Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế thực trạng và giải pháp - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
*****

Họ và tên: Nguyễn Tiến Lực

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế.
Mã số: 6 2 3 1 0 7 0 1

“NĂNG LỰC CẠNH TRANH LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC
TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP QUỐC TẾ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” Giáo viên hướng dẫn : PGS, TS: Vũ Sĩ Tuấn
Học viên: Nguyễn Tiến Lực
Hà Nội, tháng 12 năm 2009

MỤC LỤC
Phần mở đầu Trang
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục tiêu nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Đối tượng & Phạm vi nghiên cứu.

2.1.3. Đối thủ cạnh tranh trong lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam 30
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam.
2.2.1. Môi trường kinh doanh của lữ hành du lịch quốc tế 31
2.2.2. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch và lữ hành du lịch quốc tế 35
2.2.3. Sản phẩm và dịch vụ lữ hành du lịch quốc tế 38
2.2.4. Vấn đề tuyên truyền, quảng bá và Marketing trong lĩnh vực lữ hành du
lịch quốc tế của Việt Nam. 41
2.2.5. Nguồn nhân lực lữ hành du lịch quốc tế 45
2.2.6. Vốn, công nghệ trong lữ hành du lịch quốc tế 48
2.2.7. Trình độ tổ chức, quản lý trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế 49
2.2.8. Giá cả đối với lữ hành du lịch quốc tế 50
2.2.9. Sự sẵn sàng phối hợp của các thành phần chủ đạo trong Tour du lịch
2.2.10. Nguồn lực tự nhiên và văn hoá 53
2.2.11. Vấn đề nhận thức và ưu tiên phát triển lữ hành du lịch quốc tế 56
2.3. Đánh giá Năng lực cạnh tranh Lữ hành du lịch Quốc tế của Việt Nam 58
2.3.1 . Ưu điểm 65
2.3.2 . Hạn chế 66
2.3.3 . Cơ hội 67
2.3.4 . Thách thức 68

CHƯƠNG III:GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG
LĨNH VỰC LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

3.1. Định hướng và mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ
hành du lịch quốc tế. 70
3.1.1. Định hướng nâng cao NLCT trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế.
3.1.2. Mục tiêu nâng cao NLCT trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế.
3.2. Giải pháp nâng cao Năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế 72
3.2.1. Giải pháp vĩ mô 72
3.2.2. Giải pháp vi mô 80

Bảng 2.1
Số lượng khách quốc tế đến Việt nam 1999- 2008
29
Bảng 2.2
Thu nhập trong du lịch 2000 - 2008
31
Bảng 2.3
Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế
35
Bảng 2.4
Số lượng các cơ sở lưu trú
35
Bảng 2.5
Một vài chỉ số TTCI 2009 của các quốc gia trong khu vực
45
Bảng 2.6
Biểu giá so sánh một số chương trình tham quan ngắn ngày
50
Bảng 2.7
Một vài chỉ số TTCI 2009 có liên quan tới giá cả
51
Bảng 2.8
So sánh một vài chỉ tiêu về Nguồn lực tự nhiên & văn hoá của VN
54
Bảng 2.9
So sánh một vài chỉ tiêu liên quan tới nhận thức và ưu tiên du lịch
56
Bảng 2.10
Xếp hạng TTCI của Việt nam 2007 - 2009
58

hút khách du lịch quốc tế của Việt Nam nói chung còn yếu so với nhiều đối thủ cạnh
tranh trong khu vực. Các doanh nghiệp LHDLQT về cơ bản còn thiếu chiến lược cạnh
tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường du lịch nước ngoài, thiếu đội ngũ cán bộ có
kinh nghiệm trong công tác thị trường, marketing. Nguồn tài chính dành cho hoạt động
marketing, quảng bá, tiếp thị ở thị trường nước ngoài của nhiều doanh nghiệp
LHDLQT của Việt Nam còn hạn chế.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng chủ đạo hiện nay,
đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới WTO từ tháng 1/2007, việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong
lĩnh vực LHDLQT để thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam là một đòi hỏi cấp
thiết. Việt Nam nếu không có đủ năng lực tiếp cận thị trường quốc tế và khu vực, thiếu
một chiến lược cạnh tranh linh họat phù hợp sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với
các đối thủ cạnh tranh và sẽ bị loại khỏi sân chơi trong việc tiếp cận thị trường và thu
hút khách quốc tế.

4
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đặc điểm, hiện trạng cạnh tranh lữ hành du
lịch quốc tế ở Việt Nam để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh lữ hành du
lịch quốc tế là điều cần thiết giúp cho ngành du lịch của Việt Nam phát triển lên một
tầm cao mới. Chính do vậy, tôi đã chọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch
quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp” làm
luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu:
2.1. Trên thế giới:
Thời gian gần đây, khá nhiều học giả nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh
tranh trong du lịch, kể cả năng lực cạnh tranh điểm đến và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp du lịch. Những công trình nghiên cứu nổi bật có thể kể tới như: “
Tourism, competitive and societal prosperity” (1999), “The competitive destination: a
sustainable tourism perspective” (2003) của G.I Crouch &J.R.Brent Ritchie; “Tourism,
Technology and Competitive Strategies” (1993) của Auliana Poon; “ Destination

các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành, tăng cường vị thế
của lữ hành du lịch quốc tế trên thị trường để thu hút khách quốc tế trong điều kiện hội
nhập quốc tế.
5. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu năng lực cạnh
tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam so với các nước là đối thủ
cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc trong việc thu hút khách quốc
tế Inbound, không nghiên cứu năng lực cạnh tranh đưa khách Việt Nam đi du lịch
nước ngoài (Outbound Tourism) và du lịch của người trong nước (Internal Tourism).
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ trương, chính sách về du lịch nói chung và lữ hành nói
riêng từ năm 1990, với nhấn mạnh chủ yếu từ năm 2000 đến nay và khảo sát, điều tra

6
thực trạng hoạt động lữ hành du lịch quốc tế và năng lực cạnh tranh thu hút khách quốc
tế của các doanh nghiệp lữ hành du lịch quốc tế được cấp phép trước 01/07/2009.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong nội dung nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra, phỏng vấn và thu thập thông tin; Phương pháp
phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống; Phương pháp thống kê; Phương pháp dự báo
và chuyên gia
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài này gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Lữ hành du lịch quốc tế và Năng lực cạnh tranh trong
lĩnh vực Lữ hành du lịch Quốc tế.
Chương 2: Thực trạng Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành du lịch quốc
tế của Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành du
lịch Quốc tế của Việt Nam.
coi du lịch là một sinh hoạt bao gồm mọi việc từ dự trù chuyến đi, di chuyển đến nơi,
lưu trú, trở về và hồi tưởng lại sau đó.
 Dưới góc độ những người kinh doanh du lịch thì Du lịch là tổng hợp những
mối quan hệ và những hiện tượng phát sinh trong những cuộc hành trình và lưu trú của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên, nếu việc lưu trú đó không trở thành nơi cư
trú (định nghĩa của Husicker và Kraff). Các nhà kinh doanh xem ngành du lịch là một
cơ hội để kiếm lợi nhuận bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho du
khách.
 Đối với Chính phủ tại địa bàn du lịch: các giới chức chính phủ xem du lịch
chủ yếu như một hoạt động kinh tế có thể đem lại thu nhập cho dân chúng, ngoại tệ cho
quốc gia và tiền thuế cho ngân sách.
 Dân chúng địa phương: thường xem du lịch là một cơ hội tạo việc làm và
giao lưu văn hoá. Một điều cần lưu tâm đó là hậu quả của sự giao tiếp giữa một số

8
lượng lớn khách du lịch quốc tế với người dân địa phương. Hậu quả này có thể có lợi,
nhưng cũng có thể gây nguy hại cho cả hai.
Trên cơ sở tổng quát, Tổ chức du lịch quốc tế (WTO – World Tourism
Organization) cũng đưa ra khái niệm cụ thể và chi tiết về du lịch nhằm làm cơ sở cho
việc thống kê đánh giá về du lịch quốc tế. Những khái niệm này được Liên hợp quốc
công nhận như sau:
 “Du khách quốc tế”: là người lưu trú ít nhất một đêm, nhưng không vượt quá
một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú; du khách có thể đến vì nhiều
lý do khác nhau nhưng không có lĩnh lương ở nơi đến.
 “Du khách trong nước”: là người đang sống trong một quốc gia, không kể
quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó, khác nơi thường trú, trong một
thời gian ít nhất 24 giờ và không vượt quá một năm với mục đích khác hơn là làm việc
để lĩnh lương ở nơi đến.
Ngoài ra các thuật ngữ sau cũng được Hội đồng Thống kê Liên hợp Quốc công
nhận ngày 14/03/1993 theo đề nghị của WTO để thống nhất việc soạn thống kê du lịch:

cho khách du lịch”.
Trong vấn đề nghiên cứu chúng ta phải hiểu lữ hành theo nghĩa rộng, chứ
không hẳn chỉ bó hẹp trong phạm vi thuần tuý lữ hành là việc kinh doanh chương trình
du lịch được, hơn nữa chúng ta cũng giới hạn việc nghiên cứu khách du lịch quốc tế
vào Việt Nam ( Inbound Tourism). Như vậy, lữ hành quốc tế bao gồm các hoạt động đi
lại và các hoạt động khác có liên quan tới chuyến đi của khách du lịch quốc tế vào Việt
Nam.
1.1.2. Vai trò của lữ hành du lịch quốc tế

10
Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra những chính sách hấp dẫn cũng như các
khoản đầu tư lớn nhằm thu hút và phát triển Du lịch theo hướng lâu dài bởi họ nhận
thấy những lợi thế mà nó đem lại. Vị trí của du lịch trong nền kinh tế quốc dân càng
được khẳng định. Xét về ý nghĩa kinh tế, đầu tư cho du lịch thu lại lợi nhuận nhiều và
thu hồi vốn nhanh. Du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” hay “ngòi nổ
để phát triển kinh tế” trong vấn đề thu hút ngoại tệ, doanh thu từ du lịch cao, tạo nhiều
công ăn việc làm v.v Du lịch là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao, có khả
năng thu hồi vốn nhanh và bảo toàn được vốn. Theo nghiên cứu của Tổ chức Du lịch
Thế giới (WTO) thì cứ 1 USD đầu tư vào công nghiệp đem lại 1,1 USD, nhưng 1 USD
đầu tư vào du lịch sẽ mang lại 1,4 USD. Khi lợi nhuận tăng, tất nhiên nó sẽ đóng góp
được nhiều hơn vào Ngân sách nhà nước cùng với nguồn ngoại tệ lớn góp phần cải
thiện cán cân thanh toán và phát triển nền kinh tế quốc dân. Và trong đó, đóng góp của
du lịch quốc tế thường chiếm khoảng ½.
Đổi mới và đẩy mạnh phát triển du lịch sẽ tạo ra động lực thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của đất nước, kéo theo phát triển nhiều ngành kinh tế như xây dựng,
giao thông vận tải, bưu điên, ngân hàng… Thực ra, khi du lịch phát triển hoặc khi
chúng ta có chính sách phát triển du lịch thì tất yếu dòi hỏi về xây dựng cơ sở hạ tầng
như đường xá, cầu cống, các điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng sẽ tăng lên. Một quốc
gia có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp hay có bề dày văn hoá với những di tích lịch sử
nổi tiếng, những kỳ quan nổi tiếng chắc chắn sẽ hấp dẫn khách du lịch nhưng quốc gia

sản phẩm du lịch đạt chất lượng, những loại hình du lịch phù hợp để khai thác có hệu
quả. Việc tìm hiểu về chúng, phát huy những thế mạnh của các sản phảm du lịch, loại
hình du lịch là điều hết súc cần thiết.
Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc
điểm giống nhau, hoặc vì chúng thoả mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự,

12
hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân
phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó.
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân thành các loại hình du
lịch khác nhau. Theo động cơ đi du lịch, thì du lịch có thể được chia thành 5 loại hình
du lịch như sau:
a. Du lịch nghỉ dưỡng.
Du lịch nghỉ dưỡng là loại hình du lịch mà khách đi du lịch do nhu cầu điều trị
các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ. Du lịch chữa bệnh được phân thành: chữa
bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển…; chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm
nước khoáng, uống nước khoáng…; chữa bệnh bằng bùn; Chữa bệnh bằng hoa quả …
b. Du lịch văn hoá.
Gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang
phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những
yếu tố văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với
khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới.
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương. Khách du lịch ở
các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những
chuyến du lịch nước ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức
là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương.
Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc
điểm của vùng miền. Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian
vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch làng nghề; Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội
dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là

dẫn trên bản đồ du lịch thế giới. Với 3/4 địa hình là đồi núi, với các hệ thống sông ngòi
chằng chịt, các dãy núi đá vôi của địa hình karst, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng

14
nguyên sinh nhiệt đới cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia rộng lớn,
với hơn 3.000 km bờ biển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú, những bức
tranh sinh động trải dài từ Bắc đến Nam là những điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển các loại hình du lịch mạo hiểm.
Địa hình nước ta rất thích hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm
như đi bộ (trekking), leo núi (hiking), đua ô tô, mô tô, xe đạp, lặn biển, bè mảng, đua
thuyền, lướt ván, nhảy dù, dù lượn, khinh khí cầu v.v… Trekking là loại hình du lịch
mạo hiểm phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Trekking thường được tổ chức theo hình
thức homestay tại gia đình của người dân bản địa. Chính vì thế mà du khách sẽ được
hưởng trọn vẹn cảm giác “về với thiên nhiên” với đầy đủ bản ngã văn hoá của mình.
e. Du lịch MICE.
MICE là loại hình du lịch rất nhiều nước đẩy mạnh phát triển, vì giá trị của loại
dịch vụ này lớn hơn rất nhiều so với du lịch cá nhân hay du lịch nhóm. Ngày
nay, MICE (Meetings, Incentives, Conventions, Events) được xem là sản phẩm du lịch
tổng hợp của những sản phẩm du lịch đơn lẻ kết hợp.
 Các cuộc họp (Mettings): Các cuộc hội họp được chia làm hai lọai: Cuộc hội
họp giữa các công ty với nhau (Association meetings) và cuộc họp giữa các thành viên
trong một công ty (Coporate meetings).
 Các tour du lịch khen thưởng (Incentives) về bản chất Incentives được xem
như những cuộc họp nhưng mục đích của nó thì khác so với meetings, Incentive
thường được tổ chức: nhằm tập hợp những lực lượng bán hàng mạnh nhất để thảo luận
những chiến lược trong tương lai; liên kết các nhà quản lý cấp cao với các lực lượng
hàng đầu trong bán hàng; tuyên dương nhân viên nhân viên xuất sắc; khen thưởng các
đại lý bán hàng vượt chỉ tiêu….
 Các cuộc hội thảo (Conferences/ Conventions) hình thức hội nhập này cú quy
mô lớn hơn so với meetings hay incentives. Các cuộc hội họp này được tổ chức bởi

Trung Quốc đứng thứ 4 về lượng khách đến, Italia, đứng thứ 5 về lượng khách đến
Anh và Đức đứng thứ 6 và thứ 7, Áo đứng thứ 9, Mexico và Liên bang Nga đứng thứ
10 về lượng khách đến, Về lượng khách quốc tế, có thay đổi trong danh sách 10 nước
đứng đầu năm 2006, Đức thay thế Mexico ở vị trí thứ 7, Áo và Liên bang Nga tăng

16
thêm một bậc, lên vị trí thứ 9 và 10. Ngược lại, Thổ Nhĩ Kỳ đứng ở vị trí thứ 9 năm
2005, đã tụt 2 bậc. Mười nước thu nhập hàng đầu năm 2006 chiếm 51% tổng số thu
nhập, ước tính 735 tỷ đô la Mỹ, lượng khách du lịch của các nước này có sụt giảm chút
ít, chiếm 47% tổng lượng khách toàn cầu.
c. Du lịch ra nước ngoài.
Đối với các thị trường nguồn, du lịch quốc tế vẫn khá là tập trung ở các nước
công nghiệp của Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, với các
mức độ gia tăng của thu nhập thuần, nhiều nước đang phát triển đã cho thấy sự tăng
trưởng nhanh trong những thập kỷ qua, đặc biệt ở Đông Bắc và Đông Nam Châu Á,
Trung và Tây Âu, Trung Đông và Nam Phi.
d. Tình hình du lịch Châu Á và Thái Bình Dương
Châu Á và Thái Bình Dương tăng trưởng mạnh trong năm 2006, với mức tăng
trưởng bình quân 9,4%. Nam Á và Đông Á tăng 11,6%. Khu vực thành công nhất là
Nam Á, tăng 13,9%. Trong khi đó , lượng khách đến Indonesia giảm 6%, Thái Lan –
tuy có nhiều biến cố chính trị xẩy ra nhưng các thông số theo tháng vẫn tăng 20%.
Nam Á tăng 13,9% trong năm 2006. Ở Châu Đại Dương, khách đến Úc tăng hơn 5,2%
trong năm 2005, và một số đảo Thái Bình Dương đạt được mức tăng trưởng bình
thường, bao gồm các đảo Cook và Guam, đều tăng +6%. Nhưng điểm đến nhiều nhất
là Papua New Guinea (+17%) và Fiji (+10%).
e. Triển vọng du lịch năm 2020 (Tourism 2020 Vision)
Đây là kế hoạch dự báo và đánh giá dài hạn của Tổ chức Du lịch Thế giới về sự
phát triển du lịch trong vòng 20 năm của thiên niên kỷ mới. Mục đích chính của Triển
vọng Du lịch Năm 2020 là những dự báo trong thời gian 25 năm, năm 1995 là năm
khởi điểm và những dự báo cho năm 2010, 2020.

77.3
5.5
3.6
6.0
Châu Mỹ
190.4
282.3
3.9
19.3
18.1
Đông Á & TBD
195.2
397.2
6.5
14.4
25.4
Châu Âu
527.3
717.0
3.0
59.8
45.9
Trung Đông
35.9
68.5
7.1
2.2
4.4
Nam Á
10.6

18
f. Xu hướng phát triển du lịch
Kinh tế dịch vụ du lịch vừa mỗi nước phát triển gắn liền với xu thế vận động
của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Hiện nay đang diễn ra những xu
hướng phát triển dịch vụ du lịch như sau:
 Xu hướng thứ nhất: Là sự chuyển hướng đi của nguồn khách du lịch. Trước
đây khách du lịch Châu Âu thường đi nghỉ ở các nước láng giềng hoặc ở những vùng
du lịch nổi tiếng thế giới như Địa Trung Hải, Biển Đen, Hawai, vùng Caribe hoặc trượt
tuyết trên dãy Alpes; khách Châu Á cũng chỉ đi du lịch các nước trong khu vực thì nay
nguồn khách được phân đến những vùng, những nước mới phát triển du lịch để tìm
hiểu và phát hiện những điều mới mẻ, bất ngờ và lý thú.
 Xu hướng thứ hai: Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch thay đổi. Những năm
trước đây, tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ cơ bản (ăn, ở, vận chuyển) lớn
thì hiện nay tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ bổ xung (mua sắm hàng hoá,
thăm quan, giải trí) tăng lên. Các nhà kinh tế đã tổng kết: Nếu trước đây tỷ trọng này là
7/3 thì nay là 3/7, có nghĩa là trước đây khách hàng giành 7 phần cho ăn ở, đi lại và 3
phần cho mua sắm hàng hoá, tham quan, giải trí, nhưng ngày nay thì ngược lại.
 Xu hướng thứ ba: Khách du lịch chỉ sử dụng 1 phần dịch vụ của các tổ chức
kinh doanh du lịch chứ không mua chương trình du lịch trọn gói vì theo hướng này,
khách hoàn toàn được tự do trong chuyến đi du lịch của mình mà không bị phụ thuộc
vào người khác và không bao trả phí dịch vụ cho các tổ chức du lịch.
 Xu hướng thứ tư: Hiện nay các nước đang tiến hành giảm thiểu các thủ tục về
thị thực hải quan nhằm cạnh tranh, thu hút khách. Như vậy khách du lịch sẽ không phải
mất nhiều thời gian chờ đợi thủ tục, giảm được chi phí không đáng có.
1.1.5. Những cơ hội và thách thức của lữ hành du lịch quốc tế khi hội nhập
Ngày 10/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại thế giới. Sự kiện này cùng với việc Việt Nam trở thành Uỷ viên không thường trực

19
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến các lĩnh

khăn, thách thức. Ba thách thức lớn mà Du lịch Việt Nam phải vượt qua là:
Tư duy kinh doanh: Tư duy trong kinh doanh du lịch vẫn mang đậm dấu ấn của
tư duy tiểu nông, bao cấp.
Tổ chức kinh doanh: Việt Nam đang kinh doanh du lịch theo kiểu “mạnh ai nấy
làm”, tức là được tổ chức một cách tự phát. Vì thế, sự hình thành, phát triển của các
doanh nghiệp du lịch hầu hết mang tính tự nhiên. Nhà nước chủ yếu “đi sau” chứ chưa
thật sự là người dẫn dắt, mở đường cho doanh nghiệp.
Hoạt động điều hành của Chính phủ và ngành Du lịch: Việt Nam là nước đi
sau, tiềm lực và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực (trong đó có kinh doanh du lịch) rất
hạn chế. Nếu để tự phát, ít có khả năng doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh được với
doanh nghiệp nước ngoài. Chúng ta bị lép vế và phải chịu thua thiệt là điều khó tránh
khỏi.
Những phân tích trên cho thấy, Việt Nam trở thành thành viên WTO đã đem
lại những cơ hội và thách thức cho phát triển Du lịch Việt Nam đều rất lớn. Tuy nhiên,
cơ hội chỉ là tiền đề, vấn đề là ở chỗ chúng ta cần phải làm gì để tận dụng được những
cơ hội đó. Đồng thời, vượt qua những thách thức trên đây cũng không dễ dàng. Nếu
không vượt qua được thách thức thì cơ hội cũng trở thành vô nghĩa. Rõ ràng là, những
nỗ lực chủ quan của toàn Đảng, toàn dân, của ngành Du lịch, đặc biệt của các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của Du
lịch Việt Nam trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới.
1.2. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh (NLCT) trong lữ hành du lịch quốc tế.
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh, nói chung, là sự phấn đấu vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí
hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa

21
học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng xuất và hiệu
quả cao nhất.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ
không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của muôn loài.

 Năng lực cạnh tranh cấp ngành: khả năng ngành đó nâng cao vị thế của mình
so với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo được công ăn việc làm và
nâng cao thu nhập.Yếu tố quyết định tới NLCT của ngành là NLCT quốc gia, môi
trường kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh, chất lượng của các doanh nghiệp trong
ngành, tiềm lực vốn có của ngành đó, lợi thế cạnh tranh, hiệu suất hoạt động, nguồn
nhân lực phục vụ v.v…
 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: khả năng doanh nghiệp tạo ra được
lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng xuất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh
tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ: khả năng sản phẩm đó tiêu thụ
được nhanh chóng khi có nhiều người cùng tham gia bán loại sản phẩm đó trên cùng
một thị trường. Hay nói cách khác NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản
phẩm đó.
b. Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế
 Khái niệm: Năng lực cạnh tranh (NLCT) trong lĩnh vực lữ hành du lịch thuộc
cấp độ cạnh tranh ngành, là khả năng của các doanh nghiệp, ngành Du lịch và Chính
phủ trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Một ngành có năng lực cạnh tranh nếu ngành đó có năng lực duy trì được lợi nhuận,
nâng cao thu nhập, gia tăng thị phần của mình trên thị trường trong và ngoài nước.
Đối với lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế, NLCT chính là NLCT điểm đến du lịch của du

23
khách quốc tế. Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch là khả năng của một điểm đến
phân phối hàng hoá và dịch vụ du lịch tốt hơn các điểm đến khác.
 Các nhân tố ảnh hưởng tới Năng lực cạnh tranh trong lữ hành du lịch
quốc tế. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới NLCT trong lữ hành du lịch quốc tế: Yếu tố
địa lý; yếu tố nhân chủng - xã hội; thị hiếu của cầu du lịch; ảnh hưởng của thoả mãn
khách du lịch; vấn đề tuyên truyền, quảng bá markeing; tiếp cận thị trường du lịch;
giá cả và chi phí; tỷ giá; sử dụng công nghệ thông tin; an toàn, an ninh và rủi ro; phân
biệt sản phẩm (định vị); chất lượng cở sở vật chất - hạ tầng phục vụ cho du lịch; chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status