Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cà phê là một mặt hàng nông sản nổi tiếng trên toàn thế giới với những câu
chuyện như những huyền thoại về xuất xứ của cà phê.Không chỉ có vậy, với
hương vị đặc trưng độc đáo và nét quyến rũ lạ thường , cà phê đã trinh phục
đại bộ phận dân cư trên toàn thế giới khiến nhu cầu cà phê cần được giá trị
xuất khẩu cao.Nó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân, tăng cung cấp
hay xuất khẩu ngày một tăng cao cả về số lượng và chất lượng.Với những
điều kiên vị trí địa lý đất đai thổ nhưỡng,nguồn nhân lực dồi dào Việt nam
hội tụ đầy đủ những điều kiện để trở thành nước xuất khẩu cà phê có chất
lượng cho khu vực và cả trên thế giới.Xuất khẩu cà phê của Việt Nam hiện đã
vượt qua con số 1 tỷ USD và chiếm vị trí thứ 2 thế giới, đứng sau Brazil.
Riêng cà phê Robusta xuất khẩu, Việt Nam còn đứng trên cả Brazil và trở
thành lớn nhất thế giới. Khu vực các tỉnh Tây Nguyên là “thủ phủ” cà phê
Việt Nam.
Xuất khẩu cà phê đã có những đóng góp lớn vào việc tăng GDP cho
nền kinh tế Việt Nam.Bạn bè thế giới đã biết đến những cao nguyên trồng cà
phê của Việt Nam _nguồn cung cấp khối lượng lớn cà phê ra thế giới.Xuất
khẩu cà phê cũng giúp khẳng định sự phát triển của kinh tế Việt Nam trên
trường quốc tế.Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những thuận lợi và
không ít những khó khăn trong xuất khẩu cà phê.Tình hình sản xuất và xuất
khẩu cà phê của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng có những biến
động lớn.Thực tế những năm qua đã cho chúng ta thấy xuất khẩu cà phê của
ta luôn chịu tác động của tình hình cà phê thế giới nên thiếu sự bền
vững.Chúng ta phải làm gì để nâng cao chất lượng cà phê đạt những tiêu
chuẩn khắt khe của thế giới ,tạo ra những bước tiến mới vững chắc cho xuất
khẩu cà phê của Việt Nam .Nội dung của đề tài giúp phân tích tình hình xuất
khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh, điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế.Những thuận lợi cũng như thách thức khi nước ta gia nhập các tổ chức quốc
tế.Từ đó, tìm ra những biện pháp khắc phục, cải tiến .Đề ra những giải pháp
phẩm hoặc dịch vụ ra các thị trường nước ngoài, thị trường khác với thị
trường trong nước.
1.1.2.Vai trò nhiệm vụ của xuất khẩu.
1.1.2.1. Vai trò của xuất khẩu.
XK có vai trò tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hóa đất nước, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển, kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất,
nâng cao mức sống của nhân dân vì sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút
hàng triệu lao động vào làm việc có thu nhập tương đối. Ngoài ra XK còn là
cơ sở để mở rộng và thúc đẩy tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước.
Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế hội nhập ngày càng được khẳng định
đối với Việt Nam
1.1.2.2 .Nhiệm vụ của xuất khẩu.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của xuất khẩu đó là XK để thu về ngoại
tệ phục vụ cho công tác nhập khẩu. Ngoài ra XK còn góp phần tăng tích lũy
vốn, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền kinh tế từ những ngoại tệ thu
được từ đó đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện do có công ăn
việc làm, tăng nguồn thu nhập.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thông qua XK giúp cho các doanh nghiệp nói riêng và cả nước nói
chung mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, khai thác
có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tương đối của đất nước từ đó kích thích các
ngành kinh tế phát triển.
1.1.3. Ý nghĩa của xuất khẩu.
XK là hoạt động quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp, là chìa khóa
mở ra các giao dịch quốc tế cho một quốc gia bằng cách sử dụng có hiệu quả
nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước, thu về nhiều ngoại tệ
phục vụ cho nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú
những thị trường riêng thì sẽ có những tiêu chuẩn phù hợp để áp dụng.
1.2. Cây cà phê ở Việt nam và vai trò xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế
quốc dân.
1.2.1.Cây cà phê ở Việt nam.
1.2.1.1. Giới thiệu chung về cây cà phê.
Cà phê đã trở thành một đồ uống phổ biến nhất trên toàn thế giới.Hàng
triệu người uống cà phê ở châu phi, nam và bắc Mỹ,Châu âu,Trung đông….và
cả ở việt nam.Hiện nay uống cà phê không chỉ đơn giản là thưởng thức một
loại đồ uống mà nó còn thể hiện văn hoá cà phê văn hoá uống của một quốc
gia nói riêng và của toàn thế giới nói chung.
Nói về xuất xứ của cây cà phê chúng ta lại nhớ đến câu chuyện về sự
xuất hiện đầu tiên của những hạt cà phê ở vung đất của người Ethiopia xa
xôi.Câu chuyện kể rằng một ngày cũng như mọi ngày ,người chăn dê thả
chúng ra một bãi cỏ để chúng có thể tha hồ nhởn nha thưởng thức món ăn ưa
thích của mình.Nhưng thậtlạ là những chú dê lại mê mẩn với những chum
quả chin mọng ,nom rất đặc biệt.Người chăn dê chỉ để ý đến chúng khi thật
bất ngờ, đêm hôm đó đàn dê rất khoẻ mạnh,linh hoạt khác thường…và thiện
ra và thức rất khuya ma không có vẻ gì mệt mỏi vào sang hôm sau.Người
chăn dê lấy làm lạ và cảm thấy rất thú vị,anh ta cung thử ăn những trái mọng
đó và kết quả thật đáng ngạc nhiên, anh ta cảm thấy sảng khoái,tỉnh táo hơn
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mọi ngày.Và từ ngày đó cây cà phê đã được phát hiện và được người dân
vùng này trồng và chế biến thành những thức uống phổ biến như ngày nay.
Cà phê được truyền bá từ Châu phi đến Arập, đây cũng chính là nơi đầu
tiên chế biến và sử dụng cà phê như một loại thuốc, loại thức ăn trước khi trở
thành thức uống được ưa chuộng như ngày nay.Người Arập giữ cà phê như
một bí quyết trong nhiều năm…Sau đó thì cây cà phê đã được phổ biến ở Thổ
nhĩ kỳ, Ý, Pháp ….rất nhiều đồn điền cà phê rộng lớn đầu tiên ở miền nam
Cà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90%
diện tích, cà phê chè (Arabica) 10% và cà phê mít (Excelsa) 1%. Do cà phê
vối có hàm lượng caffeine cao (2-4%) nên hương vị không tinh khiết bằng cà
phê chè (caffein 1-2%) nên giá chỉ bằng một nửa. Cây cà phê chè ưa sống ở
vùng núi cao và thưòng được trồng độ cao từ 1000-1500 m, nhiệt độ từ 16-
25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm. Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới,
độ cao thích hợp dưới 1000 m, nhiệt độ khoảng 24-29°C, lượng mưa khoảng
trên 1000 mm và cần nhiều cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê
chè.
Một trong nhưng lý do diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều do chúng
có sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh. Còn cà phê chè lại rất mẫn cảm
với các bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm Hemileia vastatrix), bệnh khô cành, khô
quả (do nấm Colletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonas syringea,
P. garcae), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)…
Phương pháp cổ điển nhất để chọn giống cà phê bao gồm các bước
tuyển chọn quần thể hoang dại tiếp theo lai, đánh giá sản lượng, lai ngược và
lai giữa các loài. Nhược điểm của phương pháp này là thời gian lâu, thường
khoảng 30 năm mới chọn ra được giống mới. Ngày nay, công nghệ sinh học
đã được ứng dụng rộng rãi trong cải tạo và chọn giống cà phê như nuôi cấy
mô, chuyển nạp gen và đánh giá chất lượng cây giống bằng một số phương
pháp sinh học phân tử cho kết quả nhanh chóng như RFLP, RAPD, SSR,
STS...
Theo chiến lược của ngành cà phê Việt Nam sẽ giảm diện tích cà phê
vối và tăng diện tích cà phê chè tuy nhiên vấn đề giống là vấn đề quan trọng
nhất. Trước đây giống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon,
Caturra amarello hoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như
Mundo Novo, Catuai. Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc
giống Catimor nhưng giống này có nhược điểm hương vị thiên về cà phê vối
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lao động. Mặt khác, XKcà phê tăng kéo theo sự phát triển của ngành công
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, từ đó nhu cầu lao động bổ
sung tăng lên. Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý
yên tâm phấn khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghiệp) sẽ
làm việc ngay tại quê hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra
các khu công nghiệp, thành thị để tìm kiếm việc làm.
Ba là, XKcà phê góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
trong nông nghiệp. Nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ
tầng, người lao động, kinh nghiệm sản xuất…
Bốn là, XK cà phê góp phần thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông
nghiệp nông thôn. CNH-HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại vào các khâu
sản xuất nông nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng
dụng các thành tựu khoa học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin
nhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của cà phê trên thị trường. Vì vậy,
XKcà phê tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho cà phê , thúc đẩy kinh
tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, điều này
rất phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, XK cà phê còn
có vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin cho người sản xuất, tạo ra sự
phù hợp tốt hơn giữa người sản xuất và thị trường.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê.
Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt nam những điều kiện thuận lợi về đất đai
khí hậu phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê. Điều kiện
khí hậu của ta cho phép nhiều địa phương có thể trồng được cả hai loại cà phê
robusta và arabica.Tiêu biểu là vùng đất Tây nguyên với: Diện tích đất đỏ
bazan lớn nhất cả nước, có tầng phong hoá dày, giàu chất dinh dưỡng, phân
những yếu tố nội hàm. Đó là do trình độ hiểu biết về cà phê, cách gieo
trồng,phòng trừ sâu bệnh của nông dân còn kém.Do tập quán canh tác đã có
từ lâu đời…tác động lớn đến chất lượng và sản lượng cà phê khi thu hoạch.Có
thể nói đây là một trong những khó khăn không thể một sớm một chiều có thể
khắc phục.Nhưng điều quan trọng nhất hiện nay là nhìn ra được những nhược
điểm đó để có những biện pháp cải thiện từng ngày giúp cà phê của ta phát
huy được toàn bộ ưu thế trong xuất khẩu
Ngoài những yếu tố về tự nhiên thì yếu tố tác động từ bên ngoài,những
yếu tố ngoại sinh cũng có nhưnngx ảnh hưởng mang tính chất hai mặt tới
xuất khẩu cà phê ở Việt nam.Trong 10 năm trở lại đây nước ta đã đẩy nhanh
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,tham gia vào những sân chơi chung cua
kinh tế quốc tế ,là mắt xích trong chuỗi liên minh kinh tế toàn cầu.Việt nam
lần lượt trở thành thành viên của các tổ chức ,liên minh kinh tế của khu vực
và trên thế giới như :Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),Khu vực
thương mại tự do(AFTA)…và gần đây nhất là sự kiện Việt nam là thành viên
chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO ngày 11/1/2007. Đã hơn
một năm kể từ ngày gia nhập, đủ thời gian để ta có thể thấy được những tác
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động rõ rệt đối với nền kinh tế nói chung và ngành xuất khẩu cà phê nói
riêng.Có rất nhiều mặt tích cực nhưng cũng thể hiện những tác động tiêu cực
không thể phủ nhận,hay có thể nói đó là tất yếu .Khi đã chấp nhận ngồi trên
cùng một con thuyền kinh tế thì ta cũng không tránh khỏi những biến động
chung của thế giới , đặc biệt đối với ngành xuất khẩu cà phê còn mang nhiều
khó khăn như của ta.Trong một năm vừa qua với những biến động trong
ngành cà phê thế giới do khí hậu thay đổi ,do chất lượng ,thị hiếu trên toàn thế
giới đã có những tác động không nhỏ tới xuất khẩu cà phê việt nam .Chỉ trong
vòng vài tháng cuối năm 2007 giá cà phê xuất khẩu đã có những biến đổi bất
ngờ lúc lên lúc xuống.Có thể nói nông dân trồng cà phê cũng siêu điêu , ăn
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.1. Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam những năm đầu hội nhập
(2003-2008)
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu cà phê ViệtNam (2003-2008)
STT Năm KNXK
1 2003 500
2 2004 590
3 2005 725
4 2006 950
5 2007 1878
6 2008(*) 1800
(*) : số liệu ước tính
ĐVT : Triệu USD
Nguồn: Tự tổng hợp số liệu qua các năm
Bảng số liệu trên đã khái quát tình hình xuất khẩu cà phê của Việt nam
trong những năm đầu hội nhập kinh tế quốc tế.Có thể nói xuất khẩu cà phê
của ta đã trải qua những bước thăng trầm với những khó khăn đến đỉnh điểm
và rồi ngoạn mục tăng vọt với những con số đến bất ngờ.Chỉ nhìn qua những
con số có lẽ chúng ta cũng chưa hiểu rõ được tình hình xuất khẩu cà phê của
Việt nam những năm đầu hội nhập.Nhưng khi kết hợp với sự phân tích của
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
báo giới của các chuyên gia kinh tế…tình hình sẽ được nhận định một cách rõ
rang hơn.
Trước hết ta nhìn về năm 2003,có thể nói là năm tiêu biểu chứng kiến
những bước đầu trở lại sau nhiều năm thua nỗ nặng . Năm 2003,với lượng XK
cà phê đạt 749.200 tấn với kim ngạch trên 500 triệu USD, nhưng sự phục hồi
của ngành cà phê chưa thật sự vững chắc, hiệu quả kinh doanh vẫn thấp và
tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Đó là: Chất lượng cà phê VN vẫn bị đánh giá thấp trên
ổn định. Người trồng cà phê luôn sống trong tâm trạng nơm nớp về nỗi lo
được mùa, mất mùa. Vì hạn hán dẫn đến sản lượng thấp, nhưng chưa chắc
nông dân đã thua thiệt, bởi giá tự khắc sẽ được nâng lên. Ngược lại, được
mùa, sản lượng tăng, nhưng nông dân chưa chắc đã thắng, bởi giá thị trường
có thể sẽ bị giảm xuống. Đó chính là sự nhạy cảm và khó đoán biết của thị
trường cà phê. Không chỉ với người nông dân mà ngay với các doanh nghiệp
xuất khẩu cà phê của nước ta, sụt giá bất ngờ vẫn là nỗi khiếp đảm luôn tồn
tại. Điều đặc biệt là giá cả cà phê của Việt Nam trên thị trường thế giới lại
phụ thuộc phần lớn vào sản lượng cà phê Brazil. Từ con số thực tế cùng
những nhận định dự báo cho tương lai ta có quyền mong đợi cho tương lai
phát triển bền vững của ngành xuất khẩu cà phê những năm tới
Theo các số liệu của Tổng cục Thống kê ở Hà Nội, năm 2005 Việt Nam
xuất khẩu 885 ngàn tấn cà phê, thu về 725 triệu đô la.Con số trên thể hiện sự
tăng lên đáng kể của xuất khẩu cà phê so với năm 2004, tăng trên135 triệu đô
la,một con số không nhỏ so với tình hình kinh tế của chúng ta hiện nay.Thực
tế năm 2005 đã khác với dự báo ban đầu của các chuyên gia kinh tế, đó là vụ
thu hoạch cà phê của năm 2005 sẽ thấp hơn nhiều so với niên vụ 2003-2004
và lượng xuất khẩu năm 2005 chỉ đạt 800 ngàn tấn.Số liệu trong bảng cho
thấy sản lượng xuất khẩu đã vượt 85 ngàn tấn so với dự kiến ban đầu
Xuất khẩu cà phê Việt Nam niên vụ 2005/06 đạt những bước tiến vượt
bậc trên nhiều mặt. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ đô làm tăng đóng góp
của ngành cà phê vào nền kinh tế chung của đất nước, giúp tăng vị thế của cà
phê trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ đạo. Thị trường xuất khẩu
tăng ổn định và từng bước mở rộng, chứng tỏ uy tín cà phê Việt Nam trên thị
trường thế giới. Chất lượng cà phê vối được cải thiện, cà phê chè (arabica) tuy
chưa nhiều nhưng đã thể hiện rõ ưu thế về chất lượng. Mặc dù sản lượng vụ
cà phê 2005/06 giảm do ảnh hưởng của hạn hán đầu vụ, nhưng nhờ cà phê
xuất khẩu tăng giá nên thu nhập từ sản xuất xuất khẩu toàn ngành cà phê Việt
Nam được cải thiện đáng kể. Chỉ tính riêng năm 2006 xuất khẩu 808.375 tấn,
đạt kim ngạch 956.903.769 USD với giá bình quân 1183,7 USD/tấn.Vụ
cà phê Việt Nam như: Ecuador: 18.492 tấn, Mỹ: 87.932 tấn. Tiếp theo là Ý,
Ba Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Bỉ và Pháp. Đó là 10 nước hàng đầu trong
vụ cà phê 2005/06 (Biểu 1) Cà phê Arabica của nước ta chưa nhiều nhưng đã
thể hiện rõ ưu thế về chất lượng. Chất lượng cà phê arabica khác nhau tuỳ
theo điều kiện địa lý, dẫn đến chênh lệch giá. Ở Sơn La, do ở cao hơn cả về
độ cao mặt biển (600m) và vĩ độ (22
0
vĩ độ bắc), cà phê Sơn La bán được giá
cao hơn cà phê Hướng hoá Quảng trị, nơi thấp hơn cả về độ cao mặt biển
(hơn 400m) và vĩ độ (khoảng 16
0
50’), giá cà phê chè hai nơi chênh lệch tới
8,8%. Cà phê Arabica ở Việt Nam chưa nhiều nhưng cũng có thể bán được
với giá cao hơn như cà phê Arabica ở Sơn La, công ty cà phê và cây ăn quả
Sơn La xuất 307,2 tấn, thu 692.448 USD, giá bán bình quân 2250 USD/tấn.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công ty cổ phần nông sản Tân Lâm xuất khẩu 526 tấn cà phê Arabica, thu
1.097.161 USD, giá bán bình quân 2050 USD/tấn.
Biểu 1 (dựa vào số liệu của 10 nước nhập khẩu cà phê Việt Nam hàng
đầu vụ 2005-2006 (Theo C/O)
Trong nội khối các nước ASEAN, Philippines nhập khẩu cà phê Việt
Nam với số lượng 16.547 tấn; Malaysia 12.367 tấn; Singapore 5.690 tấn và
Indonesia 806 tấn. Với thị trường Trung Quốc, số lượng nhập khẩu cà phê
Việt Nam vẫn duy trì ổn định ở mức 12.865 tấn. .
Với thị trường Nga và Đông Âu, Nga nhập của Việt Nam 14.175 tấn;
Romania 7567 tấn; Bulgaria 5343 tấn; Slovenya 3417 tấn; Estonia 3.199 tấn;
Cộng hoà Czech 3064 tấn; Gruzia 1875 tấn; Hungary 1787 tấn; Yugoslavia
1684,6 tấn; Slovakia 326,4 tấn; Ucraina 153 tấn; Latvia 216,5 tấn; Armenia