Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D Luận văn
Một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại
ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỘT SỐ KÍ HIỆU VIẾT TẮT 3
CHƯƠNG I: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 4
I/ TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 4
1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản 4
1.1. Sự ra đời của NHTM và khái niệm NHTM 4
1.2. Các hoạt động cơ bản 5
2. Dịch vụ ngân hàng 8
2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng 8
II/ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI NHNT
VIỆT NAM 43
1. Cơ sở pháp lý 44
2. Điều kiện tiếp cận với sản phẩm dịch vụ 46
2.1. Mật độ phục vụ về mặt địa lý 46
2.2. Mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ 47
2.3. Công tác khách hàng 52
3. Chất lượng dịch vụ mà NHNT cung cấp 54
3.1. Việc ứng dụng công nghệ mới 54
3.2. Trình độ nhân viên 56
4. Hiệu quả kinh doanh dịch vụ. 57
4.1. Lợi nhuận ròng trên tài sản có bình quân 57
4.2. Lợi nhuận ròng trên vốn tự có bình quân (ROE) 58
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D
III/ ĐÁNH GIÁ CHUNG NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG TỒN TẠI
VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 59
1. Những kết quả đã đạt được 59
2. Một số tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại 62
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN DỊCH
VỤ NGÂN HÀNG TẠI NHNT VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HNKTQT 69
I/ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP 69
1. Định hướng chung về phát triển hệ thống các NHTM 69
2. Định hướng phát triển dịch vụ của các NHTM Việt Nam 71
II/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 73
1. Nhóm giải pháp củng cố tiềm lực tài chính 73
2. Nhóm giải pháp về hiện đại hoá công nghệ 76
3. Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động Marketing 79
4. Nhóm giải pháp cơ cấu lại mô hình tổ chức, tăng cường năng lực
các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Với
vị trí được khẳng định là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng thương mại nước ta, ngay trong
những năm đầu của thế kỉ XXI, cần có những thay đổi tích cực và bứt phá mạnh
mẽ trong hoạt động kinh doanh. Có như vậy hoạt động ngân hàng nước ta mới
rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các ngân hàng trên thế giới và trong khu
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 2
vực, mới phát huy được vai trò và tác dụng của hệ thống ngân hàng phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong bốn ngân hàng thương
mại quốc doanh lớn nhất nước ta với kinh nghiệm truyền thống chuyên doanh
đối ngoại, được đánh giá là ngân hàng đi đầu trong việc phát triển dịch vụ ngân
hàng- liên tục mấy năm gần đây được các tổ chức nước ngoài đánh giá là ngân
hàng tốt nhất Việt Nam. Tuy nhiên, so với các ngân hàng nước ngoài, dịch vụ
ngân hàng của ngân hàng Ngoại thương đang gặp những thách thức lớn bởi còn
nhiều yếu kém, tồn tại như qui mô dịch vụ cung cấp còn nghèo nàn, chất lượng
dịch vụ còn chưa cao, hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp, tình trạng nợ quá
hạn cao rất khó có khả năng cạnh tranh với quốc tế….Chính vì vậy, tôi đã lựa
chọn đề tài “ Một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Kết cấu của khóa luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập kinh tế
quốc tế đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
Chương II: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng của ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam trong những năm gần đây.
Chương III: Một số giải pháp tiếp tục phát triển dịch vụ ngân hàng tại
ngân hàng Ngoại Thương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I/ TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH
VỤ NGÂN HÀNG.
1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản.
1.1. Sự ra đời của NHTM và khái niệm NHTM.
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải có một tổ chức kinh
doanh đặc biệt- chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ trong quan hệ vay
mượn đó là NHTM, một tổ chức tài chính được hình thành lâu đời nhất- từ hơn
2000 năm trước đây. Kể từ đó đến nay, công nghiệp ngân hàng đã lan rộng từ
nền văn minh cổ đại Hy Lạp và La Mã sang văn minh Bắc Âu, Tây Âu rồi trở
nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Ngày nay, NHTM và hoạt động của nó đóng vai
trò quan trọng trong thể chế tài chính của mỗi nước. NHTM là một mắt xích
hết sức quan trọng của nền kinh tế, có nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu khác nhau
về vốn, góp phần tăng tốc độ chu chuyển hàng hóa và tiền tệ, thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
Mỗi nước trên thế giới đều đưa ra một khái niệm riêng về NHTM, tuy
nhiên tất cả các khái niệm đều có thể hiểu ngân hàng là một tổ chức kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với các nội dung chính là:
- Nhận tiền gửi và chi trả hộ khách hàng.
- Sử dụng số tiền của khách hàng để cho vay.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 5
Theo luật tổ chức tín dụng năm 1997 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thì NHTM được hiểu như sau:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tích chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát
rỗi phát sinh trong nền kinh tế càng gia tăng và càng phong phú. Các NHTM có
thể huy động được các loại tiền gửi sau đây:
+ Tiền gửi không kì hạn: Loại tiền gửi này hoàn toàn theo quy tắc khả
dụng, nghĩa là người gửi có quyền gửi và rút tiền bất cứ lúc nào khi họ muốn.
+ Tiền gửi có kì hạn: Loại tiền gửi có kì hạn mà người gửi tiền và NHTM
có thỏa thuận với nhau theo những điều cam đã kết mang tính chất pháp lí.
Người gửi tiền chỉ được lĩnh tiền đầy đủ cả gốc lẫn lãi ra khi khoản tiền gửi đến
hạn, nếu chưa đến hạn chỉ được lĩnh gốc và lãi ở mức thấp hơn tùy theo ngân
hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Một khoản tiền gửi dưới hình thức tiết kiệm rất đa
dạng và phổ biến trong nền kinh tế được tổ chức tín dụng huy động có hiệu quả.
Tiền gửi tiết kiệm gồm: Tiền gửi tiết kiện không kì hạn và tiền gửi tiết kiệm có
kì hạn.
- Đi vay: Bên cạnh nguồn vốn huy động nếu chưa đáp ứng được nhu cầu
vay vốn của khách hàng, hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do nhiều khách hàng đến
rút tiền, NHTM phải bù đắp nguồn vốn bị thiếu hụt bằng biện pháp đi vay. Tổ
chức tín dụng có thể vay ở các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát hành
kì phiếu, trái phiếu hoặc vay ở Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết
khấu các chứng từ có giá.
Nguồn vốn đi vay chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn, nhưng nó
giữ một vị trí vô cùng quan trọng, vì nó đảm bảo cho tổ chức tín dụng hoạt động
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 7
kinh doanh một cách bình thường. Đối với tất các những nguồn vốn, NHTM
phải trả một khoản lợi tức cho người sở hữu nó theo nhưng cam kết đã thỏa
thuận.
1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn:
Là các nghiệp vụ thực hiện sử dụng các nguồn vốn đã huy động nhằm
mục đích sinh lời. Đây là nghiệp vụ quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh
tiền tệ của NHTM. Hoạt động này bao gồm:
ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán
bằng séc uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ. Các ngân hàng còn thực hiện thanh
toán bù trừ cho nhau thông qua ngân hàng Trung ương và các trung tâm thanh
toán. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa
các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết
lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến các ngân hàng trở
thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền
kinh tế toàn cầu.
2. Dịch vụ ngân hàng
2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng.
Ngành ngân hàng không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội,
nên được xếp vào ngành dịch vụ. Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng được chia
làm hai loại có tính chất khác nhau là: Hoạt động nghiệp vụ ( hoạt động kinh
doanh tiền tệ) và dịch vụ ngân hàng.
Những hoạt động mà ngân hàng đi tìm kiếm vốn hoặc cung ứng vốn cho
khách hàng gọi chung là hoạt động kinh doanh tiền tệ và gọi tắt là nghiệp vụ
ngân hàng. Vốn tiền tệ là đối tượng mua bán trong nghiệp vụ ngân hàng. Quan
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 9
hệ mua bán vốn tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và một bên là khách hàng là
một đặc trưng cơ bản của nghiệp vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng là những dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính, do ngân
hàng cung cấp cho khách hàng của mình, bao gồm các nhân tố hiện hữu, giải
quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với
người cung cấp, mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Sản phẩm của các
dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất.
Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc
xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện chúng một cách
có hiệu quả và bán chúng với một mức giá cạnh tranh.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay
với khối lượng của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, chính
phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày
nay, chính phủ giành quyền cấp giấy phép hoạt động và kiểm soát các ngân
hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam
kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho
Chính Phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất
định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay
với các điều kiện ưu đãi cho doanh nghiệp của Chính phủ.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch: Cuộc cách mạng công nghiệp ở
Châu Âu đã đánh dấu sự ra đời của hoạt động dịch vụ này. Tài khoản tiền gửi
giao dịch (demand deposit) - một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền
viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa tài khoản tiền
gửi này được xem là những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân
hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 11
khoản giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn
hơn.
- Cung cấp dịch vụ ủy thác: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực
hiện việc quản lí tài sản và quản lí hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh
nghiệp thương mại. Theo đó, ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản
hay quy mô vốn mà họ quản lí. Chức năng quản lí tài sản này được gọi là dịch
vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại dịch
vụ: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân và hộ gia đình; và ủy thác thương
mại cho các doanh nghiệp. Thông qua các phòng Uỷ thác cá nhân, các khách
hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lí và
đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Trong các phòng ủy thác
thương mại, ngân hàng quản lí danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền
khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng
thanh toán.
- Cho vay tài trợ dự án: Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động
hơn trong việc tài trợ chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong nghành
công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín đụng này nói chung là cao nên
chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công ty
sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi
ro.
- Cung cấp kế hoạch hưu trí: Ngân hàng rất năng động trong việc quản
kí kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư
vốn và phát lương hưu cho những người nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng
cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi
cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 13
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Nhiều ngân hàng
đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn
nhu cầu. Đây cũng là một trong những lí do chính khiến các ngân hàng bắt đầu
bán những dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho các khách hàng cơ hội
mua cổ phiếu, trái phiếu, các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người
kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra
các công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã
bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp
khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động như mất khả năng
thanh toán.
- Cung cấp các dịch vụ đại lí: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt
động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân
hàng (thường những ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lí cho các
ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm
Trên góc độ toàn cầu, hội nhập trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng là một quá
trình kết nối ngày càng gia tăng các thị trường tài chính - ngân hàng xuyên quốc
gia để tiến tới phát triển một thị trường thống nhất.
Xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ HNKTQT là sự chủ động tham gia của
các quốc gia vào quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập bao hàm các nỗ
lực về mặt chính sách và thực hiện của các quốc gia để tham gia vào các định
chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực. Nội dung của quá trình nay bao gồm:
Thứ nhất, kí kết tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, cùng
các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy
định, cam kết đối với thành viên của các định chế, tổ chức đó.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 15
Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết trong nước để đảm bảo đạt
được mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết
quốc tế về hội nhập. Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện
gồm: Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa và mở cửa, giảm và tiến tới
dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư và luân chuyển vốn, lao động, kĩ thuật- công nghệ giữa các nước
thành viên ngày càng thông thoáng hơn. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với
quá trình tự do hóa và mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành
hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu cao nhất của sự điều
chỉnh này là tạo ra được một cơ cấu kinh tế tối ưu, có khả năng cạnh tranh cao,
phát huy tốt nhất ưu thế của đất nước trong quá trình hội nhập. Đồng thời, tiến
hành cải cách hệ thống doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh, đào tạo
và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công chức, những nhà quản lí
doanh nghiệp và lực lượng công nhân lành nghề có thể đáp ứng tốt các đòi hỏi
của quá trình HNKTQT.
Các NHTM với vai trò là các doanh nghiệp (doanh nghiệp đặc biệt) thì
nội dung quan trọng nhất bao trùm toàn bộ quá trình HNKTQT là tự cải tổ theo
hướng phù hợp với thông lệ quốc tế về các mặt: nguồn nhân lực, vốn, công
* Hạn chế tổng số người được tuyển dụng trong lĩnh vực cụ thể hay một
nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng và những người cần thiết liên quan
trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ ngân hàng dưới hình thức quota hay yêu cầu
phải đáp ứng các nhu cầu kinh tế.
* Các biện pháp hạn chế hay yêu cầu phải mang một hình thức pháp nhân
nào cụ thể hay liên doanh thông qua đó những nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng
phải cung cấp một dịch vụ.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 17
* Hạn chế việc tham gia đóng góp vốn của bên ngoài dưới hình thức tỷ lệ
phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được phép nắm giữ hoặc tổng giá trị
đầu tư nước ngoài tính đơn hay tính gộp.
b. Mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ ngân hàng hay nhà cung cấp dịch
vụ ngân hàng của bất kì một thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần
thuận lợi hơn sự đãi ngộ với điều kiện, điều khoản và những hạn chế đã được
thỏa thuận và quy định trên danh mục cam kết cụ thể của thành viên đó.
c. Trừ khi gặp tình huống phải bảo vệ cán cân thanh toán, một thành viên
sẽ không áp dụng hạn chế về thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch vụ
vãng lai liên quan tới các cam kết cụ thể của mình.
d. Một nước thành viên sẽ cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng
của nước thành viên khác được đưa ra các dịch vụ ngân hàng mới trên lãnh thổ
của mình.
e. Mỗi nước thành viên sẽ cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng
tiếp cận hệ thống kế toán bù trừ do nhà nước điều hành và tiếp cận các thể thức
cấp vốn và tái cấp vốn trong quá trình kinh doanh thông thường.
f. Mỗi nước thành viên sẽ dành cho người cung cấp dịch vụ ngân hàng
của bất kì nước thành viên nào khác quyền được thành lập và mở rộng hoạt
động trong lãnh thổ nước mình kể cả việc mua lại các doanh nghiệp hiện tại hay
một tổ chức thương mại.
g. Các thành viên cam kết rằng, trong những trường hợp nhất định, trợ
k. Buôn bán trên tài khoản của mình hay tài sản của khách hàng tại sở
giao dịch chứng khoán, trên thị trường chứng khoán không chính thức (OTC)
hay trên các thị trường khác những sản phẩm sau: Các sản phẩm của thị trường
tiền tệ, bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi; ngoại hối; các tài sản tài
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 19
chính phái sinh, bao gồm (nhưng không hạn chế) các hợp đồng giao dịch kì hạn,
và quyền chọn; các chứng khoán có thể chuyển nhượng được; các công cụ có
thể thanh toán và tài sản tài chính khác.
l. Tham gia phát hành mọi chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và
chào bán như đại lí (theo cách công khai hay thỏa thuận riêng) và cung cấp các
dịch vụ liên quan đến việc phát hành đó.
Phía Hoa Kỳ được phép triển khai thực hiện các dịch vụ tài chính ngân
hàng tại Việt Nam theo lộ trình 7 mốc như sau.
1. Trong vòng 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, hình thức pháp lí
duy nhất mà các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ được phép hoạt động là liên
doanh với đối tác Việt Nam.
2. Sau 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam giành đối xử
quốc gia đầy đủ với quyền tiếp cận NHTW trong các hoạt động tái chiết khấu
swap, forward.
3. Trong vòng 8 năm đầu, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi
nhánh ngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi từ các pháp nhân Việt Nam mà ngân
hàng không có quan hệ tín dụng. Mức vốn của chi nhánh được qui định như
sau: năm thứ nhất: 50% vốn pháp định được chuyển vào; năm thứ hai: 100%,
năm thứ ba: 250%, năm thứ tư : 400%; năm thứ năm: 600%; năm thứ sáu:
700%; năm thứ bảy: 800%, năm thứ tám: 900%, năm thứ chín: 1000%; năm thứ
mười: đối xử quốc gia đầy đủ.
4. Sau 8 năm, các định chế tài chính có vốn đầu tư Hoa Kỳ có thể phát
hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia.
5. Các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ không được đặt ATM tại các địa
trong quá trình hội nhập để có các giải pháp phù hợp đưa hoạt động của ngân
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thanh Hà Lớp A13 – K38D 21
hàng mình phát triển phù hợp với xu thế thời đại, đứng vững được trong cơ chế
thị trường trong điều kiện cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
3.1. Cơ hội của các NHTM Việt Nam:
Thứ nhất: hội nhập quốc tế trong hoạt động ngân hàng mở ra các cơ hội
trao đổi, hợp tác quốc tế về các vấn đề tài chính tiền tệ, các diễn biến kinh tế,
các chiến lược hợp tác vĩ mô và qua đó nâng cao được uy tín và vị thế của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai: Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NHTM Việt
Nam có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các nước có
trình độ phát triển cao.
Thứ ba: Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam có cơ hội tăng cường,
phát triển ngành ngân hàng bằng cách chuyên môn hóa sâu hơn các nghiệp vụ
ngân hàng, tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế, mở
rộng quá trình tiếp cận đối với các dịch vụ ngân hàng ưu việt, qua đó các
NHTM Việt Nam có cơ hội hơn để khai thác và sử dụng có hiệu quả các ưu thế
của hoạt động ngân hàng trên qui mô hiện đại và đa năng.
Thứ tư: Hội nhập quốc tế trong hoạt động ngân hàng là động lực để thúc
đẩy công cuộc đổi mới và cải cách ngành ngân hàng Việt Nam. Để đáp ứng các
điều kiện hội nhập và thực hiện cam kết với các tổ chức thương mại toàn cầu và
khu vực, các cam kết ngày càng phức tạp và chặt chẽ hơn theo xu hướng nới
lỏng các hạn chế hiện tại, tiến tới mở cửa tự do hóa toàn diện, do vậy đòi hỏi
các NHTM Việt Nam phải đẩy mạnh công cuộc cải cách sâu rộng và triệt để
hơn nhằm đem lại hiệu quả và lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Chính công
cuộc cải cách thành công này sẽ làm cho cơ chế chính sách ngân hàng của Việt
Nam phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế, các qui định của tổ chức thương mại
quốc tế và hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có hiệu quả và uy tín
hơn. Do vậy, thị trường Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn, thu hút nhiều vốn đầu tư,