạn nhất định về chất
lượng nguyên liệu, kích cỡ, trọng lượng, và những thông số khác của hàng
hoá hay dịch vụ và duy tì những tiêu chuẩn đó” (Johannsen, 1968). Như vật
kiểm soát chất lượng còn có nghĩa là loại bỏ chất lượng quá cao cùng như

đảm bảo chất lượng. Đó chình là cơ chế đảm bảo “không có lỗi”, “làm đúng
ngay từ đầu và làm đúng mọi lúc, mọi nơi”. [14,tr.23]
1.5.3. Mô hình quản lý chất lương tổng thể
Mô hình TQM là cách tiếp cận cao hơn đảm bảo chất lượng. Tầm quan
trọng được nhấn mạnh không chỉ ở khâu quản lí chất lượng đầu vào và quá
trình, mà còn ở chỗ phát tiển “văn hoá chất lượng” tỏng cán bộ công chức. Sự
thành công TQM là ở chỗ làm cho “khách hàng” cảm thấy vui sướng. Khi hài
lòng, khách hàng sẽ kể lại cho bạn bè, từ đó, uy tín của sản phẩm, của tổ chức
sẽ tăng lên. Là một mô hình năng động, TQM còn phán đoán được sự thay
đổi trong nhu cầu và sở thích của khách hàng và sự thay đổi sản phẩm của
hình nhằm đáp ứng nhu cầu mới đó không như mô hình kiểm soát chất lượng
và đảm bảo chất lượng, TQM năng động, không chấp nhận một định nghĩa
chất lượng nào là vĩnh cửu. TQM luôn nỗ lực xác định tầm cao mới của chất
lượng để vươn tới.
Như vậy, các mô hình quản lí chất lượng tiến triển từ thanh tra tới kiểm
soát chất lượng (để loại bỏ) tời đảm bảo chất lượng (để ngăn ngừa) và cuối
cùng là TQM (để cải tiến liên tục).

19
Các mô hình quản lí này có thể áp dụng cho sản xuất công nghiệp, dịch
vụ cũng như giáo dục.
Như vậy quản lý chất lượng theo mô hình quản lý chất lượng là quá
trình quản lý theo cách phải thiết kế có hệ thống để duy trì và có các biện
pháp nhằm duy trì và nâng cao chất lượng, hệ thống đó phải liên kết các bộ
phận với nhau [14, tr. 23-24]
1.6. Quy trình quản lý chất lƣợng
1.6.1. Nghiên cứu chuẩn
1.6.1.1. Nghiên cứu chuẩn.
Đối tượng: tất cả cán bộ, giáo viên, công nhân viên, ban đại diện cha
mẹ học sinh, đại diện học sinh các lớp.

yêu cầu. Quy trình này phải gắn với từng nội dung công việc cụ thể để có thể
áp dụng cho nhiều người khi thực hiện công việc.
1.6.1.6. Gọi tên minh chứng sau mỗi bước của quy trình để chứng tỏ bước đó
đã hoàn thành
Đây là nội dung vô cùng quan trọng vì nó chỉ rõ các công việc cần
làm, cách làm và chỉ có làm thật mới để lại nguồn minh chứng và từ các
minh chứng đó sẽ chứng minh cho công việc mà người phụ trách đã hoàn
thành hay chưa.
1.6.2. Đối chiếu thực trạng với chuẩn (báo cáo tự đánh giá)
Báo cáo tự đánh giá là việc đánh giá lại những công việc đã làm gắn
với trình tự thực hiện, với kết quả và các nguồn minh chứng. Từ báo cáo tự
đánh giá sẽ đối chiếu thực trạng kết quả đã làm với bộ chuẩn xem công tác
quản lý đã đảm bảo chất lượng đạt chuẩn chưa. Đối chiếu thực trạng so với
chuẩn cần phải làm được các công việc sau
1.6.2.1. Đã thực hiện hết các công việc chưa
Trong báo cáo tự đánh giá cần chỉ rõ nội dung các công việc đã làm so
với công việc phải làm để đảm bảo chất lượng.

Trích đoạn Tổ chức viết báocáo tự đánh giá Tổ chức các hoạt động phối hợp với các cơ quan ban ngành ngoà Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của đề xuất Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status