Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay - Pdf 18

Lời mở đầu
Những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục và tăng cường công cuộc Đổi
mới kinh tế trên nhiều lĩnh vực và đã đạt được những thành tựu quan trọng
về phát triển kinh tế. Tuy giành lại được độc lập từ ngày 2/9/1945, nhưng
Việt Nam phải trải qua 30 năm kháng chiến, đến năm 1975 đất nước mới
hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế quá
thấp, hậu quả chiến tranh quá nặng nề cùng với những thiếu sót, sai lầm
trong chỉ đạo kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế tập trung bao cấp nên đến năm
1985 kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra
vào tháng 12/1986 đã đưa ra đường lối Đổi mới trong đó đổi mới kinh tế là
trọng tâm mà nội dung chủ yếu là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó, tháng 6/1991, Đại hội VII của
Đảng đã tiến hành đánh giá thành quả Đổi mới và tiếp tục thực hiện đường
lối Đổi mới, đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với xu thế lớn của thế giới
là đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế để tạo thêm thế mạnh, tranh
thủ thêm vốn và công nghệ cho phát triển kinh tế quốc dân.
Tiếp tục phát huy hơn nữa những thành quả đã đạt được, Đại hội Đảng
lần thứ IX (tháng 4/2001) đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2001-2010 nhằm xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” theo phương châm “Việt Nam sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng
cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ, cùng phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển.”
Qua hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, nhưng nước ta vẫn là một nước
1
nghèo, kém phát triển, nông nghiệp lạc hậu, trang bị kỹ thuật và kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội còn thấp nhưng có nhiều tiềm năng chưa được khai

riêng biệt. Cho nên, để phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại có lợi
nhất, trong từng thời ký: tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế trong và ngoài
nước mà hoạch định chính sách đối ngoại khác nhau, không nên sao
chép máy móc mô hình phát triển kinh tế đối ngoại của các quốc gia
khác, mà phải tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tốt trong phát triển kinh
3
tế đối ngoại của họ để áp dụng trong chính sách đối ngoại của quốc gia
mình.
I.1.2.Tính tất yếu khách quan phải mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại
I.1.2.1. Vai trò của kinh tế đối ngoại
Có thể khái quát vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại qua các mặt sau
đây:
- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và
trao đổi quốc tế; nối liền thị trường trong nước với thị truong thế giới
và khu vực.
- Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp
(FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ
quốc tế (ODA); thu hút kkhoa học, kỹ thuật, công nghệ; khai thác và
ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện
đại vào nước ta.
- Góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên nước
công nghiệp tiên tiến hiện đại.
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời
sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Tất nhiên, những vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi
hoạt động kinh tế đối ngoại vượt qua được những thách thức (mặt trái)

lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài); ngoại thương; hợp
tác tín dụng quốc tế; các hoạt động dịch vụ như du lịch quốc tế, giao
thông vận tải, thông tin lien lạc quốc tế, dịch vụ thu, đổi và chuyển giao
ngoại tệ….; đầu tư quốc tế, v.v…
5
Trong các hình thức kinh tế đối ngoại, ngoại thương, đầu tư quốc tế
và dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất
cần được coi trọng.
• Ngoại thương
Ngoại thương còn được gọi là thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng
hoá, dịch vụ (hàng hoá hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông
qua xuất nhập khẩu.
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung
tâm và có tác dụng to lớn: gốp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp và có
tác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạng tổng hợp, tăng tích luỹ của
mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia
trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; “điều
tiết thừa thiếu” trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu
ngành nghề trong nước. Tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của
người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu.
Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hang hoá, thuê
nước ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên
và là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung
và ở nước ta nói riêng.
Dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng
toàn cầu hoá, khu vực hoá, thương mại quốc tế ngày này có những đặc
điểm mới:
- Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ
tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “vô hình” có xu hướng

nước ngoài. Đây là kiểu tổ chức xí nghiệp, thưong nghiệp, dịch vụ và
tổ chức tài chính, tín dụng. Nó tồn tại dưới dạng các công ty cổ phần
với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với đóng góp cổ phần của các cổ
7
đông. Các xí nghiệp này được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh
tế quốc dân hướng vào xuất khẩu thay thế hang nhập khẩu và chở
thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi, tạo điều kiện cho nhà nước tiết
kiệm ngoại tệ. Ở nước ta hiện nay hiènh thức này đóng vai trò rât
quan trọng.
- Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hóa.
Hợp tác sản xuất quốc tế có thể diễn ra một cách tự giác theo những
hiệp định hay hợp đồng giữa các bên tham gia, cũng có thể hình
thành một cách tự phát do kết quả cạnh tranh, do đầu tư và lập các
chi nhanh của các công ty xuyên quốc gia tại các nước.
Chuyên môn hòa bao gồm chuyên môn hóa những ngành khác
nhau và chuyên môn hòa trong cùng một ngành (chuyên môn hóa
theo sản phẩm, theo bộ phận sản phẩm hay chi tiết và theo công
nghệ). Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các
nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
• Hợp tác khoa học – kỹ thuật
Hợp tác khoa học kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức, như
trao đổi những tài liệu – kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao
đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cưu khoa học
kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân…
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, các vấn đề hợp tác quốc tế và
chuyển giao công nghẹ ngày càng chiếm một vị trí quan trọng vì các
ngành khoa học công nghệ là tác nhân đẩy nhanh quá trình chuyên môn
hóa, hợp tác hòa về ngành nghề sản xuất và phân công lao động ngày
càng sâu sắc. Đồng thời, sự phát triển của khoa học công nghệ là động
lực thúc đẩy quá trình hợp tác, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ

ban điều hành chung.
o Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status