Năng lực cạnh tranh một số mặt hàng nông sản
xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Lê Thị Bình
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Công Ty
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Nghiên cứu một cách có hệ thống năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải
nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hoá nông sản xuất khẩu của Việt nam trong bối
cảnh hội nhập KTQT. Chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân làm giảm
năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt nam so với các mặt
hàng của các đối thủ cạnh tranh. Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của nông sản xuất khẩu Việt nam trên thị trường quốc tế.
Keywords: Hội nhập kinh tế quốc tế; Nông sản; Năng lực cạnh tranh
Content
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, có nhiều lợi thế tiềm năng về đất đai, lao động
và các điều kiện sinh thái có thể sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu có giá trị và hiệu quả
kinh tế cao, quy mô lớn, hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh như : lúa, gạo
vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng. Cà phê vùng Tây Nguyên, Cao su
vùng Đông Nam Bộ, Chè vùng miền núi và Trung Du Phía Bắc, cây có dầu vùng duyên hải
miền trung và một số vùng có cây ăn quả đặc sản có khối lượng kim ngạch xuất khẩu lớn,
nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu như gạo, càphê, cao su, hồ tiêu đã khẳng định được vị trí
phê, gạo, cao su, chè, điều” (2001), của Bộ NN&PTNT, do TS. Nguyễn Đình Long làm chủ
nhiệm đề tài, đã đưa ra những khái niệm cơ bản về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, phân
tích những đặc điểm và đưa ra những chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông
sản xuất khẩu chủ yếu (gạo, cà phê, cao su, chè và điều), bao gồm các chỉ tiêu về định tính
như chất lượng và độ an toàn trong sử dụng, quy mô và khối lượng, kiểu dáng và mẫu mã sản
phẩm, phù hợp của thị hiếu và tập quán tiêu dùng, giá thành v.v…và các chỉ tiêu định lượng
như: mức lợi thế so sánh (RCA), chi phí nguồn lực nội địa (DRC). Số liệu nghiên cứu mới
dừng lại ở năm 2000.
Đề tài cấp Bộ, mã số 98-98-036 về “Những giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả lợi thế
cạnh tranh của Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới” (2000)
của Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả. Đề tài này nghiên cứu diễn biến khả năng
3
cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo, ngành xi măng và ngành mía đường cho đến năm 1999.
Các giải pháp đưa ra chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.
Đề án “Chiến lược phát triển nông nghiệp-nông thôn trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa thời kỳ 2001-2010” (2000) của Bộ NN &PTNT. Đề án này đã phân chia khả năng cạnh
tranh một số mặt hàng nông sản của Việt Nam thành 3 nhóm: nhóm có khả năng cạnh tranh
cao (gạo, cà phê, hạt điều), cạnh tranh trung bình (chè, cao su, lạc); cạnh tranh yếu (đường,
sữa, bông). Các giải pháp chủ yếu tập trung để phát triển sản xuất nông nghiệp và đẩy mạnh
xuất khẩu chung cho tất cả các loại hàng nông sản.
Sách tham khảo về “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế” (2003) của Chu Văn Cấp (chủ biên), đã nghiên cứu khả năng cạnh
tranh của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, chè, cà phê, thủy sản cho đến năm 1999 dựa
trên các tiêu chí về chi phí sản xuất, giá xuất khẩu, chất lượng và uy tín sản phẩm, thị trường
tiêu thụ v.v
Báo cáo khoa học về “Khả năng cạnh tranh nông sản Việt Nam trong hội nhập
AFTA”(2005)”, của Quỹ Nghiên cứu ICARD-MISPA, TOR số MISPA A/2003/06. Báo cáo
đã nghiên cứu thực trạng, tiềm năng và lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản Việt
Nam bao gồm gạo, chè, tiêu, thịt lợn, gà và dứa trên thị trường nội địa trong bối cảnh hội nhập
cảnh hội nhập KTQT. Đây là bốn mặt hàng nằm trong nhóm 10 mặt hàng nông sản có kim
ngạch xuất khẩu cao nhất và đang được đánh giá là có sức cạnh tranh ở các mức độ khác nhau
(cạnh tranh cao: gạo và cà phê; cạnh tranh trung bình: chè và cao su).
Luận văn chỉ tập trung đưa ra các giải pháp kinh tế, không đề cập các giải pháp kỹ
thuật để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu. Thời gian nghiên cứu trong
khoảng từ năm 2000 đến năm 2009.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là
phương pháp hệ thống hoá, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, thu thập thông tin
truyền thống, phương pháp phân tích ngành sản phẩm để tập hợp và phân tích các vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến sức cạnh tranh của sản phẩm nói chung, hàng nông sản xuất
khẩu chủ yếu nói riêng. Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến để làm sáng tỏ hơn các
kết luận trong từng hoàn cảnh cụ thể.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam so với các
đối thủ cạnh tranh được thể hiện trên các tiêu trí: sản lượng và doanh thu hàng nông sản xuất
khẩu; thị phần hàng nông sản xuất khẩu; chi phí sản xuất và giá hàng nông sản xuất khẩu; chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; thương hiệu và uy tín của hàng nông sản xuất khẩu. Để
đánh giá năng lực cạnh tranh của 4 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu là: Gạo, Càphê,
Chè, Cao su so với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó đề xuất những giải pháp cả ở tầm vĩ mô và
vi mô nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam nói chung và 4
mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
7. Bố cục của luận văn.
5
Ngoài lời nói đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của
Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh một số mặt hàng nông
13. Bộ NN&PTNT (2005), Khả năng cạnh tranh nông sản Việt Nam trong hội nhập AFTA,
Quỹ nghiên cứu IAE-MISPA.
14. Bộ Thương mại (2006), Chính sách và giảipháp nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Mã số: 2004-78-029 do GS.TSKH.
Lương Xuân Quỳ làm chủ nhiệm đề tài.
15. Bộ Thương Mại (2006), Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010, tháng 2, Hà
Nội.
16. Bộ Thương mại (2005), Một số giải pháp phát triển xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt
Nam đến năm 2010, đề tài khoa học cấp Bộ, mã số: 2004-78-001.
17. Bộ Thương mại và Trường Đại học Ngoại thương (2003), Thương mại Việt Nam trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, Hà Nội.
18. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
19. Trần Thị Quỳnh Chi, Trần Công Thắng, Trần Thị Thanh Nhàn (2005), Báo cáo tóm tắt kết
quả nghiên cứu tiêu thụ cà phê nội địa tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, Hà Nội.
20.Bạch Thụ Cường (2002), Bàn về cạnh tranh toàn cầu, Nhà xuất bản thông tấn, Hà Nội, tr
65- 80.
21. CEG/AuAID và Bộ NN&PTNT (2005), WTO & ngành nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
22. Tô Xuân Dân (1998), Chính sách kinh tế đối ngoại: Lý thuyết và Kinh nghiệm quốc tế,
Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
23. Đỗ Đức Định (2003), Kinh tế đối ngoại: Xu hướng điều chỉnh chính sách ở một số nước
châu á trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa, Nhà xuất bản Thế giới.
24. Đinh Thiện Đức (2003), Cung cầu hàng hóa gạo và những giải pháp chủ yếu phát triển
thị trường lúa gạo Việt Nam, luận án tiến sĩ tại Đại học Kinh tế Quốc Dân.
25. Phạm Công Đoàn (2003), “Định hướng và những giải pháp cho xuất khẩu nông sản của
các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm tới”, tạp chí Thương mại, số 48/2003.
26. FRANK ELLIS (1995), Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.
27. Trần Hậu, Nhân Hội nghị Cao su Đông Nam á, Bàn về tình hình phát triển ngành cao su
Việt Nam: Khai thác hữu hiệu hơn nữa giá trị kinh tế cây cao su, giấy phép xuất bản số
40. Đoàn Triệu Nhạn (2005), Ngành cà phê Việt Nam với chương trình phát triển nông
nghiệp và nông thôn, Hà Nội.
41. Ngân hàng phát triển châu á (2004), Chuỗi giá trị ngành chè Việt Nam: Triển vọng tham
gia của người nghèo, Báo cáo tham luận số 01.
42. Ngân hàng phát triển châu á (2004), Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo, Dự
án M4P.
43. Hoàng Thị Ngân, Phạm Thị Tước, Phạm Quang Diệu (2005), Triển vọng thương mại nông
sản Việt Nam trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN-úc-Niudilân, báo cáo khoa học (WTO,
WT/TPR/G/156).
8
44. Ngân hàng thế giới (2004), Sổ tay về Phát triển, Thương mại và WTO, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia.
45. Ngân hàng thế giới (2003), Việt Nam thực hiện cam kết, Báo cáo 2003.
46. Hoàng Thị Thanh Nhàn (2003), Điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc, Malaysia và Thái
Lan, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
47. Đỗ Ngọc Quý, Nguyễn Kim Phong (1997), Cây chè Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội.
48. Supachai Panitchapakdi, Mark L.Clifford (2002), Trung Quốc và WTO: Trung Quốc đang
thay đổi thương mại thế giới đang thay đổi, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội.
49. Lê Văn Thanh (2001), “Về xuất khẩu nông sản của Việt Nam 10 năm qua”, Tạp chí Hoạt
động khoa học (12).
50. Đinh Văn Thành (2005), Rào cản trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Thống Kê.
51.Đinh văn Thành (2006), Các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản trong thương
mại quốc tế, nhà xuất bản Lao động-Xã hội.
52. Đinh Văn Thành (2006), “Tìm hướng đi cho xuất khẩu cao su tự nhiên Việt Nam”, Tạp
chí Thương mại (12/2006), tr. 7-8.
53. Nguyễn Tiến Thỏa (1992), Chiến lược giá bảo hộ nông phẩm, Viện Nghiên cứu Khoa học
thị trường-giá cả.
54. Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Kế Tuấn (2005), Kinh tế Việt Nam năm 2004: Những vấn
tranh quốc gia, dự án VIE 01/025, Nhà xuất bản Giao thông vận tải.
Tiếng Anh
68. Adam McCarty & Tran Thi Ngoc Diep (2003), Between Integration and Exclusion-
Impact of Globalization on Developing Countries: the Case of Vietnam, Hanoi, January.
69. Centre for International Economics (2000), Non-tariff barriers in Vietnam: A framework
for developing a phase out strategy.
70. CIEM and STAR-Vietnam (2003), An Assessment of the Economic Impact of the United
States-Vietnam Bilateral Trade Agreement, Annual Economic Report for 2002.
71. MARD and UN (2000), The competitiveness of the Agricultural Sector of Vietnam: A
Preliminary Analysis in the Context of ASEAN and AFTA, TCP/VIE/8821 October.
72. FAO (2003), Agricultural Commodity Projection to 2010, CCP 03/8.
73. ISGMARD (2002), Impact of trade liberalization on some agricultural sub-sectors of
Vietnam: Rice, coffee, tea and sugar, Report Summary, Thematic Adhoc Group 1, February.
74. ISGMARD (2002), Evaluation of potential impacts on Vietnams agriculture during
implementating Common effective preferential tariff program (CEPT) under Agreement on
Asean Free Trade Area (AFTA).
75. UNCTAD Commercial Diplomacy Programme (2001), Selected Training Modules of the
International Economic Agenda, Geneva.
76. UNCTAD/UNDP (July 2003), The Training of Trainers Course on “Selected Issues of the
International Economic Agenda and Accession to the WTO”, Hanoi, Vietnam.
Các website:
10
www.agroviet.gov.vn
www.vicofa.org.vn
http://www.gentraco.com.vn
http://vneconomy.vn