Đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG ANH TUẤN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM SANG LÀO
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và QHKTQT
Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS HÀ VĂN HỘI

Hà Nội, 2012

2.2.1. Thành công 73
2.2.2. Một số hạn chế của việc đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào . 79
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA
VIỆT NAM SANG LÀO 86
3.1. Bối cảnh quốc tế tác động tới đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào86
3.2. Định hướng chiến lược quan hệ hợp tác đầu tư với Lào 95
3.2.1.Quan điểm về định hướng chiến lược trong đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài: 95
3.2.2. Quan điểm về quan hệ hợp tác đầu tư với Lào 98
3.3. Các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp của Việt Nam
sang Lào 101
3.3.1. Nhóm giải pháp về chiến lược và chính sách của nhà nước 101
3.3.2. Nhóm giải pháp xuất phát từ doanh nghiệp 111
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ
VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI


Tổ chức thương mại thế
giới

ii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆUSTT

Số hiệu Nội dung Trang

1 Bảng 1.1 Một số chỉ số kinh tế và dân số lào 28
2 Bảng 2.1
Vốn ĐTTTRNN của Việt Nam trong giai đoạn
từ 1989 – 2012
54
3 Bảng 2.2 ĐTTTRNN phân theo nước tiếp nhận đầu tư 56
4 Bảng 2.3 ĐTTTRNN phân theo ngành 57
5 Bảng 2.4
Tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang
Lào theo năm
60
6 Bảng 2.5
Một số lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Việt Nam tại
Lào (2000-2011)
68


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài dù còn mới mẻ đối với Việt
Nam nhưng từ lâu đã không còn xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới.
Đây chính là một hướng đi mới, mang tính hấp dẫn cao đối với Việt Nam.
Mặc dù có không ít rủi ro, nhưng đó là một tiềm năng to lớn trong việc giúp
doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng vị thế của doanh nghiệp nói riêng và
hình ảnh của Việt Nam nói chung trên trường quốc tế. Thời gian vừa qua, các
dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tuy vốn
không lớn nhưng bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất định. Trong xu thế
hội nhập sâu rộng, đặc biệt là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành
viên WTO, chắc chắn, số dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
sẽ không chỉ dừng lại ở ba con số. Do đó, cơ hội đẩy mạnh hoạt động sản
xuất, kinh doanh thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vào thời điểm này
là rất lớn và rõ ràng đang có chiều hướng thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt
Nam.
Việt Nam và CHDCND Lào là hai quốc gia cùng năm trên bán đảo Đông
Dương, có chung đường biên giới và có mối quan hệ hữu nghị đặt biệt lâu
đời. Hiện nay, giữa hai nước có nhiều cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu vùng biên,
các vùng kinh tế cửa khẩu và Chính phủ hai nước đã ký kết nhiều Hiệp định
và thảo thuận hợp tác nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai nước Nhìn
chung, điều kiện địa lý tự nhiên và quan hệ hữu nghị giữa hai nước rất thuận
lợi cho việc hợp tác, phát triển kinh tế, thương mại và và đầu tư của hai nước.
CHDCND Lào hiện đang là quốc gia đứng đầu trong tổng số 55 quốc gia
và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam. Xét
theo giá trị đầu tư của các dự án đã được Chính phủ Lào cấp phép đầu tư, tính 3

kịp thời… Bên cạnh đó, công tác hỗ trợ, định hướng cho các hoạt động đầu tư
của doanh nghiệp còn rời rạc, thiếu liên kết. Các kiến nghị của doanh nghiệp
đôi khi chưa chuyển được tới các cơ quan đầu mối cần thiết để tổ chức xử lý
một cách kịp thời và ít có thông tin phản hồi lại cho doanh nghiệp.
Trong định hướng chiến lược phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa
Việt Nam và Lào, vấn đề thúc đẩy, tăng cường hoạt động đầu tư của các
Doanh nghiệp Việt Nam vào Lào là lĩnh vực hợp tác trọng tâm giữa hai nước
trong giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu đưa Việt Nam vươn lên đứng đầu
các quốc gia đầu tư trực tiếp vào Lào. Theo đó, tổng giá trị đầu tư của các
doanh nghiệp Việt Nam vào Lào đạt mức 5 tỷ USD vào năm 2015 và 10 tỷ
USD vào năm 2020. Như vậy, Việt Nam cần phải làm gì trong giai đoạn hiện
nay và sắp tới để nâng cao thế và lực cho mình, làm như thế nào để có thể
nắm bắt và biến cơ hội thành hành động hiệu quả. Ngay lúc này, nhu cầu thực
tiễn đòi hỏi phải có định hướng chiến lược rõ ràng về đầu tư trực tiếp của Việt
Nam sang Lào với những giải pháp thích hợp, nhằm góp phần thúc đẩy hoạt
động này từng bước phát triển và đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong bối cảnh
đó, các vấn đề đặt ra đối với hoạt động đầu tư sang Lào của Việt Nam là:
 Động lực nào thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước
ngoài?
 Thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào như thế
nào?
 Những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu
tư sang Lào? Việt Nam cần xây dựng một định hướng chiến lược như thế
nào để thúc đẩy hoạt động đầu tư của Việt Nam sang Lào?

hậu, không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay.
Về đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào, tính đến thời điểm hiện nay
chỉ có 02 quyển sách: (1) Cuốn “Khuyến khích đầu tư thương mại vào các
khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, Nhà xuất

5

bản Thống kê, 2000 cung cấp thông tin về tình hình trao đổi thương mại tại
các khu cửa khẩu của Việt Nam với Trung Quốc, với Lào và với Campuchia;
Đưa ra một số mô hình phát triển khu kinh tế cửa khẩu và vấn đề xây dựng dự
án phát triển kinh tế-xã hội khu vực cửa nhằm tăng cường thu hút đầu tư và
thương mại; Vấn đề phát triển giao thông hành lang Đông-Tây trong tiểu
vùng Mêkông. Ngoài ra cuốn sách còn đăng tải các văn bản pháp luật về
khuyến khích đầu tư-thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam, quy
chế về chợ biên giới, quá cảnh hàng hóa (2) Cuốn “Hệ thống văn bản pháp
quy đầu tư vào Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” của tập thể tác giả Hội Phát
triển Hợp tác kinh tế Việt Nam-Lào-Campuchia, Nhà xuất bản Thống kê,
2008 đề cập đến các vấn đề: Giới thiệu văn bản hướng dẫn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào; Văn bản thoả thuận hợp tác
giữa Việt Nam và Lào về khuyến khích, bảo hộ đầu tư, về các vấn đề liên
quan đến thuế ; Văn bản hướng dẫn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt
Nam.
Về đề tài nghiên cứu, tác giả Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2010), Chiến lược
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tập
trung nghiên cứu tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có chú trọng nghiên cứu thể chế chính sách

Việt Nam sang Lào. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, đã có một số nghiên cứu
sinh người Lào tại Việt Nam làm Luận án Tiến sỹ kinh tế về vấn đề thu hút
đầu tư trực tiếp vào Lào: các tác giả Vilayvong BOUDDAKHAM (2010),
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội ở Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào, Luận án Tiến sỹ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh; tác giả Phonesay VILAYSACK (2010), Thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Luận án Tiến sỹ, Đại
học Kinh tế Quốc dân, tập trung phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài trong
phát triển kinh tế - xã hội ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, từ đó đề xuất

7

giải pháp tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước Lào trong thời gian tới.
Đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào mặc dù chưa được nghiên cứu
toàn diện như đã nêu ở trên, tuy nhiên vấn đề này cũng đã được đề cập đến
như một bài nghiên cứu chuyên khảo, hoặc là một phần trong một số công
trình, đề tài nghiên cứu, dưới dạng là một đề tài nghiên cứu khoa học hoặc
một đề án ứng dụng. Trong đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia “Phát triển
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Campuchia trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế” do PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên – Phó Chủ nhiệm Khoa
Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội chủ trì (đang trong giai đoạn triển khai) tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn, phân tích thực trạng và kết quả trong thời gian qua về hợp
tác kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Campuchia; những nhân tố tác động
mới trong quá trình hợp tác, kiến nghị các giải pháp và chính sách nhằm đẩy
mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới, trong đó có đề

trong số những doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên có hoạt động đầu tư trực tiếp
sang Lào bằng việc góp vốn thành lập Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt tại
Viêng Chăn, Lào năm 1999, đồng thời đang đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong hoạt động tài trợ vốn, cung cấp các dịch vụ ngân hàng phục vụ
cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Lào – trong năm 2010 đã thực
hiện xây dựng đề án “Đề xuất định hướng chiến lược xúc tiến thương mại,
đầu tư vào Lào”, trong đó đề cập đến môi trường đầu tư ở Lào, tình hình hoạt
động đầu tư của Việt Nam vào Lào (quy mô đầu tư, cơ cấu đầu tư theo lĩnh
vực, những thuận lợi và khó khăn, tồn tại), trên cơ sở đó đề xuất những định
hướng chiến lược và kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao
hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Lào.
Ở phạm vi hoạt động đầu tư tại một ngành, lĩnh vực cụ thể, Tạp chí Đầu
tư nước ngoài (FIR) và Viện Tư vấn phát triển (CODE) trong thời gian qua đã
tiến hành cuộc khảo sát và nghiên cứu về “Tình hình đầu tư phát triển cây cao
su của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào”, hoàn thành tháng 12/2008.

9

Đây là một phần của Dự án Nghiên cứu tổng thể về sự phát triển của cây cao
su ở Lào trong Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) do Viện Nghiên cứu Kinh tế
Quốc gia Lào và IUCN Lào điều phối thực hiện.
Kết quả tìm hiểu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, tất
cả các nghiên cứu đã công bố nói trên chỉ là những lát cắt từ nhiều góc độ về
hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào, chúng chưa phải là một
nghiên cứu toàn diện về một bức tranh toàn cảnh đầu tư trực tiếp của Việt
Nam sang Lào, để đi đến xây dựng định hướng chiến lược và các giải pháp
tổng thể, đồng bộ nhằm đẩy mạnh hoạt động này. Điều này, cùng với tính cấp

lược phát triển.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Lào
được nghiên cứu mang tính tổng quát, không phân tích chi tiết từng ngành cụ
thể. Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2000 (năm đánh dấu cột mốc hai
nước đã ký kết các Hiệp định Hợp tác Chiến lược về kinh tế, văn hóa, khoa
học kỹ thuật 10 năm, 5 năm và hàng năm để theo dõi và thúc đẩy hợp tác toàn
diện giữa hai nước trong thời kỳ mới, trong đó có: Bản thỏa thuận Chiến lược
hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam -
Lào giai đoạn 2001 - 2010; Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ
thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam - Lào thời kỳ 2001 – 2005,…) đến nay.
Các thông tin và dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra một
doanh nghiệp tại Việt Nam có hoạt động đầu tư sang Lào.

11
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai các vấn đề đặt ra, luận văn đã sử dụng đan xen
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Luận văn vận dụng phương pháp luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ hợp tác
kinh tế, văn hóa, xã hội giữa hai nước Việt Nam và Lào.
- Phương pháp phân tích thống kê và tổng hợp: từ việc thu thập những số
liệu, dữ liệu về hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào cũng như
thông tin về định hướng chiến lược và các chính sách có liên quan của Việt
Nam và Lào để phân tích nhằm đưa ra những kiến giải.
- Phương pháp so sánh: Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư trực

mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào trong thời
gian tới.
7. Bố cục luận văn
Kết cấu chính của luận văn gồm 3 chương. Ngoài ra còn có bảng thuật
ngữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục biểu đồ, phần mở đầu và kết luận, tài
liệu tham khảo. Cụ thể như sau:
 Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thúc đẩy dòng vốn đầu tư
trực tiếp của Việt Nam sang Lào
 Chương 2. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào
 Chương 3. Các giải pháp đẩy mạnh đầu tư trực tiếp của Việt Nam
sang Lào

13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THÚC ĐẨY DÒNG
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM SANG LÀO
1.1. Lý luận chung về đầu tư ra nước ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư quốc tế là quá trình dịch chuyển vốn, tài sản từ quốc gia này sang quốc
gia khác để các nhà đầu tư tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh – dịch vụ
với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.
Thực tiễn pháp lý phân loại đầu tư quốc tế thành hai loại là đầu tư từ nước
ngoài và đầu tư ra nước ngoài [11, tr.28-36].
Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 quy định “Đầu tư ra nước ngoài là việc
nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền mặt và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam
ra nước ngoài để tiến hành đầu tư” [13].
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) của Việt Nam hiện nay được quy

suất đầu tư của Mỹ giảm đi đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI
của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăng liên tục. Mô hình trên không giải thích được
hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn
chảy ra; không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI. Do vậy, lý thuyết lợi
nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu
FDI.
1.1.2.2. Các lý thuyết kinh tế vi mô
Nhóm lý thuyết này hầu hết đều tìm cách giải thích câu hỏi: tại sao các
công ty lại đầu tư ra nước ngoài? Nguyên nhân hình thành các công ty xuyên
quốc gia và tác động của chúng đối với những nước nhận đầu tư, đặc biệt là
các nước đang phát triển.

15
 Lý thuyết chiết trung:
Lý thuyết này phát biểu rằng, các công ty sẽ thực hiện đầu tư ra nước
ngoài khi hội tụ đủ ba lợi thế. Đó là lợi thế về địa điểm, lợi thế về sỡ hữu và
lợi thế về nội hóa. Lợi thế về địa điểm là lợi thế có được do việc hoạt động
kinh doanh tại một địa điểm nhất định với những đặc thù riêng, nó có thế gắn
liền với sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên, sự sẵn có của nguồn lao động
với giá rẻ và lành nghề… Lợi thế về sở hữu là lợi thế có được khi có cơ hội
tham gia sở hữu một số tài sản đặc biệt nhất định như nhãn hiệu sản phẩm,
bản quyền công nghệ hoặc cơ hội quản lý. Lợi thế nội hóa là lợi thế đạt được
do việc nội hóa hoạt động sản xuất thay vì chuyển nó đến thị trường kém hiệu
quả hơn.
 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm (Vernon, 1966):
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm do nhà kinh tế học Vernon đề xuất vào năm
1966. Theo lý thuyết này thì bất kỳ một công nghệ sản phẩm mới nào đều tiến

quá trình đuổi kịp của các nước đang phát triển: khi một nước đuổi kịp ở nấc
thang cuối cùng của một ngành công nghiệp từ kinh tế thấp sang kỹ thuật cao
thì tỷ lệ FDI ra sẽ lớn hơn tỷ lệ FDI vào. Một quốc gia đứng đầu trong đàn
nhạn, đến một thời điểm nhất định sẽ trở nên lạc hậu và nước khác sẽ thay thế
vị trí đó.
Đóng góp đáng kể của mô hình này là sự tiếp cận “động” với FDI trong
một thời gian dài, gắn với xu hướng và quá trình của sự phát triển, có thể áp
dụng để trả lời câu hỏi: vì sao các công ty thực hiện FDI, đưa ra gợi ý đối với
sự khác nhau về lợi thế so sánh tương đối giữa các nước dẫn đến sự khác
nhau về luồng vào FDI.

17
1.2. Sự cần thiết, vai trò và các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp của
Việt Nam sang Lào
1.2.1. Nhu cầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Đầu tư nước ngoài, mà trước hết là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là nhu
cầu phát của mọi nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng.
Điều đó đã được chứng minh rõ nét từ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của các quốc gia phát triển và nó cũng không kém phần quan trọng ở
các quốc gia đang phát triển, chỉ có điều là chúng xảy ra ở các thời điểm khác
nhau do quá trình tích luỹ về lượng và chất rất khác nhau giữa các quốc gia
này [17, tr.31-37].
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một xu hướng tất yếu khi mà các nền kinh
tế hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
không chỉ có các nước phát triển đóng vai trò là chủ đầu tư mà trong những
giai đoạn gần đây đã có sự tham gia của các nước đang phát triển vào hoạt
động này. Lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các

không còn thời gian để các doanh nghiệp chần chừ, ngay từ bây giờ các doanh
nghiệp Việt Nam phải vào cuộc một cách khẩn trương thì mới kịp với trào lưu
chung của thế giới. Các doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng và điều kiện
để tiến hành công việc đó.
Thứ hai, trong thời đại bùng nổ khoa học và CNTT thì đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài là một trong những phương pháp ít tốm kém nhất mà các
doanh nghiệp các nước đang phát triển có thể áp dụng để tiếp cận với KHCN
cao, đồng thời học hỏi những ứng dụng trong CNTT, một trong những lĩnh
vực là chìa khoá then chốt nhất cho sự phát triển và thành công. Ngày nay,
KHCN & CNTT đang biến đổi và phát triển từng giây, từng phút, những ứng
dụng của chúng có vai trò vô cũng quan trọng đối với nền kinh tế và trong
hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống. KHCN & CNTT đã và đang trở thành
công cụ nóng cho phát triển đất nước về mọi mặt (đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế), nếu biết cách sử dụng đúng đắn. Khi thực hiện đầu tư trực tiếp ra

19
nước ngoài, ở các nước tiên tiến có KHCN & CNTT phát triển cao như Mỹ,
Anh… Việt Nam có cơ hội được tiếp cận trực tiếp với những thực tế ứng
dụng KHCN & CNTT ở các nước này vừa giúp những doanh nghiệp của các
nước đang phát triển tìm kiếm lợi nhuận hữu hình; đồng thời khai thác những
lợi nhuận vô hình, mà đôi khi số lợi nhuận vô hình làm cho số lợi nhuận mà
doanh nghiệp kiếm được lớn hơn rất nhiều lần so với những gì mà chúng ta
nghĩ. Hơn nữa, các doanh nghiệp này có thể đem những tiến bộ khoa học
công nghệ cao và những ứng dụng của CNTT hiện đại mà trong nước chưa có
điều kiện triển khai để đầu tư ra nước ngoài, tạo những sản phẩm mới, thị
trường mới có sức cạnh tranh cao tại các nước phát triển. Đây cũng là phương
pháp đi trước đón đầu rất hiệu quả và đáng được quan tâm khuyến khích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status