ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
ĐẶNG VĂN PHẨM LUẬN VĂN THẠC SỸ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THUỶ SẢN
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG THUỶ SẢN
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 5.02.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS. Khu Thị Tuyết Mai
Khoa Kinh tế, ĐHQG Hà Nội Hà Nội - 2006
3
1
4
4
4
7
10
17
18
18
19
20
21
21
22
33
33
33
37
50 4
2.2.1. Phân tích năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản theo các tiêu
chí
2.2.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản theo mô hình
64
68
72 72
72
74
76
78
80
81
86
86
87
89
91
92
93
94
95
5
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
mặt hàng xuất khẩu càng trở thành vấn đề cấp thiết cho mọi quốc gia khi muốn
giành được thị phần trên thị trường thế giới.
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, ở Việt Nam, giai đoạn đầu của
quá trình công nghiệp hoá, ngành nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong phát triển kinh tế nói chung và trong hoạt động xuất khẩu góp phần tăng
nguồn ngoại tệ nói riêng. Các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chiếm kim ngạch rất
lớn. Ngành thuỷ sản của Việt Nam là ngành có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế
quốc dân, nó không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao
động, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chỉ tính riêng mặt hàng thuỷ sản hàng
năm xuất khẩu đạt trên 2 tỉ USD chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặt
hàng thủy sản xuất khẩu năm 2005 ước đạt 2,8 tỉ USD chỉ đứng sau dầu thô và hàng
dệt may và được đứng trong câu lạc bộ những sản phẩm xuất khẩu trên 1 tỉ USD.
Lợi thế cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam khá cao, được xếp vào danh
sách những mặt hàng có khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Tuy nhiên trong bối
cảnh toàn cầu hoá thương mại thì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Bởi vậy,
việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu là rất
cấp thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, qua một thời gian tìm hiểu tôi chọn đề tài cho
luận văn tốt nghiệp của mình là: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ
sản xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ” 7
2. Tình hình nghiên cứu:
Trong nước hiện nay có một số công trình nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực
thuỷ sản như: Hồ sơ mặt hàng thuỷ sản - Viện Nghiên cứu Thương mại; Triển vọng
xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản-Đề tài khoa học cấp Bộ,
năm 2003 - Viện Nghiên cứu Thương mại; Báo cáo nghiên cứu nhóm hàng thuỷ sản
năm 2004 - Viện Nghiên cứu Thương mại; Đề tài cấp nhà nước “Một số giải pháp
nhằm phát triển xuất khẩu mặt hàng nông lâm thuỷ sản đến năm 2010”-Viện
Nghiên cứu Thương mại; Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công nghệ Marketing xuất
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp so sánh; đặc biệt đã sử dụng một số phương pháp phân tích
theo mô hình như phương pháp SWOT, mô hình kim cương của Micheal Porter .
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
- Làm rõ năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam qua
các tiêu chí và mô hình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ
sản xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn:
Luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
sản phẩm
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu
của Việt Nam
9
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng
thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA SẢN PHẨM
1.1. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong
kinh tế, hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của
nền sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, ở giai đoạn phát triển ban đầu của nền sản xuất
hàng hoá, cạnh tranh chưa được nhận biết và xem xét một cách đầy đủ ở mọi khía
qua quảng cáo, ). Cạnh tranh mang tính độc quyền, theo nghĩa rộng, là cạnh tranh
giữa nhiều đơn vị cung với những hàng hoá khác biệt cạnh tranh lẫn nhau trên thị
trường.
Nhà kinh tế học Mỹ John Maurise Clack vào đầu những năm 40 của thế kỷ
20 đã đưa ra luận điểm: những nhân tố không hoàn hảo trên thị trường có thể được
sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác. Chẳng hạn, tính không hoàn
hảo do có ít người cung ứng trên thị trường (hình thái thị trường độc quyền nhóm)
sẽ được cải thiện phần nào nhờ nhân tố không hoàn hảo khác như thiếu sự tường
minh của thị trường và tính tạp chủng của hàng hoá. Clack đã tiếp thu luận điểm
của Schumpeter - cạnh tranh phải bằng sản phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng
nguồn cung ứng mới và bằng hình thức tổ chức mới - để xây dựng lý thuyết cạnh
tranh hiệu quả. Theo đó, siêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp tiên phong đạt được
trên cơ sở lợi thế nhất thời vừa là hệ quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh. Lợi nhuận
này không nên xoá bỏ ngay lập tức mà chỉ nên giảm dần để doanh nghiệp có thể có
điều kiện thời gian tạo ra một sự đổi mới, cải tiến khác.
Nhìn chung, sự phát triển của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là sự phát
triển của một quá trình. Quá trình đó gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh
tế thị trường. Sự phát triển các lý thuyết về cạnh tranh thể hiện quá trình nhận thức
về cạnh tranh theo sự phát triển của các hình thái thị trường. Những nghiên cứu về
cạnh tranh đều cho thấy, mặc dù, cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và
thiệt hại cho người khác, nhưng rõ ràng xét dưới góc độ hiệu quả, quá trình cạnh
11
tranh mang lại tổng số lợi ích luôn lớn hơn tổng số thiệt hại. Vì vậy, có thể nói rằng,
cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền
kinh tế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường. Trong nền
kinh tế thị trường, quá trình cạnh tranh cũng luôn được thúc đẩy phát triển bởi các
đối tượng tham gia cạnh tranh trên thị trường luôn tìm cách nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ khác nhằm đạt được vị thế cao hơn trên
thị trường.
Một quốc gia hay một nền kinh tế có sức cạnh tranh tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp
tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Nói cách khác,
năng lực cạnh tranh quốc gia là một nguồn hình thành năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, nó sẽ góp phần vào
việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó nó
góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
1.1.2. Phân loại năng lực cạnh tranh theo cấp độ
1.1.2.1. Khái niệm sức cạnh tranh xét từ phạm vi quốc gia
Khái niệm về sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, theo nghĩa rộng nhất, sức mạnh
thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô. Có nhiều khái niệm khác nhau về sức cạnh
tranh của một quốc gia. Có những khái niệm cho rằng, sức cạnh tranh của một quốc
gia là khả năng đạt được và duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở
các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác (Diễn đàn
kinh tế thế giới - WEF, 1997). Mặc dù khái niệm về sức cạnh tranh dựa trên tốc độ
tăng trưởng kinh tế của quốc gia khá đơn giản, nhưng nó chỉ nói lên được khía cạnh
tiền tệ của nền kinh tế mà không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia
tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ, những vấn đề
được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của một quốc gia.
Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết
quả của cạnh tranh.
13
Porter M. (1985 & 1989) cho rằng "khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực
cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động". Mở rộng khái niệm này thì tính
cạnh tranh ở cấp quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế so sánh. Ngay như trong
lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khả năng cạnh tranh hơn các
quốc gia khác bởi sự trội hơn về một hay một vài thuộc tính. Ông cho rằng, khả
năng cạnh tranh của một nước là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau,
có tác động qua lại và bổ xung cho nhau. Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho
các công ty, giữ vai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế
khả năng hạ thấp chi phí và do đó, nhà sản xuất này có hiệu quả cao hơn và
có khả năng vững chắc để chống lại sự giảm giá trên thị trường do biến động
của các yếu tố thị trường hoặc do cạnh tranh.
Ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về mức độ khác biệt hoá) là ưu thế dựa
vào chất lượng khác biệt của sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra so với các sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh. Chất lượng khác biệt của sản phẩm phụ thuộc
vào năng lực marketing của nhà sản xuất
2
. Chất lượng khác biệt của sản
phẩm tạo nên "giá trị cho người mua" thể hiện qua việc giảm chi phí sử dụng
sản phẩm hay tính tuyệt hảo khi sử dụng sản phẩm. Ưu thế cạnh tranh bên
ngoài tạo cho nhà sản xuất "quyền lực thị trường"
3
ngày càng tăng.
Micheal Porter (1982) đã đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó, cạnh
tranh trong một ngành công nghiệp phụ thuộc vào 5 lực lượng: các đối thủ tiềm
năng, sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng, những đối thủ cạnh tranh
trong ngành. Trong đó, 4 lực lượng đầu được xem là các lực lượng cạnh tranh bên 2
Marketing được hiểu là một chuỗi các hoạt động của nhà sản xuất từ việc hình thành ý
đồ thiết kế mẫu sản phẩm, sản xuất sản phẩm đến việc tiêu thụ chúng, bao gồm: các hoạt
động cơ bản xung quanh trục cung ứng - sản xuất - tiêu thụ và các hoạt động hỗ trợ như
hoạt động quản lý chung, tài chính, kế toán, pháp luật, quản lý nhân sự, nghiên cứu và phát
triển, mua nguyên liệu vật tư.
3
Quyền lực thị trường được hiểu theo nghĩa nhà sản xuất có khả năng bắt thị trường phái
chấp nhận giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh chính - những nhà sản xuất không nắm
giữ một chất lượng khác biệt như vậy.
Trong đó :
j i
X
: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm i của nước thứ j
16
X
j
: Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước j. X
j
=
n
i
ij
X
W
i
: Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm i của thế giới. W
i
=
j
ij
X
W : Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. W=
phẩm.
g là giá tiêu dùng của sản phẩm, bao gồm chi phí mua sắm và chi
phí sử dụng sản phẩm.
Bằng cách cho điểm đối với các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm và giá tiêu
dùng của sản phẩm sẽ xác định được khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó. Cách
cho điểm được lựa chọn sao cho hệ số K 1. Thang điểm phân cấp khả năng cạnh
tranh của sản phẩm được tính như sau:
K = 1 - 0,99 : sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao
K = 0,98 - 0,95 : sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt.
K = 0,94 - 0,90 : sản phẩm có khả năng cạnh tranh trung bình.
K = 0,89 - 0,70: sản phẩm có khả năng cạnh tranh thấp.
K = 0,69 - 0,10 : sản phẩm có khả năng cạnh tranh rất thấp.
Như vậy, bằng cách xác định hệ số K cho từng sản phẩm của các nhà sản
xuất khác nhau, người ta có thể so sánh được khả năng cạnh tranh của sản phẩm của
các nhà sản xuất trên cơ sở thang điểm mà sản phẩm đó đã nhận được.
Trong trường hợp cần xác định sức cạnh tranh của một sản phẩm mới, sắp
đưa ra thị trường cạnh tranh với các sản phẩm tương tự, trước hết các chuyên gia sẽ
cho điểm để xác định hệ số K của sản phẩm mới, sau đó sẽ lựa chọn sản phẩm
tương tự cần so sánh. Các sản phẩm tương tự được lựa chọn để so sánh là những
sản phẩm có hệ số K bằng 0,98 - 0,95 hoặc bằng 0,94 - 0,90. Như vậy, nếu gọi khả
năng cạnh tranh của sản phẩm mới là Km và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
tương tự được so sánh là Ktt, khi đó sẽ xác định hệ số so sánh giữa hai sản phẩm
này.
Km
18
S =
Ktt Nếu S 1: sản phẩm mới có khả năng
cạnh tranh tốt và có thể đưa ra thị trường .
Nếu S < 1: sản phẩm mới ít có khả năng cạnh tranh và cần được tiếp tục
trong thương mại quốc tế. Bởi vì, trong thương mại quốc tế, giá cả hàng hoá chịu sự
tác động khá lớn của chính sách thương mại và tỷ giá hối đoái, nhưng cách tiếp cận
của phương pháp không cho phép tách bạch được những ảnh hưởng này. Do đó,
mục tiêu của các nhà phân tích là tìm ra khả năng, nhất là trong các cuộc thương
lượng mậu dịch nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế
có thể không thực hiện được.
1.1.3.3. Chỉ số lợi thế so sánh dựa trên chi phí đầu vào (RFC)
Cơ sở để xác định lợi thế so sánh hay lợi thế cạnh tranh theo tiêu chí này là
các chi phí đầu vào của sản xuất. Các chi phí đầu vào của sản xuất, bao gồm các
đầu vào trong nước có và các đầu vào được nhập khẩu, các đầu vào có thể thay thế
và các đầu vào không thể thay thế. Các chi phí đầu vào có liên quan đến thuế nhập
khẩu, lãi suất, các khoản trợ cấp, nâng đỡ đối với các ngành hay khu vực kinh
tế, do các chính sách thương mại và công nghiệp của Chính phủ mang lại. Các
chính sách thương mại và công nghiệp cũng có thể có lợi cho các ngành sản xuất và
tạo nên một lợi thế so sánh. Thông thường, sự vận hành tự nhiên của thị trường tạo
nên qúa trình chuyên môn hoá của các xí nghiệp, ngành công nghiệp tuỳ theo lợi thế
so sánh của các xí nghiệp, ngành công nghiệp đó. Những lợi thế so sánh của một xí
nghiệp hay ngành công nghiệp do chính sách thương mại và công nghiệp tạo nên có
thể cùng chiều hoặc ngược chiều với qúa trình chuyên môn hoá của các xí nghiệp
do sự vận hành tự nhiên của thị trường tạo nên. Mặt khác, chắc chắn rằng, những
tác động của các chính sách thương mại và công nghiệp đối với các xí nghiệp, các
ngành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế thông qua những bóp méo giá cả nhằm
bảo hộ, trợ cấp, nâng đỡ cho các ngành hay các khu vực của nền kinh tế mỗi nước
sẽ tạo nên sự sai lệch về chi phí sản xuất và do đó làm thay đổi khả năng cạnh tranh
của các xí nghiệp sản xuất trong thương mại quốc tế. Như vậy, các chính sách
thương mại và công nghiệp đều tác động đến lợi thế so sánh (theo nghĩa làm sai
20
lệch quá trình chuyên môn hoá) và lợi thế cạnh tranh của các xí nghiệp, các ngành
công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Ki trị giá vốn của sản phẩm i tính theo giá quốc tế
Mặc dù, phương pháp tính chỉ số cạnh tranh của dựa vào khả năng sinh lời
vốn về mặt tài chính của nhóm nghiên cứu này có độ tin cậy cao hơn và phù hợp
với yêu cầu đánh giá sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế của các nhà sản xuất
ở các nước khác nhau. Tuy nhiên, đây là phương pháp tính toán công phu, đòi hỏi
nhiều thông tin đầu vào. Hơn nữa, khả năng phân tích chỉ số cạnh tranh một cách
minh bạch theo các yếu ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm bị hạn chế.
1.1.3.4. Chỉ số cạnh tranh quốc tế từ chi phí đơn vị
Trong rất nhiều yếu tố tạo thành sức cạnh tranh của sản phẩm có hai yếu tố
cơ bản nhất là giá cả hoặc chi phí và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, yếu tố chi phí
hoặc giá cả có ý nghĩa quan trọng hơn khi xác định sức cạnh tranh sản phẩm trong
thương mại quốc tế. Bởi vì, một mặt, yếu tố chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu
vào công nghệ được áp dụng và hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm. Ngày nay,
với những thành tựu khoa học đã đạt được, yếu tố chất lượng đang ngày càng phụ
thuộc nhiều hơn vào các yếu tố công nghệ. Mặt khác, các yếu tố công nghệ cao hay
các hoạt động quản lý chất lượng có hiệu quả tốt cũng được thể hiện một phần
thông qua chi phí của nhà sản xuất, như đầu tư nâng cấp công nghệ, chi phí nghiên
cứu thị trường, nghiên cứu cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, 4
Phương pháp Balassa đơn giản: Giá trị gia tăng bằng giá nội địa trừ đi chi phí đơn vị của các yếu tố đầu vào
trung gian có thể trao đổi được, trừ đi chi phí đơn vị của các yếu tố đầu vào trung gian không thể trao đổi
được. Như vậy, giá trị gia tăng chính là khoản lợi thu được đối với các yếu tố cơ bản được tham gia trực tiếp
vào sản xuất.
22
Thông thường, xác định sức cạnh tranh trên cơ sở giá bán có tính khả thi
hơn, do các số liệu dễ tập hợp, nhưng lại không có ý nghĩa bằng việc xác định trên
cơ sở chi phí. Bởi vì, giá bán có thể bao gồm cả yếu tố độc quyền và bảo hộ trong
bản của lợi thế cạnh tranh. Hơn nữa, các chỉ số chi phí còn cho phép xác định được
những ngành, công ty nào có đóng góp tích cực cho nền kinh tế xét về phúc lợi xã
hội.
Từ cách tiếp cận khác, trong thương mại quốc tế, khi nói đến sức cạnh tranh
hay lợi thế cạnh tranh nghĩa là so sánh các đặc điểm (chi phí, hoặc giá cả, hoặc các
chỉ số công nghệ) của một nhà sản xuất ở một nước xác định so với các nhà sản
xuất ở các nước khác. Hơn nữa, các đặc điểm của nhà sản xuất được thể hiện ra bên
ngoài thông qua sản phẩm được nhà sản xuất thực hiện và đưa ra thị trường. Vì vậy,
các yếu tố xác định sức cạnh tranh của ngành/công ty hay quốc gia được kết tinh lại
trong sản phẩm, khi sản phẩm đó được đặt trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Nói
cách khác, sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế là kết quả tổng
hoà của sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia. Bởi vì, sản phẩm hàng
hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng (bao hàm cả
các chỉ tiêu chất lương) là do doanh nghiệp sáng tạo ra. Giá trị là kết tinh của lao
động quá khứ và thực tại được thể hiện thông qua các chi phí của các yếu tố đầu
vào của sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất. Các yếu tố đầu vào của sản xuất có
thể được cung ứng trong nước hoặc được nhập khẩu và giá cả của nó đã bao hàm
tác động của thị trường và của Chính phủ. Đồng thời, giá trị sản phẩm được thực
hiện thông qua thị trường và thể hiện bằng giá cả - giá bán sản phẩm không chỉ
được hình thành do cạnh tranh mà còn do các tác động của Chính phủ.
Như vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm trong thương
mại quốc tế bao hàm các yếu tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngành công nghiệp đến
phạm vi quốc gia. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh sản phẩm
trong thương mại quốc tế có thể được tập hợp thành 4 nhóm cơ bản sau:
Các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh
24
Các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước
Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp
1.2.3. Nhóm các yếu tố thuộc về môi trƣờng kinh tế của doanh nghiệp
Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệp bao gồm
những yếu tố như: các chính sách thương mại; môi trường đầu tư; chế độ tài chính;
cơ cấu doanh nghiệp và tính ganh đua; năng lực sản xuất công nghiệp. Cụ thể:
Chính sách thương mại của mỗi quốc gia vẫn luôn được sử dụng gây nên
những tác động trái ngược nhau đến thương mại quốc tế. Đối với nhập
khẩu, các nước thường áp dụng các chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm
làm giảm bớt hoặc chống lại lợi thế của các hàng hoá nhập khẩu so với
hàng hoá sản xuất trong nước. Đối với xuất khẩu, các nước thường áp
dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm làm tăng thêm lợi thế
của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường thế giới, giúp các nhà sản xuất
trong nước phát triển nhanh thị trường tiêu thụ ngoài nước đến khi đạt
được lợi thế nhờ qui mô.
Môi trường đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận các
nguồn vốn của các doanh nghiệp; các thủ tục, qui chế và hiệu lực trong
việc thực hiện vay vốn của các doanh nghiệp; khả năng phát triển của các
nguồn vốn dài hạn
Chế độ tài chính: thực trạng và hoạt động của thị trường tài chính là một
trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh chung của một nước.
Bởi vì, tăng trưởng kinh tế nhanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của