Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, sản xuất nông
nghiệp nước ta liên tiếp thu được những thành tựu to lớn. Thành tựu lớn nhất
là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, lạc
hậu vươn lên trở thành một nền nông nghiệp hàng hóa, đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hóa ngày càng lớn, có vị thế đáng kể
trong khu vực và thế giới. Việt Nam trở thành một trong những nước xuất
khẩu các sản phẩm nông nghiệp lớn trên thế giới.
Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hiện nay, gạo là một trong những mặt
hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam. Gạo trở thành một trong 5 mặt hàng
nông sản xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Đây là thành tựu đáng kể
của hoạt động sản xuất và kinh doanh gạo và lại càng đáng kể hơn khi cách
đây 20 năm nước ta vẫn còn phải nhập khẩu lương thực.
Tuy nhiên, sản xuất để đáp ứng “cái ăn” của hơn 80 triệu dân Việt
Nam, khác với sản xuất lúa hàng hóa tham gia thị trường thế giới với tư cách
là nước xuất khẩu. Nhiều vấn đề khúc mắc cần phải giải quyết đối với sản
xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay.
Theo số liệu mới công bố vào tháng 12/2008 của Bộ Thương Mại, mặc
dù số lượng gạo xuất khẩu của ta nhiều, đứng thứ hai trên thế giới về mặt khối
lượng nhưng lại chỉ xếp thứ tư thế giới xét về mặt giá trị xuất khẩu. Điều này
là do chất lượng gạo không đảm bảo, từ khâu chọn giống lúa, bảo quản, vận
chuyển và chế biến đều thiếu và yếu. Hơn nữa, cơ chế quản lý điều hành xuất
khẩu gạo không hợp lý cùng với công tác dự báo thị trường kém nên thường
để lỡ cơ hội xuất khẩu khi giá gạo lên cao và lại bán ra ồ ạt khi giá gạo xuống
thấp. Đối với các loại gạo đã có thương hiệu, có chỉ dẫn địa lý thì giá cả ổn
định, có thể định giá cao mà người tiêu dùng vẫn chấp nhận mua, trong khi đó
1
gạo xuất khẩu của Việt Nam mặc dù đã có mặt trên thị trường từ rất lâu xong
hoàn toàn chưa có thương hiệu nên giá gạo thường xuyên biến động, khó dự

• Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
khoảng thời gian từ 1989 đến 2008 trên các khía cạnh cơ chế điều hành
quản lý xuất khẩu gạo; khối lượng và kim ngạch xuất khẩu; giá gạo
xuất khẩu; chất lượng gạo xuất khẩu; cơ cấu thị trường xuất khẩu của
Việt Nam
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam
• Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam trong thời gian tới để phù hợp với những yêu cầu của hội nhập
kinh tế thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian : xem xét hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thời gian: Từ năm 1989 đến 2008.
4. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam và các vấn đề đặt ra
trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
3
- Ngoài phương pháp chung là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp
phân tích – tổng hợp, thống kê- so sánh.

các quốc gia trên phạm vi thế giới, đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế -
5
xã hội có tính toàn cầu, như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường sinh thái...
Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình khách quan phức tạp,
chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực.
Những khía cạnh tích cực là: Thúc đẩy rất nhanh, rất mạnh sự phát triển và
xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa tới sự tăng trưởng kinh tế nói chung ngày
càng cao; làm tăng thêm sự tùy thuộc, tác động và thúc đẩy lẫn nhau của các
nền kinh tế các nước; mỗi nước phải tự điều chỉnh chính sách và các phương
thức phát triển kinh tế, hình thành các mối quan tâm chung trong quan hệ
quốc tế; thúc đẩy quá trình cạnh tranh đối với mỗi nước và với từng doanh
nghiệp trên thương trường, đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao
động, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh; mở ra những địa bàn và thị trường
mới, những đối tác mới cho tất cả các nước.
Những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế có thể nhìn nhận theo
những góc độ sau: Quá trình toàn cầu hóa kinh tế càng được tăng cường thì
chủ quyền quốc gia của mỗi nước càng bị hạn chế và thu hẹp một cách tương
đối; thúc đẩy các nguồn vốn đầu cơ tăng nhanh, hình thành các "bong bóng xà
phòng" - nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi
rộng lớn; khoảng cách giàu nghèo trên thế giới và trong mỗi quốc gia ngày
càng mở rộng hơn; môi trường toàn cầu hóa là điều kiện thuận lợi cho các
nước phương Tây tiến hành chiến tranh kinh tế, chiến tranh tâm lý, "diễn biến
hòa bình" hòng buộc các nước đang và chậm phát triển theo sự áp đặt của họ;
môi trường sinh thái suy giảm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống
của nhân loại.
Mặc dù toàn cầu hóa kinh tế là con dao hai lưỡi, vừa có mặt tích cực vừa
có mặt tiêu cực, nhưng nếu các nước đang phát triển chủ động nắm bắt được
cơ hội, tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới,
6

kinh tế. Vì toàn cầu hóa là đòi hỏi khách quan như vậy, các nước đang phát
triển mặc dù gặp vô vàn khó khăn cũng buộc mình phải tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa, nếu không sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi và bị phân biệt đối
xử. Như vậy toàn cầu hóa hoàn toàn là tất yếu khách quan. Trong khi đó, nhận
thức được bản chất của toàn cầu hoá, các quốc gia đã chủ động tham gia vào
quá trình này. Do vậy hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan trong nhận
thức và hành động của từng quốc gia.
Nếu toàn cầu hóa có mặt thuận và mặt nghịch thì hội nhập lại luôn mang
theo mình cơ hội và thách thức. Đây chính là điều mà bất cứ quốc gia nào
muốn hội nhập kinh tế quốc tế thành công cũng phải nhận thức và hành động
đúng đắn.
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu
1.2.1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một
quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở
đây có thể dùng là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Thực tế cho thấy, đối với các quốc gia khác trên thế giới hoạt động xuất
nhập khẩu đóng vai trò không thể thiếu được do mục tiêu phát triển đất nước.
Nếu mỗi quốc gia chỉ đóng cửa phát triển, áp dụng phương thức tự cung tự
cấp thì không thể có cơ hội vươn lên củng cố thế lực của mình và nâng cao
đời sống nhân dân.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi
hàng hoá vượt ra ngoài biên giới một quốc gia. Khi việc trao đổi hàng hoá
8
giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều quan tâm đến việc mở rộng hoạt
động này.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ
rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực,
mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến hành hoá tư
liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kĩ thuật cao. Tất cả các

đã bị khai thác hoặc không có tài nguyên thì chỗ đứng trong phân công lao
động quốc tế ở đâu? thương mại quốc tế diễn ra thế nào ? Vì thế cần phải xem
xét lợi thế so sánh.
* Lý thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương đối):
Thương mại quốc tế đã ra đời từ rất lâu và đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế. Mỗi quốc gia đều có nguồn lực và khả năng sản
xuất giới han, việc trao đổi buôn bán quốc tế sẽ cho phép mở rộng khả năng
tiêu dùng của một nước.
Lý thuyết lợi thế so sánh được hình thành dựa vào việc xem xét chi phí sản
xuất so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nước. Lợi thế so
sánh được thực hiện trên nguyên tắc chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có chi
phí so sánh thấp hơn sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn
nhằm thu lợi từ mức giá tương đối rẻ hơn so với sản xuất trong nước.
Chẳng hạn :
- Nhật: Nếu tập trung toàn bộ nguồn lực để sản xuất: tivi thì có thể sản xuất
được 180 triệu tivi; nếu tập trung toàn bộ nguồn lực sản xuất lúa thì được 120
tấn lúa.
10
- Việt Nam: Nếu tập trung toàn bộ nguồn lực để sản xuất: tivi thì có thể sản
xuất được 60 triệu tivi; nếu tấp trung toàn bộ nguồn lực sản xuất lúa thì được
120 tấn lúa ( Bảng 1.1.)
Bảng 1.1. Số liệu khả năng sản xuất ti vi và lúa ở Nhật Bản và Việt
Nam

Nhật Bản Việt Nam
Tivi (triệu) Lúa( triệu tấn) Ti vi (triệu) Lúa (triệu tấn)
180 0 60 0
150 20 50 20
120 40 40 40
90 60 30 60

Ti vi0 18
0
12
0
0
6
0
12
0
60
Việt Nam
A
E
Nhật Bản
40
90
40
12
So sánh điểm A’ với điểm A và điểm E’với điểm E, ta thấy rõ ràng tiêu dùng
của 2 nước đã tăng lên, biểu hiện của lợi ích do thương mại mang lại. Nguyên
nhân sâu xa là mỗi nước đã chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm mà họ có lợi
thế so sánh và trao đổi với cá nước khác.
Đồ thị 1.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia Nhật
Bản và Việt Nam khi có thương mai
Như vậy, thương mại dựa trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm
có lợi thế tương đối làm cho mọi nước đều có lợi khi tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế bất kể nước đó có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn các
nước khác, hoặc kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất
mọi sản phẩm vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt
hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về các mặt hàng khác.

B
13
là yếu tố đầu vào duy nhất. Trong thực tế lao động không phải là đồng nhất,
những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau, hơn nữa đầu vào
của sản xuất còn bao gồm đất đai, vốn, khoa học công nghệ.
* Lợi thế cạnh tranh:
Ngày nay xu thế hội nhập và tự do hóa thương mại diễn ra mạnh mẽ, nó
tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế nhưng nó cũng đặt ra thách thức rất lớn về
sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Về nguyên lý, lợi thế tuyệt đối và lợi thế
so sánh được xét và đánh giá bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế và nó thuần túy
ở dạng tiềm năng. Các tiềm năng này sẽ không tạo thành sức mạnh đột phá
nếu không có một kế hoạch khai thác hiệu quả, điều này cũng giống như một
nước với tiềm năng tự nhiên rừng vàng biển bạc nhưng vẫn nghèo đói nếu
không có một giải pháp hữu hiệu để khai thác các tiềm năng đó. Muốn khai
thác các tiềm năng, chúng cần được đặt trong mối quan hệ với các vấn đề
chính trị và các chính sách kinh tế. Chỉ trên cơ sở khai thác hiệu quả các điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội gắn với cục diện chính trị và các định hướng
chiến lược mới tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sản xuất và xuất khẩu. Điều
này đặc biệt quan trọng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ, lợi thế so sánh không thể tồn tại cố định mà sẽ có sự chuyển hóa thay
đổi qua các giai đoạn. Do vậy việc xác định lợi thế cạnh tranh sẽ làm cho mỗi
quốc gia có thể chủ động khai thác lợi thế và tiềm lực của nền kinh tế trong
sản xuất và xuất khẩu.
Như vậy lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về
chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường tạo nên sức hấp dẫn cho
sản phẩm và thuận tiện cho khách hàng. Ngoài ra lợi thế cạnh tranh còn được
thể hiện trên các mặt: giá sản phẩm, khối lượng sản phẩm, thời gian giao
hàng, tính chất về sự khác biệt của sản phẩm hàng hóa. Lợi thế cạnh tranh còn
bao gồm chi phí cơ hội và năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt,
14

ổn định sản xuất.
- Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất gạo mở
rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia.
Thông qua xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có điều kiện tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới cả về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh
này có tác dụng ngược trở lại buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tổ chức,
xem xét lại khâu sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuất thích hợp, các
doanh nghiệp cũng cần phải nhìn lại chất lượng sản phẩm của mình để thích
nghi với những biến động của thị trường thế giới.
* Xuất khẩu gạo có tác dụng tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn
việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
- Tác động của xuất khẩu gạo đến đời sống nông dân được thể hiện trên
nhiều phương diện. Một mặt sản xuất gạo là nơi thu hút nhiều lao động và
việc làm có thu nhập khá ổn định. Mặt khác xuất khẩu gạo tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú
của nhân dân.
- Giải pháp xuất khẩu là sự đòi hỏi nhất thiết của thực trạng kinh tế. Khi
thực hiện xuất khẩu một lượng mặt hàng gạo dư thừa trong thị trường nội địa
sẽ được giải quyết lập lại cung cầu ở giá cao hơn. Nông dân không những bán
được hàng mà còn được giá. Từ những điều này mang lại cho nông dân thu
nhập cao hơn và đây chính là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển.
- Ngoài ra thông qua xuất khẩu gạo chúng ta phần nào hiểu rõ hơn về yêu
cầu của thị trường đối với mặt hàng gạo. Mối quan hệ giữa thị trường nước
16
ngoài và sản xuất trong nước được thực hiện qua xuất khẩu là cách tốt nhất để
nâng cao trình độ và hiệu quả của nền công nghiệp.
1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm trong
thương mại quốc tế.
Trong nghiên cứu về lý luận, các nhà kinh tế đã đưa ra chỉ tiêu Lợi thế so


= (1)
Trong đó:
x
ij
là xuất khẩu của quốc gia i về sản phẩm j
X
it
là tổng xuất khẩu của quốc gia i
X
wj
là tổng giá trị xuất khẩu của thế giới về sản phẩm j
X
wt
là tổng xuất khẩu của thế giới về hàng chế biến.
w chỉ thế giới
Ý nghĩa của công thức (1): nếu tỉ trọng xuất khẩu của nước i về mặt hàng j
lớn hơn tỉ trọng sản phẩm đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế
giới, tức là hệ số RCA ≥1, thì nước i được cho là có lợi thế so sánh về sản
phẩm j. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao. Nếu RCA <
1 thì nước i được cho là không có lợi thế so sánh về sản phẩm j – bất lợi thế
so sánh trông thấy. Chỉ số này đã được áp dụng cho nhiều quốc gia trên thế
giới
- Cách thứ hai: Hệ số lợi thế so sánh hiển thị được xác định bằng tỷ số
giữa mức chênh lệch xuất và nhập khẩu của một mặt hàng nào đó với tổng
xuất và nhập khẩu của mặt hàng đó hay còn gọi là tỷ số thương mại ròng.
Điều này được thể hiện bằng công thức:
(2)
Trong đó:
X

DRC là hệ số chi phí nguồn lực trong nước của một sản phẩm (hay ngành
sản phẩm), tính chi phí sản xuất theo giá trị của các đầu vào trung gian ở mức
giá thế giới và các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội. Ý nghĩa của hệ số
DRC là nó phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra
một hàng hóa nào đó. Như vậy, DRC cho biết hiệu quả sử dụng các nguồn lực
nội địa để tạo ra giá trị xuất khẩu ròng. Nói cách khác, DRC cho phép xác
định hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu.
- Thuế quan và các rào cản phi thuế quan làm tăng giá của các đầu vào
trung gian, làm cho chí phí sản xuất đối với từng nhà sản xuất riêng lẻ khác
với chi phí sản xuất chung mà xã hội phải gánh chịu. Do đó, việc loại bỏ các
ảnh hưởng của thuế quan và phi thuế quan là nhằm để ước lượng chi phí thật
sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra hàng hóa đó. Trong các nghiên
cứu ứng dụng, việc định lượng các ảnh hưởng của phi thuế quan thường rất
khó khăn, nên việc định lượng chỉ dừng lại với các ảnh hưởng thuế quan.
- Chi phí cơ hội của một nhân tố sản xuất được định nghĩa là thu nhập của
nhân tố đó khi tham gia vào một hoạt động sản xuất thay thế khác gần nhất.
Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) là tỉ lệ giữa chi phí các nhân tố
sản xuất theo chi phí cơ hội so với giá trị gia tăng theo giá quốc tế
19
Công thức tính DRC:
DRC
j
= (DC
j
)/IVA
j
(3)
Trong đó:
DCj : chi phí trong nước cho các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội để sản
xuất ra sản phẩm j

Đợt tăng mạnh thứ nhất là vì trong năm 1992, sản lượng tiêu thụ của thế giới
tăng cao do sự bùng nổ dân số. Lượng cầu về gạo vượt quá cung dẫn đến dự
trữ gạo thế giới cũng giảm xuống mức 123,324 triệu tấn (giảm 2,8%). Trước
tình hình đó, các nước tăng cường nhập khẩu, làm cho nhu cầu nhập khẩu gạo
năm 1993 còn tăng mạnh hơn cả lượng xuất khẩu. Tuy nhiên chỉ đến năm
1994, sau khi lúa được mùa, sản lượng gạo tăng mạnh ở các nước xuất khẩu
gạo chủ chốt thì hoạt động xuất khẩu gạo mới thực sự sôi động trở lại, đạt
mức xuất khẩu cao nhất kể từ năm 1990.
Giai đoạn 1994-1998, nhập khẩu gạo có xu hướng giảm xuống. Điều này
là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á làm giảm khả
21
năng thanh toán cũng như thương mại giao dich gặp khó khăn, gạo cũng là
mặt hàng bị ảnh hưởng trực tiếp.Tuy nhiên đến cuối năm 1998, do hiện tượng
El Nino khắc nghiệt và kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu hoạch
lương thực tại nhiều nước ở Nam bán cầu dẫn đến nhập khẩu ồ ạt với khối
lượng lớn ở một số nước như: Indonesia, Banglades, Philipines, Nigeria. Nên
số lượng gạo buôn bán trên toàn cầu đạt mức cao. Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến sự tăng vọt trong xuất khẩu gạo thế giới năm 1998.
Năm 2000, năm thế giới bắt đầu bước vào đợt sốt lạnh giá gạo lần thứ
nhất xuất khẩu gạo lại có một đợt sụt giảm lớn xuống mức 22,757 triệu tấn.
Kể từ đó trở đi thì tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới lại bắt đầu tăng liên
tục do dự trữ gạo trên thế giới giảm mạnh, cần một lượng gạo lớn để bổ sung.
Năm 2007, các nước xuất khẩu gạo chủ chốt nhìn chung đều phải đối mặt với
sự hạn hẹp về nguồn cung, giá gạo tăng cao. Tuy vậy, mậu dịch gạo thế giới
năm 2007 vẫn đạt mức cao kỷ lục, hơn 30 triệu tấn , tăng 3,4% so với năm
2006. Lượng gạo dự trữ giảm xuống mức thấp nhất trong gần 2 thập kỷ dẫn
đến nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh, được coi là động lực chính dẫn đến sự gia
tăng khối lượng mậu dịch gạo của thế giới trong năm này. Vì thế xuất khẩu
gạo đã đạt mốc kỷ lục mới 29,046 triệu tấn năm 2007.
Mặc dù đã có sự khôi phục về nguồn cung nhưng xuất khẩu gạo thế giới

trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Thái Lan 5,311 46,2% 5,454 29% 10,137 37% 10,01
6
34%
Việt Nam 1,420 12,4% 3,003 16% 4,295 15% 4,649 16%
Hoa Kỳ 2,061 17,9% 2,640 14% 3,090 11% 3,500 11,7%
Ấn Độ 0,422 3,7% 2,512 13% 3,172 11% 3,300 11,1%
Pakistan 0,854 7,4% 1,601 8% 1,986 7% 3,000 10,1%
TrungQuốc 0,384 3,3% 0,357 1,9% 0,880 3% 0,945 3,2%
Uruguay 0,266 2,3% 0,603 3,2% 0,804 3% 0,775 2,6%
Campuchia 0 0% 0,005
6
0,3% 0,300 1% 0,500 1,6%
Ai Cập 0,33 0,3% 0,328 1,7% 0,826 3% 0,450 1,51%

năm gần đây, lượng gạo xuất khẩu trung bình của Thái Lan đạt từ 8,8 triệu
tấn/ năm, giá trị xuất khẩu gần 2 tỷ USD, lượng gạo và kim nghạch xuất khẩu
gạo của Thái gấp 2 lần so với nước đứng ở vị trí thứ hai là Việt Nam.
24
Để đạt được những thành tựu trên trước hết là nhờ vào chính sách đổi mới
của chính phủ Thái Lan đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành gạo
nói riêng, thực hiện chiến lược sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp
và xuất khẩu, hình thành những khu vực công nghiệp chế biến nông sản. Quá
trình phát triển sản xuất nông nghiệp sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy ngành công ngiệp chế biến nông sản tăng mạnh, nâng cao giá trị
hàng nông sản. Đối với mặt hàng lúa gạo, chính phủ Thái Lan đã dành sự
quan tâm hàng đầu tới việc hỗ trợ sản xuất và giữ giá lúa gạo sao cho có lợi
cho người sản xuất. Trong các chính sách nông nghiệp của chính phủ thì
chính sách phát triển nông nghiệp, bảo hộ và khuyến khích xuất khẩu mang
tính quyết định đến sự tăng trưởng của nông nghiệp Thái Lan, cụ thể các
chính sách sau đã được áp dụng:
* Chính sách khuyến khích xuất khẩu:
Chính phủ Thái Lan không cạnh tranh với các thương nhân xuất khẩu gạo
và các thương nhân này được tự do tham gia thị trường xuất khẩu gạo thế giới
thông qua các biện pháp khuyến khích như: không thu thuế xuất khẩu, bỏ chế
độ hạn nghạch, xuất khẩu chỉ phải nộp thuế lợi tức nếu có, khi cần thiết chính
phủ có thể tham gia định hướng thị trường chủ yếu, can thiệp để ký được
những hợp đồng lớn…
* Chính sách trợ cấp xuất khẩu:
Trong lịch trình đàm phán gia nhập WTO, Thái Lan không đưa ra vấn đề
trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản, tuy nhiên với tư cách là một nước đang phát
triển, Thái Lan vẫn được phép tiến hành các hoạt động trợ cấp trong phạm vi
cho phép để giảm bớt các chi phí vận tải nội địa và quốc tế, các chi phí
Maketing. Ngoài ra, trong hoạt động xuất khẩu, chính phủ áp dụng 2 giải
pháp quan trọng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status