1Luận văn
Mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại của
Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế ở nước
ta hiện nay
2
Lời mở đầu
Những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục và tăng cường công cuộc Đổi
mới kinh tế trên nhiều lĩnh vực và đã đạt được những thành tựu quan trọng
về phát triển kinh tế. Tuy giành lại được độc lập từ ngày 2/9/1945, nhưng
Việt Nam phải trải qua 30 năm kháng chiến, đến năm 1975 đất nước mới
hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế quá
thấp, hậu quả chiến tranh quá nặng nề cùng với những thiếu sót, sai lầm
trong chỉ đạo kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế tập trung bao cấp nên đến năm
1985 kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra
vào tháng 12/1986 đã đưa ra đường lối Đổi mới trong đó đổi mới kinh tế là
trọng tâm mà nội dung chủ yếu là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó, tháng 6/1991, Đại hội VII của
Đảng đã tiến hành đánh giá thành quả Đổi mới và tiếp tục thực hiện đường
lối Đổi mới, đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với xu thế lớn của thế giới
là đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế để tạo thêm thế mạnh, tranh
4
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về kinh tế đối ngoại
I.1. Tính tất yếu mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở
nước ta hiện nay
I.1.1. Khái niệm kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc
tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của
một quốc gia nhất định với các quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ
chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình
thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân
công lao động quốc tế.
Nội dung của lĩnh vực kinh tế đối ngoại rất rộng bao gồm:
- Lĩnh vực ngoại thương: đó là quan hệ mua bán hàng hoá với các
quốc gia khác trên thế giới bao gồm hàng hoà vô hình và hữu hình.
- Lĩnh vực dịch vụ quốc tế như : du lịch quốc tế, giao thông vận tải
quốc tế, dịch vụ bảo hiểm quốc tế, dịch vụ xây dựng quốc tế v.v
công nghiệp tiên tiến hiện đại.
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời
sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Tất nhiên, những vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi
hoạt động kinh tế đối ngoại vượt qua được những thách thức (mặt trái)
của toàn cầu hoá và giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
I.1.2.1. Sự cần thiết của việc phát triển kinh tế đối ngoại
Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập mà
không có mối quan hệ nào với các quốc gia bên ngoài đặc biệt trong
6
lĩnh vực kinh tế. Bởi vì có sự tồn tại của quan hệ hàng hóa tiền tệ và sự
trao đổi này đã ra khỏi phạm vi của một nước và sự tồn tại của các quốc
gia độc lập, hai điều kiện này tồn tại một cách khách quan nên quan hệ
giữa các nước trong lĩnh vực kinh tế mang tính khách quan.
Thế giới ngày nay là một thể thống nhất, trong đó các quốc gia là
những đơn vị độc lập, tự chủ, nhưng phụ thuộc vao nhau về kinh tế và
khoa học công nghệ. Sự phụ thuộc này bắt nguồn từ những yếu tố khách
quan. Do điều kiện địa lý, sự phân bố tài nguyên thiên nhiên không
đồng đều nên không một quốc gia nào có khả năng đảm bảo các sản
phẩm cơ bản. Các quốc gia đều phụ thuộc vào nhau với những mức độ
khác nhau .
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng không có một quốc gia nào trên
thế giới có thể phát triển nếu thực hiện chính sách tự cấp, tự túc. Ngược
lại, nhũng nước có tốc độ tăng trưởng cao đều là những nước dựa vào
kinh tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển; biết sử dụng
những thành tựu của cuộc cách mạng khoa hoc – công nghệ để hiện đại
hóa nền sản xuất, biết khai thác những nguồn lực ngoài nước để phát
nước ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên
và là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung
và ở nước ta nói riêng.
Dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng
toàn cầu hoá, khu vực hoá, thương mại quốc tế ngày này có những đặc
điểm mới:
- Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ
tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “vô hình” có xu hướng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng ngoại thương hang hoá “hữu hình”.
Điều đó bắt nguồn từ sự thay đổi cơ cấu kinh tế giữa ngành sản xuất
vật chất và ngành dịch vụ trong mỗi quốc gia và quốc tế.
8
- Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi sâu sắc theo hướng: hàng hoá nhu
cầu tầng 1 (nhu cầu về đời sống vật chất) giảm xuống và hang hoá
nhu cầu tầng 2 (nhu cầu về đời sống văn hoá tinh thần) thăng nhanh;
tỷ trọng xuất khẩu hàng thô, nguyên lieuẹ giảm xuống, còn hàng dầu
mỏ, khí đốt, sản phẩm công nghệ chế biến nhất là máy móc thiết bị
lại tăng nhanh.
- Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế
diễn ra rất phong phú và đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá
cả, mà còn về điều kiện giao hang, bao bì, mẫu mã thời hạn thanh
toán, các dịch vụ sau bán hang. Phạm vi thị trường ngày một mở
rộng không chỉ hang hoá, dịch vụ thông thường mà còn mở rộng
sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ - lĩnh vực này càng đóng vai trò quan
trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế.
- Chu ký soốngcủa từng loại sản phẩm ngày càng rút ngắn lại.Các
hang hoá có hàm lượng khoa học – công nghệ cao có sức mạnh cạnh
tranh hơn so với các hang hoá truyền thống.
Hợp tác khoa học – kỹ thuật
Hợp tác khoa học kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức, như
trao đổi những tài liệu – kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao
đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cưu khoa học
kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân…
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, các vấn đề hợp tác quốc tế và
chuyển giao công nghẹ ngày càng chiếm một vị trí quan trọng vì các
ngành khoa học công nghệ là tác nhân đẩy nhanh quá trình chuyên môn
hóa, hợp tác hòa về ngành nghề sản xuất và phân công lao động ngày
càng sâu sắc. Đồng thời, sự phát triển của khoa học công nghệ là động
lực thúc đẩy quá trình hợp tác, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
giữa các quốc gia, giữa các khu vực và châu lục. Mặt khác, lien kết kinh
tế quốc tế ngày càng phát triển cũng chính là hệ quả của cách mạng
10
khoa học kỹ thuật và công nghệ và đến lượt nó, sự liên kết kinh tế quốc
tế lại thúc đẩy khoa học công nghệ ngày càng tiến lên những bước mới.
Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau)
cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm
mục đích sinh lợi.
Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Nó
làm tăng thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản
lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị
trường hiện đại trên thế giới. Mặt khác, đầu tư quốc tế cùng có khả năng
làm gia tăng sự phân hóa giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng
lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường sinh thái,
tăng tính lệ thuộc với bên ngoài. Những điều bất lợi trên đây cần được
tính toán và cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng, thậm định, ký kết và
chứng khoán theo mức quy định của từng nước.
Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ, du lịch quốc tế
Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối
ngoại. Xu thế hiện nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với
hàng hóa khác trên thị trường thế giới.
Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ chủ yếu :
- Du lịch quốc tế
- Vận tải quốc tế
- Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ
- Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác
12
II. Thực trạng kinh tế đối ngoại của Việt Nam một số năm trước
đến nay
Vào những năm 80, Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng cả về
kinh tế và xã hội: sản xuất đình trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt
0,4%; lạm phát tăng cao, lên đến 774,7% vào năm 1986; tỷ lệ đói nghèo
chiếm tới 70% dân số.
Từ năm 1986, Việt Nam từng bước chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế nhiều thành phần;
mở rộng và đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hội
nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.
Qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, nhưng cũng gặp không ít khó khăn trong
kinh tế đối ngoại, thể hiện qua một số mặt sau:
II.1. Những thành tựu đã đạt được
II.1.1. Hoạt động ngoại thương
Xuất khẩu
Tổng xuất khẩu năm 2005 đã tăng 21,6% đạt 32,2 tỷ USD. Trong đó
khu vực FDI đóng góp trên 57% và đạt mức tăng trưởng cao nhất với
40,7%, nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng 12%, chiếm tỷ trọng 25,1%.
14
Nhập khẩu
Những năm gần đây, nhập khẩu đã phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất,
xuất khẩu và tiêu dung trong nước. Mặc dù nhu cầu và giá cả của một số
mặt hàng chiến lược có biến động mạnh trên thị trường thế giới nhưng
nhập khẩu vẫn đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu trong nước và không để
xỷa ra các cơn sốt giá trên thị trường trong nước.
Thị trường nhập khẩu năm 2005 tập trung chủ yếu vào Châu Á. Theo
số liệu về thị trương nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2005, nhập khẩu từ
châu Á chiếm tới 80% (trong đó ASEAN chiếm 25%) tổng kim ngạch
nhập khẩu của cả nước.
Tỷ lệ giá trị nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu sau khi đạt mức
cao nhất trong năm 2003 đã giảm dần, năm 2005 là 15,6% (thời ký
2001-2005 tỷ lệ này khoảng 17,6%).
I.1.2. Đầu tư quốc tế
Năm 1987, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành. Đến nay,
khoảng 70 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới có hoạt động đầu tư vào Việt
Nam. Tính đến hết năm 2003, tổng số 4193 dự án nước ngoài tại Việt Nam
với tổng số vốn đăng ký trên 40,2 tỷ USD. Vốn FDI thực hiện khoảng 22,9
tỷ USD. Khu vực có vốn ĐTNN đóng góp hơn 10% GDP của Việt Nam,
chiếm khoảng 18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (giảm so với mức 25%
trong thời kỳ 1990-2000), 27% kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo việc
làm cho khoảng 472 nghìn người.
Đầu tư nước ngoài trực tiếp không chỉ tăng thêm nguồn vốn mà quan
trọng hơn là giúp chúng ta nâng cao kỹ thuật quản lý, trình độ công nghệ,
đào tạo nghề, thị trường và giải quyết một phần vấn đề việc làm.
II.2. Những khó khăn và hạn chế
Khó khăn lớn và rõ nét nhất là sức cạnh tranh của hàng hóa Việt nam
còn yếu trên thị trường thế giới. Sự yếu kém này không chỉ về chất lượng
16
động tham gia vào phân công lao động quốc tế, khó khăn cho việc lựa chọn
mô hình và chính sách phát triển cho các nước đi sau trong đó có Việt
Nam.
III. Giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
III.1. Mục tiêu, phương hướng cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại
III.1.1. Mục tiêu
Đối với nước ta, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm
từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nứoc mạnh, xã hội công bằng dân
chủ và văn mình theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian trước
mắt việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – nhiệm vụ trung tâm của
thời ký quá độ. Mục tiêu đó phải được quán triệt đối với mọi ngành, mọi
cấp trong hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như phải được quán triệt trong
mọi lĩnh vực của kinh tế đối ngoại nước ta.
III.1.2. Phương hướng cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh
tế đối ngoại, phát triển kinh tế đối ngoại
Xuất phát từ quan điểm của Đảng : “Việt nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin
cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển”, phương hướng cơ bản nhằm phát triển kinh tế đối ngoại trong
thời kỳ quá độ là:
- Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi
tổ chức kinh tế không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn
trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng
cường vị trí của Việt Nam ở các thị trường quen thuộc và với bạn
hàng truyền thống; tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường
mới, phát triển các quan hệ mới dưới mọi hình thức.
17
- Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc
ngoại. Việc mở rộng và nâng hiệu quả kinh tế đối ngoại đòi hỏi:
Một mặt phải mở rộng các hình thức kinh tế đối ngoại, mặt khác phải
sử dụng linh hoạt phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc biệt là phải sử dụng
chính sách thích hợp đối với mỗi hình thức kinh tế đối ngoại. Chẳng hạn
đối với hình thức ngoại thương cần phải có chính sách khuyến khích mạnh
mẽ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm có
hàm lượng công nghệ cao, phát triển mạnh mẽ những sản phẩm hàng hóa
dịch vụ có khả năng cạnh tranh, có cơ chế bảo hiểm hàng xuất khẩu, đặc
biêt là nông sản, đầu tư cho hoạt động hỗ trợ sản xuất trong nước, tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu tiến tới cân bằng xuất nhập khảu. Thực hiện
chính sách bảo hộ có lựa chọn, có thời hạn. Chủ động thâm nhập thị trường
quốc tế, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, mở rộng thị
trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới. Tiếp tục cải
thiện môi trường đầu tư, tăng sức hấp dẫn nhất là đối với các công ty xuyên
quốc gia. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
III.2.3. Xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế tri
thức đang hình thành và từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - ngày
càng cao. Trong đó đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật mà trước hết
là hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải.
Phải có chiến lược đầu tư đúng nhất là đầu tư tập trung có trọng điểm, dứt
điểm và có hiệu quả cao, đặc biệt phải kiên quyết chống các hiện tượng tiêu
cực gây thất thoát vốn đầu tư.
19
III.2.4. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại
Việc tăng cường quản lý nhà nước trở thành vấn đề cấp bách. Chỉ có
tăng cường vai trò quản lý của nhà nước mới có thể đảm bảo mục tiêu,
phương hướng và giữ vững được những nguyên tắc cơ bản trong kinh tế
đối ngoại và có như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại mới mang lại hiệu quả.
xây dựng một số doanh nghiệp nhà nước thành tập đoàn xuyên quốc gia.
Các tập đoàn này sẽ là lực lượng đầu tầu trong việc mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại và thông qua đó lôi cuốn các doanh nghiệp khác.
Đối với các đối tác nước ngoài: việc lựa chọn đối tác thích hợp luôn là vấn
đề quan trọng đối với bên Việt nam. Song trong tương lai về lầu dài cần
quan tâm hơn đối với các công ty xuyên quốc gia vì đó là nguồn quốc tế
lớn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý mà chúng ta rất cần khai thác.
Tuy nhiên để khai thác được họ hoàn toàn không phải là vần đề đơn giản,
đòi hỏi phải có chiến lược, sách lược đúng đắn trên cơ sở cùng có lợi. 21
22
KẾT LUẬN
Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại là một yêu
cầu cấp bách để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sau gần 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, chúng ta đã đạt được
I.1.2.Tính tất yếu khách quan phải mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại 5
I.1.2.1. Vai trò của kinh tế đối ngoại 5
I.1.2.1. Sự cần thiết của việc phát triển kinh tế đối ngoại 5
I.2. Những hình thức chủ yếu và nguyên tắc của kinh tế đối ngoại 6
I.2.1. Những hình thức chủ yếu 6
II. Thực trạng kinh tế đối ngoại của Việt Nam một số năm trước đến nay 12
II.1. Những thành tựu đã đạt được 12
II.1.1. Hoạt động ngoại thương 12
I.1.2. Đầu tư quốc tế 14
II.2. Những khó khăn và hạn chế 14
III. Giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 16
III.1. Mục tiêu, phương hướng cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại 16
III.1.1. Mục tiêu 16
III.1.2. Phương hướng cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế đối ngoại 16
III.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại 17
III.2.1. Đảm bảo sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế xã hội. 17
III.2.1. Có chính sách thích hợp đối với từng hình thức kinh tế đối
ngoại 18
III.2.3. Xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ
thuật 18
III.2.4. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế đối
ngoại 19
III.2.5. Xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác trong quan hệ kinh tế
đối ngoại 19
KẾT LUẬN 22
Tµi liÖu tham kh¶o 22