Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động của các
Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.”
Phạm Bích Ngọc
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
3
LỜI CAM KẾT
Luận văn với đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế” là một đề tài do tác giả thực hiện độc lập thông qua việc tham
khảo các sách bảo, các tạp chí liên quan cũng như sự hướng dẫn chỉ bảo của
các thầy cô giáo, cùng toàn thể cán bộ ở Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam. Tác
giả xin cam đoan, toàn bộ nội dung của đê tài không sao chép ở bất kỳ tài liệu
nào. Nếu sai với lời cam đoan trên, tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà nội, ngày 9 tháng 6 năm 2008
Sinh viên Phạm Bích Ngọc
1.2.1 Sự ra đời của Hội doanh nghiệp 15
1.2.2 Sự cần thiết phải phát huy vai trò của Hội, Hiệp hội trong điều kiện hội
nhập Kinh tế quốc tế 16
1.2.3 Các yếu tổ ảnh hưởng tới việc thành lập Hội, Hiệp hội doanh nghiệp ở Việt
Nam 17
1.2.4 Chức năng hoạt động của Hội doanh nghiệp 18
1.2.5 Nhiệm vụ của các Hiệp hội doanh nghiệp 19
1.2.6 Cơ cấu tổ chức chung của các Hiệp hội 20
1.3 Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp và Hiệp hội
doanh nghiệp. 22
1.3.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp 22
1.3.2 Quan điểm của Đảng về phát triển các Hiệp hội doanh nghiệp 24
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
5
1.4 Bài học kinh nghiệm về nâng cao khả năng hoạt động của các Hội doanh
nghiệp của các nước trên thế giới. 24
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển của một số Hội doanh nghiệp trên thế
giới 25
1.4.2 Bài học về công tác của các Hội doanh nghiệp đối với Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP HỘI
DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA 32
2.1 Trước khi gia nhập WTO 32
2.1.1 Tình hình chung 24
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 67
3.3.1.Giải pháp về phía nhà nước 67
3.3.2 Giải pháp về phía Hiệp hội 70
3.3.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp 75
KẾT LUẬN 79
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1 XHCN
Xã hội chủ nghĩa
2 KHCN
Khoa học công nghệ
3 DN
Doanh nghiệp
4 CLB
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Hội Doanh nghiệp trẻ Nhật Bản 19
Hình 2.1 Tổ chức của các Hiệp hội doanh nghiệp địa phương. 29
Hình 2.2 Mức độ ứng dụng Công nghệ thông tin của các Hiệp hội địa
phương 30
Hình 2.3: Các lý do gia nhập Hiệp hội doanh nghiệp 32
Hình 2.4 Những nguồn thu chính của Hiệp hội 33
Hình 2.5 Tần suất các hoạt động của các Hiệp hội 35
Hình 2.6 Sự khác biệt giữa các Hiệp hội đới với các hoạt động chính. 36
Hình 2.7 Thách thức trong tương lai đối với các Hiệp hội 50
Hình 2.8 Các thách thức trong tương lai đối với các thành viên của Hiệp
hội 51 Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
9
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới nền kinh tế đất nước, số lượng doanh
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
10
hợp, bồi dưỡng nghiệp vụ, giáo dục, định hướng tư tưởng cho đội ngũ các nhà
doanh nghiệp là nhiệm vụ của tổ chức Hội, Hiệp hội và cũng là vấn đề cấp bách,
quan trọng để đảm bảo năng lực cạnh tranh, sự phát triển ổn định và đúng định
hướng XHCN của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp
chưa thực sự cao. Theo đánh giá của Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan thì: “Nhìn
chung, các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam đều nỗ lực rất lớn phấn đấu thực hiện
vai trò chủ chốt của mình, đại diện bảo vệ cho quyền lợi hội viên, kể cả các quan hệ
trong nước cũng như các quan hệ kinh doanh quốc tế. Nhưng thực tế hiện nay cho
thấy, năng lực các Hiệp hội còn khác nhau, điều kiện của các hiệp hội cũng khác
nhà và vai trò, đóng góp của các hiệp hội cũng chênh lêch nhau đáng kể”. Mặt khác,
sau khi Việt Nam là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội mới, cũng
như thách thức mới trong việc phát triển kinh tế nói chung. Điều này đòi hỏi, mối
liên hệ giữa doanh nghiệp và Hiệp hội càng cao. Trước thực tiễn đó, việc triển khai
nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các
Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là cần
thiết và cấp bách.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình giới doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay, mô hình tổ chức hoạt động của một số hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài và hoạt
động của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp, biện pháp,
định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam
phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu hiện nay của đất nước.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động của
Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam và kinh nghiệm hoạt động của một số hiệp hội
trên thế giới.
- Chương 1: Những cơ sở lý luận và nội dung chủ yếu về doanh nghiệp và
hoạt động của doanh nghiệp trong Hiệp hội.
- Chương 2: Thực trạng quá trình hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
12
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội
doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập.
Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của đề tài là rất mới mẻ, thời gian
nghiên cứu có hạn nên trong một số khía cạnh trình bày của sẽ không tránh khỏi
thiếu sót. Em rất mong những ý kiến đánh giá, phê bình quý báu của thầy cô và các
bạn để bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn.
khoảng 100.000, trong khi các tổ chức kinh tế qui mô nhỏ như tổ, nhóm, hộ kinh
doanh cá thể là hơn 2,5 triệu đơn vị. Các cơ sở kinh tế này tuy nhỏ về qui mô,
nhưng cũng thực hiện đầy đủ các công đoạn của hoạt động kinh doanh, có Giấy
đăng ký kinh doanh do chính quyền cấp và cũng nộp thuế kinh doanh theo qui định
của Nhà nước. Trong "Báo cáo định hướng chiến lược và chính sách phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2010" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
thì các cơ sở kinh tế nói trên được định nghĩa thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và
nhỏ, tức cũng là các doanh nghiệp.
Khái niệm doanh nghiệp được định nghĩa theo Giáo trình Kinh tế vi mô –
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2007 là: “Doanh nghiệp là các đơn
vị kinh tế cơ sở có chức năng sản xuất - kinh doanh hàng hoá, dịch vụ một cách hợp
pháp theo nhu cầu của thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế -
xã hội tối đa”. Theo định nghĩa này, về mặt lý thuyết, doanh nghiệp bao hàm tất cả
các cơ sở sản xuất - kinh doanh từ các tập đoàn kinh tế lớn đến các hộ gia đình kinh
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
14
doanh cá thể. Nhưng trong thực tế quản lý ở nước ta hiện nay, pháp luật mới chỉ coi
là doanh nghiệp các tổ chức kinh tế đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh
nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật đầu tư nước ngoài.Hộ gia đình và kinh
doanh cá thể chưa được coi là doanh nghiệp.
Khái niệm "doanh nghiệp" sử dụng trong chuyên đề được hiểu theo nghĩa
như sau: "doanh nghiệp" là các cơ sở kinh tế có đăng ký kinh doanh và thực hiện
các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật.
1.1.3 Nhà doanh nghiệp
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt khái niệm nhà doanh nghiệp vẫn chưa được
định nghĩa. Trong Giáo trình Quản lý kinh tế có đưa ra khái niệm "cán bộ quản lý
sản xuất - kinh doanh": đó là những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh
nghiệp với chế độ tự chủ hạch toán kinh doanh nhằm mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã
hội cao nhất. Trong thực tế, nhà doanh nghiệp thường được hiểu là những người giữ
vị trí lãnh đạo đang trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp được
thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật.
1.2 Một số nhận thức chung về Hội doanh nghiệp
1.2.1 Sự ra đời của Hội doanh nghiệp
Từ xa xưa, ông bà ta đã thấy lợi ích của sự liên kết và hợp tác, qua câu nói
“buôn có bạn bán có phường”. Sự cạnh tranh theo kiểu ‘anh thắng có nghĩa là tôi
thua’ đã không còn đúng hẳn, mà giờ đây xu hướng ‘cạnh tranh trong hợp tác’, tức
cả hai cùng thắng, đã dần trở thành cung cách mới trong kinh doanh. Nhất là khi tài
nguyên xã hội (vốn, kỹ thuật, quản lý, ý tưởng ) đã ngày càng dồi dào, không ai
có thể giữ được lâu lợi thế cho riêng mình.
Một tính chất khác có ảnh hưởng quan trọng đến xu hướng liên kết: sự phân
khúc ngày càng nhỏ của thị trường. Một ví dụ: ngày nay, trong một đô thị lớn,
không thể tìm đâu ra một nhà hàng có thể bán đủ món cho mọi đối tượng khách
hàng, vì sở thích của người ta đã ngày càng phân nhánh đến hết mức, tới nỗi có
những nhà hàng chỉ chuyên bán món bún, hoặc món cuốn, hoặc bánh mỳ ; thế
nhưng chính những nhà hàng ấy lại thành công hơn cả.
Khi sự chuyên môn hoá lên đến cao độ, tất yếu dẫn đến nhu cầu liên kết cao
độ. Nhà hàng sẽ cần đến nhà cung cấp rau chuyên nghiệp, rồi là quản lý, phục vụ,
phụ bếp chuyên nghiệp, ngoài ra còn phải liên kết với những đơn vị du lịch, công
ty truyền thông, báo chí,
Luận văn tốt nghiệp.
những vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, những cam kết của Việt Nam với WTO là
vấn đề mà nhiều doanh nghiệp quan tâm. Cùng với các cơ hội cho doanh nghiệp
phát huy hết năng lực của mình, tuy nhiên với các quy định của WTO, các cam kết
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
17
song phương, đa biên và các tập quán, thông lệ, luật pháp quốc tế…đã vượt khả
năng hiểu biết của các doanh nghiệp kinh doanh trong nước theo tập quán thông
thường. Vì thế, vai trò của các Hội, Hiệp hội càng cần thiết với các doanh nghiệp
trong việc hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong kinh doanh.
Bên cạnh đó, Hiệp hội là tổ chức thích hợp nhất và không thể thay thế trong
việc đánh giá chất lượng, điều phối hoạt động và giải quyết mối quan hệ giữa các
doanh nghiệp trong nội bộ lĩnh vực đó. Bám sát doanh nghiệp và hơn nữa lại chính
là đại diện cho tiếng nói của nhóm doanh nghiệp trong lĩnh vực, hiệp hội sẽ nắm bắt
một cách cụ thể và rõ ràng những vận hội và thách thức của ngành, từ đó đưa ra
những biện pháp mang tính chính sách để điều tiết một cách hài hoà giữa lợi ích của
ngành trong mối tương quan với các lĩnh vực khác, cũng như trong quan hệ và cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành.
1.2.3 Các yếu tổ ảnh hưởng tới việc thành lập Hội, Hiệp hội doanh nghiệp ở
Việt Nam
Trên lý thuyết, thủ tục thành lập Hội, Hiệp hội quy định rõ trong Luật về Hội
được thông qua ở kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 11 qua đó cho thấy rõ hơn các bước
thành lập Hội. Trước tiên, muốn thành lập một Hội cần phải có Ban vận động thành
lập hội. Ban vận động thành lập Hội có ít nhất 3 sáng lập viên. Sáng lập viên là
chức. Trước hết đó là ban lãnh đạo, bộ máy. Bất kỳ một Hội, Hiệp hội nào đều cần
một tổ chức có tư cách pháp nhân có con dấu và có người lãnh đạo có đủ tầm nhìn
và bao quát được hoạt động. Bộ máy nhân sự là hết sức quan trọng, bởi nếu muốn
hoạt động của Hội được tốt thì bộ máy nhân sự phải tốt đứng đầu tổ chức bộ máy là
Ban lãnh đạo do Ban vận động bầu ra. Việc duy trì hoạt động của Hội là do Bộ máy
Hội hoạt động có tốt hay không. Trên thực tiễn đến hơn 90% Hội hoạt động tốt do
có bộ máy nhân sự và cán bộ lãnh đạo có tầm nhìn và có quan hệ tốt với cơ quan
hữu quan.
Yếu tố cuối cùng làm ảnh hưởng tới quá trình thành lập Hội đó chính là kinh
phí. Kinh phí giúp cho Ban vận động của Hội có thể làm các thủ tục cần thiết trong
việc thành lập Hội. Kinh phí còn giúp duy trì hoạt động của Hội. Nguồn kinh phí để
tiến hành thành lập Hội có thể lấy từ nguồn tài trợ, từ lệ phí ban đầu do các thành
viên sáng lập tự nguyện đóng góp, hoặc do cơ quan sáng lập tài trợ…Do vậy, nguồn
kinh phí có thể huy động từ nhiều nguồn cung cấp cho Ban vận động để có thể tiến
hành thành lập Hội.
1.2.4 Chức năng hoạt động của Hội doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
19
Các Hiệp hội doanh nghiệp thường có nhiều chức năng khác nhau tùy vào
lĩnh vực và ngành mà hiệp hội đó hoạt động.Tuy nhiên, chúng ta có thể chia ra các
chức năng chính của các Hiệp hôi doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất là chức năng đại diện quyền lợi.Đây là chức năng chính của đa số
các Hiệp hội doanh nghiệp, nhất là những hiệp hội lớn, là đại diện và tăng cường
- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, chăm lo phát
triển lực lượng doanh nghiệp cho đất nước.
- Tổ chức hướng dẫn cho hội viên tham gia các hoạt động xã hội.
- Tổ chức hoạt động giao lưu, hợp tác với các tổ chức doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế nước ngoài theo quy định của pháp luật, góp phần tích cực vào quá trình chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế.
1.2.6 Cơ cấu tổ chức chung của các Hiệp hội
Cơ cấu tổ chức của hội gồm có:
1. Đại hội;
2. Ban lãnh đạo, bộ máy điều hành;
3. Ban kiểm tra;
4. Các tổ chức khác do điều lệ hội quy định.
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của hội là Đại hội. Nhiệm kỳ đại hội do điều lệ
hội quy định, nhưng không quá 5 năm kể từ ngày kết thúc đại hội nhiệm kỳ trước.
Đại hội bất thường được triệu tập khi có ít nhất trên một phần hai tổng số hội
viên chính thức hoặc hai phần ba tổng số thành viên ban lãnh đạo hội đề nghị.
Đại hội được tổ chức theo hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu do
điều lệ hội quy định
Những nội dung quyết định tại đại hội gồm có:
- Thông qua điều lệ hội;
- Bầu ban lãnh đạo, ban kiểm tra hội;
- Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hội, đổi tên hội;
- Các vấn đề khác theo quy định của điều lệ hội.
Ban lãnh đạo, ban kiểm tra
Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
22
nghiệm, năng lực, trình độ phù hợp cử sang giữ vị trí chuyên trách trong Ban thư ký
để giúp Hội trong công tác điều hành.
1.3 Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp và Hiệp
hội doanh nghiệp.
1.3.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp
Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X họp tháng 12-
2005 về việc "tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu
quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phấn đấu hoàn
thành mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2020", đã đưa ra những chủ trương chính
sách lớn đối với các doanh nghiệp như sau:
1- Khuyến khích phát triển các Hiệp hội, CLB các nhà kinh doanh, hàng năm
có hình thức lựa chọn, biểu dương, khen thưởng các nhà kinh doanh giỏi, nhằm
động viên, cổ vũ các nhà doanh nghiệp có đóng góp lớn cho công cuộc phát triển
kinh tế của đất nước.
2- Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, gắn với nguồn nguyên liệu nông
sản, thuỷ sản, sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng nhất là điện tử,
kể cả dịch vụ phần mềm tin học. Chú ý phát triển các ngành công nghiệp tốn ít vốn,
thu hút nhiều lao động Coi trọng phát triển ngành cơ khí (kể cả chế tạo, lắp ráp và
sửa chữa) theo hướng đầu tư chiều sâu để cải tạo các cơ sở hiện có và phát triển một
số cơ sở mới có điều kiện.
3- Nhà nước đảm nhận việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật bên ngoài
doanh nghiệp, phát triển thị trường vốn, đào tạo nguồn nhân lực, giúp đỡ về nghiên
cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, tiếp thị, thông tin, thị trường, giành ưu tiên về
dưỡng kỹ năng lao động, đào tạo kỹ thuật viên và hình thành đội ngũ các nhà kinh
doanh giỏi ở nông thôn.
8- Thực hiện cơ chế lưu thông thật sự thông thoáng trên thị trường trong
nước, phát triển các loại hình kinh doanh kết hợp công nghiệp, nông nghiệp, xuất
nhập khẩu theo phương thức ký kết hợp đồng dài hạn với nông dân.
Những quan điểm,chủ trương, chính sách lớn trên đây chứng tỏ Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn khuyến khích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển.
Đồng thời còn chỉ rõ đối tượng, địa bàn, loại hình doanh nghiệp cần đầu tư phát
triển và hàng năm còn có hình thức lựa chọn, suy tôn, thông qua các Hiệp hội để
khen thưởng các nhà doanh nghiệp kinh doanh giỏi. Luận văn tốt nghiệp.
Phạm Bích Ngọc
Lớp: Kinh tế quốc tế K46
24
Từ những chủ trương trên đã mở ra những hướng mới tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà doanh nghiệp phát triển tài năng, đóng góp ngày càng nhiều cho sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
1.3.2 Quan điểm của Đảng về phát triển các Hiệp hội doanh nghiệp
Hiện nay, chưa có văn bản trực tiếp nào của Đảng về phát triển Hiệp
hội doanh nghiệp. Tuy nhiên trong dự thảo Quy định về phát triển Hiệp hội doanh
nghiệp Đảng và nhà nước ta đã có những quan tâm đáng kể để hiệp hội các doanh
nghiệp phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia sinh hoạt, trao đổi
thông tin bắt kịp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
thức tổ chức và điều hành, nhưng đều có chung một mục tiêu liên kết những nhà
lãnh đạo doanh nghiệp với nhau để tạo môi trường tốt hơn cho hội viên trao đổi ý
tưởng, học hỏi và cùng phát triển. Nhiều Hội doanh nghiệp cũng xác định mục tiêu
cung cấp cơ hội cho lớp trẻ phát triển năng lực lãnh đạo, trách nhiệm đối với xã hội,
năng lực kinh doanh và tinh thần đoàn kết, bằng cách đó đóng góp vào sự tiến bộ
của cộng đồng.
Hầu như quốc gia nào cũng có tổ chức Hội doanh nghiệp tuy qui mô và hoạt
động rất khác nhau.
Nghiên cứu tình hoạt động của một số Hội doanh nghiệp của thế giới, đặc
biệt qua nghiên cứu sâu tổ chức và hoạt động của Hội doanh nghiệp trẻ Hoa Kỳ,
Hội doanh nghiệp trẻ Nhật Bản, Hội doanh nghiệp trẻ Anh, Hội doanh nghiệp trẻ
quốc tế và Tổ chức các Chủ tịch doanh nghiệp trẻ quốc tế, có thể rút ra những nét
khái quát sau:
Về tổ chức:
Hầu hết các tổ chức DNT này đều là các tổ chức phi chính phủ, tập hợp hội
viên theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự túc. Các Hội đều được tổ chức chặt chẽ,
dân chủ. Đại hội Hội thường được tổ chức mỗi năm một lần, bầu ra Chủ tịch và Ban
chấp hành mới. Chức danh Chủ tịch không tái cử (Hội doanh nghiệp trẻ Hoa Kỳ có
lịch sử 85 năm thì Chủ tịch hiện nay cũng là Chủ tịch thứ 85).
Bộ máy điều hành được tổ chức chuyên trách và mang tính chuyên nghiệp
rất cao. Các chức danh cao cấp (Chủ tịch, Phó Chủ tịch) là những ngọn cờ thường
đưa ra các tư tưởng, định hướng lớn khi tranh cử, sau đó chỉ đạo và kiểm tra bộ máy
chuyên trách triển khai tư tưởng của mình. Tổng thư ký là người thường trực Hội và
phụ trách điều hành hoạt động của bộ máy chuyên trách, tuy nhiên trong bộ máy