ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ BÌNH
NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT
KHẨU CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên ngành: KTTG & QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ CÔNG TY
2.1. Tổng quan về sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản 33
2.1.1. Tổng quan về sản xuất và chế biến nông sản của Việt nam thời gian qua 33
2.1.2. Tổng quan về xuất khẩu nông sản thời gian qua 34
2.2. Phân tích thực trạng sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất 36
khẩu chủ yếu của Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
ii
2.2.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng gạo 36
2.2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê 48
2.2.3. Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng chè 59
2.2.4. Thực trạnh năng lực cạnh tranh mặt hàng Cao su 70
2.3. Đánh giá thực trạng sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất 79
khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
2.3.1. Đánh giá tổng quát 79
2.3.2. Những nguyên nhân làm giảm năng lực cạnh tranh một số mặt hàng 85
nông sản xuất khẩu chủ yếu
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG 90
CAO SỨC CẠNH TRANH MỘT SỐ NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CHỦ
YẾU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT
3.1. Dự báo và định hướng thương mại một số mặt hàng nông sản trên thế 90
giới và Việt Nam
3.1.1. Dự báo thương mại một số mặt hàng nông sản trên thế giới 90
3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển xuất khẩu nông sản của Việt nam 93
trong thời gian tới.
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông 97
sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế.
3.2.1. Nhóm các giải pháp vĩ mô 97
3.2.2 Nhóm các giải pháp vi mô 106
KẾT LUẬN 113
Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam
50
Bảng 2.7
Thị phần cà phê xuất khẩu của các nước xuất khẩu hàng
đầu trên thế giới
52
Bảng 2.8
Các thị trường xuất khẩu cà phê lớn của Việt Nam
53
Bảng 2.9
So sánh giá thành sản xuất cà phê của Việt Nam với một số đối
thủ
54
Bảng 2.10
Sản lượng chè xuất khẩu của các nước xuất khẩu chè hàng đầu
thế giới.
59
Bảng 2.11
Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam
61
Bảng 2.12
Thị trường xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam
63
Bảng 2.13
So sánh giá thành xuất khẩu chè của Việt Nam với một số đối
thủ cạnh tranh
64
Bảng 2.14
Sản lượng xuất khẩu cao su tự nhiên trên thế giới
70
Biểu đồ 2.5
Giá gạo thế giới tăng do nhu cầu mua lớn từ Philippin
45
Biểu đồ 2.6
Giá cà phê xuất khẩu của thế giới và Việt nam
56
Biểu đồ 2.7
Thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt nam năm2009
63
Biểu đồ 2.8
Giá chè xuất khẩu của thế giới và Việt nam
65 1
Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài, dự án của các Bộ, các trƣờng
Đại học, các Viện nghiên cứu đã nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của hàng
nông sản nƣớc ta. Trong số đó, trƣớc hết phải kể đến công trình Dự án Hợp tác
kỹ thuật TCP/VIE/8821 (2000) về “Khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp
Việt Nam: Một sự phân tích sơ bộ trong bối cảnh hội nhập ASEAN và AFTA”
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) đƣợc sự tài trợ của
Tổ chức Nông Lƣơng của Liên Hiệp Quốc (FAO). Dự án này bao gồm nhiều báo
cáo đề cập đến khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản Việt Nam nhƣ
gạo, đƣờng, hạt điều, thịt lợn, cà phê dƣới giác độ chi phí sản xuất và tiếp thị,
năng suất, kim ngạch xuất khẩu, giá cả. Thời gian phân tích của các báo cáo này
giới hạn đến năm 1999.
Báo cáo khoa học về “Nghiên cứu những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường xuất khẩu nông
sản trong thời gian tới: cà phê, gạo, cao su, chè, điều” (2001), của Bộ
NN&PTNT, do TS. Nguyễn Đình Long làm chủ nhiệm đề tài, đã đƣa ra những
khái niệm cơ bản về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, phân tích những đặc
điểm và đƣa ra những chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông
sản xuất khẩu chủ yếu (gạo, cà phê, cao su, chè và điều), bao gồm các chỉ tiêu về
định tính nhƣ chất lƣợng và độ an toàn trong sử dụng, quy mô và khối lƣợng,
kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm, phù hợp của thị hiếu và tập quán tiêu dùng, giá
thành v.v…và các chỉ tiêu định lƣợng nhƣ: mức lợi thế so sánh (RCA), chi phí
nguồn lực nội địa (DRC). Số liệu nghiên cứu mới dừng lại ở năm 2000.
Đề tài cấp Bộ, mã số 98-98-036 về “Những giải pháp nhằm phát huy có
hiệu quả lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào thị
trường khu vực và thế giới” (2000) của Viện Nghiên cứu Khoa học thị trƣờng
giá cả. Đề tài này nghiên cứu diễn biến khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa
3
gạo, ngành xi măng và ngành mía đƣờng cho đến năm 1999. Các giải pháp đƣa
tự nhiên của Việt Nam đến năm 2010” [16], của Bộ Thƣơng Mại v.v
Tóm lại, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, đầy đủ và cập nhật về vấn đề năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT. Hầu hết các nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở việc sơ lƣợc sức cạnh tranh xuất khẩu của một số mặt hàng
đơn lẻ, v.v…Vì vậy, có thể nói đề tài đƣợc lựa chọn nghiên cứu trong luận án
mang tính thời sự cao, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam mới gia nhập WTO.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng
cao năng lực cạnh tranh hàng hoá nông sản xuất khẩu của Việt nam trong bối
cảnh hội nhập KTQT.
- Chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân làm giảm năng lực cạnh
tranh của hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt nam so với các mặt hàng
của các đối thủ cạnh tranh.
- Đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất
khẩu Việt nam trên thị trƣờng quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh
tranh của hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là tập trung phân tích năng lực cạnh tranh
của một số hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt nam bao gồm: Gạo, cà
phê, chè, cao su trong bối cảnh hội nhập KTQT. Đây là bốn mặt hàng nằm trong
nhóm 10 mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu cao nhất và đang đƣợc đánh
5
giá là có sức cạnh tranh ở các mức độ khác nhau (cạnh tranh cao: gạo và cà phê;
cạnh tranh trung bình: chè và cao su).
Luận văn chỉ tập trung đƣa ra các giải pháp kinh tế, không đề cập các giải
pháp kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu. Thời
gian nghiên cứu trong khoảng từ năm 2000 đến năm 2009.
7
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hàng nông sản xuất khẩu
nhiều hàng hoá khác. Những đặc điểm này chi phối việc thực hiện những giải
pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản.
Thứ nhất về cung nông sản có những đặc điểm nổi bật sau:
- Sản xuất nông sản đƣợc trải rộng trên một không gian rộng lớn. Đặc điểm
này của cung nông sản do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp quyết định. Mặt
khác, cung nông sản có tính chất thời vụ và mang tính chất vùng rõ rệt. Trong
nông nghiệp đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, đối tƣợng của sản
xuất nông nghiệp là cơ thể sống; quá trình tái sản xuất kinh tế liên quan chặt chẽ
với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp
với thời gian sản xuất làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao trong
việc sử dụng lao động, vốn và các nguồn lực khác…Cung nông sản diễn ra trong
những thời kỳ nhất định nhƣng nhu cầu về nông sản lại tƣơng đối đồng đều. Vì
thế đòi hỏi phải có những giải pháp về bảo quản, chế biến nông sản để giải quyết
mâu thuẫn giữa cung nông sản có tính thời vụ và cầu nông sản tƣơng đối đồng
đều.
- Do đặc điểm về mặt sinh học, mỗi loại cây con thƣờng chỉ phát triển tốt
khi phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, sông ngòi v.v…và chịu sự tác động
của quy luật sinh học. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và khí hậu giữa các
vùng đã làm cho sản xuất hàng nông sản trở nên phong phú và đa dạng cả về số
lƣợng và chủng loại, đáp ứng đƣợc nhu cầu đa dạng của con ngƣời. Trong cùng
một vùng, khí hậu giữa các mùa cũng ảnh hƣởng và chi phối tới các loại cây
trồng. Cho nên mỗi vùng, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia chỉ có thể lựa chọn
9
giống cây trồng phù hợp để sản xuất và xuất khẩu những hàng nông sản mà họ
có ƣu thế về tự nhiên hay lợi thế so sánh thực sự.
Xét trong ngắn hạn, tổng sản lƣợng nông sản đƣợc sản xuất ra và có nhu cầu
cung cấp vào một thị trƣờng không phụ thuộc vào giá cả hàng hóa. Đặc điểm này
của hàng nông sản chủ yếu là xuất phát từ (i) tổng sản lƣợng hàng nông sản xuất
khẩu khó có thể điều chỉnh trong ngắn hạn do bị giới hạn bởi diện tích canh tác,
chú trọng đặc biệt ở các nƣớc phát triển ngƣời tiêu dùng rất quan tâm đến vấn đề
này. Vì thế, tiêu chuẩn về chất lƣợng, nhất là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực
phẩm trở thành bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh của hàng nông sản. Trong
quan hệ thƣơng mại nông sản quốc tế, các quốc gia đều sử dụng tiêu chuẩn này
nhƣ là những rào cản thƣơng mại để kiểm soát việc nhập khẩu nông sản. Ngoài
ra, cùng với quá trình phát triển, nhiều quốc gia còn đƣa ra nhiều tiêu chuẩn ràng
buộc khác của hàng nông sản nhƣ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội (SA8000), tiêu
chuẩn về môi trƣờng (SA14000) v.v…Từ đó, đòi hỏi việc nâng cao chất lƣợng,
sản xuất sạch từ khâu nông nghiệp đến bảo quản, chế biến lƣu thông nông sản.
- Cầu về nông sản tƣơng đối đồng đều theo thời gian và do độ trễ của cung
nông sản nên việc điều chỉnh cung nông sản phù hợp với cầu nông sản đòi hỏi
phải có thời gian tƣơng thích có thể vài tháng nhƣng cũng có loại phải sau hàng
năm hoặc nhiều hơn mới cho sản phẩm.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu
1.1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh hàng hoá
Khái niệm cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt,
quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trƣờng hàng hóa
cụ thể nào đó nhằm để giành khách hàng, thông qua đó mà tiêu thụ đƣợc nhiều
hàng hóa và thu đƣợc lợi nhuận cao, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất
phát triển. Cạnh tranh có thể đem lại lợi ích cho cá nhân, doanh nghiệp này
nhƣng gây thiệt hại cho cá nhân, doanh nghiệp khác. Song xét dƣới giác độ lợi
11
ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực, là phƣơng thức phân bổ các
nguồn lực một cách tối ƣu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trƣờng, để có thể tồn tại và phát triển
đƣợc, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải luôn luôn nâng cao sức
cạnh tranh của mình để giành đƣợc ƣu thế tƣơng đối so với đối thủ. Doanh
nghiệp nào không sẵn sàng cho sự cạnh tranh hoặc tự thỏa mãn với bản thân thì
sẽ loại mình ra khỏi cuộc chơi.
thay đổi của thị trƣờng, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy
trì đƣợc mức tăng trƣởng kinh tế cao và bền vững.
Sức cạnh tranh của hàng hóa xét dƣới giác độ một ngành hay một doanh
nghiệp: theo quan điểm của M. Porter, một quốc gia có sức cạnh tranh cao về
một mặt hàng nào đó khi các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó
có sức mạnh cạnh tranh và sức mạnh đó là năng suất lao động cao hơn.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng một hàng hóa đƣợc coi là có sức cạnh tranh khi
nó đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng về chất lƣợng, giá cả, tính năng, kiểu
dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thƣơng hiệu, bao bì v.v…hơn hẳn so với các
hàng hóa cùng loại. Hay nói cách khác, sức cạnh tranh của hàng hóa đƣợc hiểu là
tất cả những đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà hàng hóa đó có thể duy trì và phát
triển vị trí của mình trên thị trƣờng trong một thời gian dài. Sức cạnh tranh của
hàng hóa còn đƣợc thể hiện ở vị trí của mặt hàng đó trên thị trƣờng, hay nói cách
khác đó là sức mua đối với hàng hóa đó trên thị trƣờng, là mức độ chấp nhận của
ngƣời tiêu dùng. Tuy nhiên, sẽ không có sức cạnh tranh của hàng hóa cao khi
sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành sản xuất, của quốc gia kinh doanh
hàng hóa đó thấp.
1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu
a. Sản lượng và doanh thu hàng nông sản xuất khẩu
Mức doanh thu của hàng nông sản xuất khẩu là tiêu chí quan trọng, mang
tính tuyệt đối dễ xác định nhất để đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất
13
khẩu. Hàng hóa có sức cạnh tranh cao sẽ dễ dàng bán đƣợc trên thị trƣờng,
doanh thu sẽ tăng lên. Ngƣợc lại, hàng hóa có sức cạnh tranh yếu sẽ có doanh
thu nhỏ. Nếu cơ hội đƣợc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng nhƣ nhau thì doanh thu là
tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu khác nhau của
khách hàng đối với sản phẩm. Thông thƣờng, khi doanh thu xuất khẩu của một
mặt hàng nông sản nào đó đạt ở mức cao và có mức tăng trƣởng đều đặn qua các
năm trên thị trƣờng thì chứng tỏ sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng,
Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A của một nƣớc
Kthị phần = ────────────────────────────
Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A của thế giới
Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh sức cạnh tranh của mặt hàng và vị trí của
quốc gia trên thị trƣờng thế giới. Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị
trƣờng thì mặt hàng đó càng có sức cạnh tranh cao, tiềm năng cạnh tranh lớn.
Ngƣợc lại, một mặt hàng có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trƣờng thì mặt
hàng đó có sức cạnh tranh yếu, khả năng ảnh hƣởng của mặt hàng đối với thị
trƣờng là rất kém.
c. Chi phí sản xuất và giá hàng nông sản xuất khẩu
- Chi phí sản xuất hàng nông sản xuất khẩu
Cạnh tranh về chi phí sản xuất hàng nông sản là xuất phát điểm và là điều
kiện cần để một sản phẩm có thể duy trì đƣợc ở trên thị trƣờng quốc tế. Thƣớc
đo của nó là chi phí và giá cả trên một đơn vị của sản phẩm có tính đến chất
lƣợng của sản phẩm. Nguồn gốc của khả năng cạnh tranh về chi phí của sản
phẩm là lợi thế so sánh của đất nƣớc trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm đó. Khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm sẽ phụ thuộc vào hiệu
quả của tất cả các khâu, bao gồm sản xuất, thu mua, vận chuyển, chế biến, kho
bãi, cầu cảng, vận chuyển quốc tế để tạo ra và đƣa sản phẩm đó đến thị trƣờng
quốc tế. Sự bất cập, không hiệu quả trong bất cứ khâu nào cũng sẽ làm gia tăng
chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khả năng cạnh tranh về chi
phí chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ đối với việc duy trì và mở
rộng thị phần bởi vì sức cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng
tiếp cận thông tin, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất
khẩu, năng lực marketing quốc tế, khả năng đối phó với rủi ro v.v… Nhƣ vậy,
chi phí thấp mới chỉ là khởi đầu của tính cạnh tranh, kinh doanh, vấn đề đặt ra là
cần phải biết chuyển từ lợi thế so sánh về chi phí thấp đến sức cạnh tranh trong
hoạt động xuất khẩu hàng nông sản.
15
chứng chỉ ISO. Chất lƣợng vƣợt trội đƣợc hiểu là sản phẩm phải luôn đƣợc đổi
mới, cải tiến để tạo ra sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ
cạnh tranh trên thị trƣờng, là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm.
Ngày nay, trên thị trƣờng các nƣớc phát triển, xu hƣớng cạnh tranh không
chỉ bằng chất lƣợng mà còn gắn với các yếu tố về môi trƣờng và an toàn sản
phẩm, đặc biệt đối với hàng nông sản. Để có thể cạnh tranh đƣợc trên các thị
trƣờng lớn nhƣ EU, Mỹ và Nhật Bản, các mặt hàng nông sản vừa phải đáp ứng
các yêu cầu về chất lƣợng, vừa phải thỏa mãn các yêu cầu liên quan đến đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm nhƣ dƣ lƣợng kháng sinh và chất bảo vệ thực vật
trong sản phẩm, các quy định về bảo vệ môi trƣờng, các điều kiện tiêu chuẩn đối
với cơ sở chế biến xuất khẩu v.v…
e. Thương hiệu và uy tín hàng nông sản xuất khẩu
Thƣơng hiệu và uy tín của hàng nông sản chính là sự tổng hợp các thuộc
tính của sản phẩm nhƣ chất lƣợng, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm.
Thƣơng hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của
doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất
có giá trị của doanh nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin của ngƣời tiêu dùng
đối với sản phẩm.
Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trƣờng quốc tế đều có
gắn với thƣơng hiệu. Thƣơng hiệu của hàng hóa đã trở thành tài sản vô cùng quý
giá và là vũ khí quan trọng trong cạnh tranh. Thƣơng hiệu của một mặt hàng
nông sản nào đó càng nổi tiếng, mạnh thì sức cạnh tranh của hàng đó càng lớn.
Điều đó có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có đƣợc uy tín và hình ảnh tốt
đối với ngƣời tiêu dùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với
sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Đó chính là giá trị vô hình của thƣơng hiệu
hàng nông sản đã tạo ra sự khác biệt của sản phẩm đối với khách hàng.
Nhƣ vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt,
muốn đứng vững đƣợc trên thị trƣờng buộc các doanh nghiệp phải tạo dựng cho
17
Hàng hoá nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay có những bất lợi sau:
Thứ nhất, tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu là những sản phẩm thô hoặc mới sơ
chế còn chiếm khá cao - gần 65%. Bởi vậy, các nhà sản xuất và xuất khẩu nông
sản của Việt Nam ít có khả năng kiểm soát đối với toàn bộ chuỗi giá trị của sản
phẩm, hay chỉ thu đƣợc về phần nhỏ và rẻ nhất trong toàn bộ giá trị gia tăng. Các
phân khúc xây dựng thƣơng hiệu, tiêu thụ, nghiên cứu và phát triển là những mắt
xích mang lại giá trị gia tăng lớn nhất đều nằm trong tay các nƣớc phát triển.
Thứ hai, xuất khẩu nông sản của Việt nam mới chỉ chủ yếu dựa vào khai
thác những lợi thế cạnh tranh có sẵn, đó là lao động, đất đai, tài nguyên thiên
nhiên mà chƣa chủ động tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới để đảm nhiệm những
khâu, công đoạn mang lại giá trị gia tăng cao.
Thứ ba, xuất khẩu nông sản của Việt Nam mới chủ yếu dựa trên giá cả, mà
chƣa có sự đầu tƣ thoả đáng vào nguồn nhân lực, kỹ năng, trình độ công
nghệ…Thách thức lớn hiện nay là những tiêu chuẩn ngày càng ngặt nghèo mà
khách hàng ở các nƣớc phát triển đặt ra. Trong khi đó, điểm yếu của nhiều nhà
sản xuất và xuất khẩu Việt Nam là họ hiểu biết rất ít về thị trƣờng tiêu thụ sản
phẩm của mình, không có đƣợc thông tin về yêu cầu của ngƣời tiêu dùng cuối
cùng. Bởi vậy, điều quyết định thành công của các nhà sản xuất và xuất khẩu
hàng hoá nông sản của Việt Nam là phải nỗ lực tiến hành nâng cấp các khâu để
từng bƣớc chuyển từ nhà sản xuất chế biến nhỏ lẻ, không tên tuổi thành nhà sản
xuất và xuất khẩu có thế mạnh và thƣơng hiệu riêng.
1.1.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu
1.2.3.1 Các nhân tố tự nhiên
Do hàng nông sản là những sản phẩm hữu cơ nên chủng loại và chất lƣợng
hàng hóa phụ thuộc rất lớn vào tính chất sinh học, điều kiện đất đai, thổ nhƣỡng
và thời tiết khí hậu. Nhƣ chúng ta đã biết, năng suất cây trồng có tăng đƣợc hay
không phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu: chất lƣợng của đất và giống.
19
xuất, kinh doanh, chọn thị trƣờng thích hợp. Dự báo là một công việc hết sức
phức tạp, tính chính xác vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với các ngành hàng nông
sản khi chịu ảnh hƣởng không chỉ của các yếu tố cung cầu kinh tế thông thƣờng
mà cả những yếu tố thời tiết đầy biến động. Chúng ta không thể đòi hỏi một kết
quả hoàn hảo trong công tác dự báo thị trƣờng nông sản bởi thực tế luôn biến
động, các tổ chức quốc tế với nguồi lực tài chính và nhân lực giỏi cũng vẫn dự
báo sai, việc nên làm ở đây là cung cấp cho ngƣời đọc các nhận định về những
xu hƣớng tƣơng lai dựa trên các giả định hợp lí, chúng ta nên xem các kết quả dự
báo nhƣ là những thông tin tham khảo hơn là các kim chỉ nam. Ngoài ra dự báo
phải liên tục đƣợc cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với những diễn biến nhanh
của thực tế.
b. Năng lực nghiên cứu phát triển
Thực tế cho thấy hiện nay năng lực khoa học công nghệ phát triển chậm, chƣa
thực sự gắn bó với sản xuất; chậm tạo ra đột phá về năng suất, chất lƣợng, hiệu
quả phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Mạng lƣới khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến công ở cơ sở còn yếu và thiếu cán bộ kỹ thuật để làm tốt
công tác chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Hiện nay, sản xuất nông sản vẫn theo quy mô hộ là chủ yếu, canh tác dựa vào
điều kiện khai thác lợi thế điều kiện địa lý, tự nhiên và những mặt hàng nông sản
này của Việt Nam thƣờng chƣa có giá cao, chất lƣợng không đồng đều và chƣa
đáp ứng đủ khối lƣợng theo thời hạn hợp đồng. Các nghiên cứu hiện nay không
hƣớng theo các nhu cầu cơ bản của thị trƣờng. Khách hàng hoặc ngƣời sử dụng
cuối cùng của các nghiên cứu hiện nay chủ yếu là Nhà nƣớc hoặc các Bộ. Tuy
nhiên, có khi các đơn đặt hàng này lại không xuất phát từ nhu cầu thực tế của
ngành. Do đó, các kết quả nghiên cứu không đƣợc ứng dụng rộng rãi. Bản thân
các nhà nghiên cứu cũng không chủ động do không nắm bắt đƣợc những vấn đề
nóng trên thị trƣờng.