Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà - Pdf 25


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Trần Thị vinh

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

Hà Nội - 2010

ii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG ……………………… …………… ………………………… i
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ…….……………………… ……………………… …… iii
MỞ ĐẦU…………………… …………………………… …………………… ………… 1
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP…………………………… ……………….……………… ………… 6
1.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………………….…… ………6
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh……………………………………… 6
1.1.2. Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……… …… 11
1.2. Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………13
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……16
1.3.1. Môi trường kinh tế…………………………… ………… ………………17
1.3.2. Môi trường luật pháp, chính trị…………………………………………… 18
1.3.3. Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn ……… 18
1.3.4. Nhân tố các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp……………… 19
1.3.5. Nhân tố khách hàng………………………………………………………… 19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1………………………………………….…………………… 39
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
BÁNH KẸO HẢI HÀ…………………………………………………………………… 40
2.1. Khái quát về Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà……………………… 40

3.2.1. Mở rộng liên kết với các công ty trong nước………………………… 92
3.2.2. Định hướng chiến lược kinh doanh lâu dài đối với Công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Hà ………………………………………………….………………….94
3.2.3. Nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ và nâng cao
trình độ người lao động……………………………………………….…… 99
3.2.4. Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh của Công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Hà………………………………………………………………….103
3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
cổ phần bánh kẹo Hải Hà ……………………………………………… … 111
3.3.1. Đào tạo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực………………………… 112
3.3.2. Hoàn thiện công tác phát triển đại lý, chiến lược phân phối sản iv

phẩm………………………………………………………………………… 114
3.3.3. Nâng cao năng lực công nghệ…………………………………….……….116
3.3.4. Nâng cao chất lượng sản phẩm………………………………………… 117
3.3.5. Hiện đại hoá hệ thống tổ chức, quản lý của doanh nghiệp……………118
3.3.6. Tài chính doanh nghiệp…………………………………………………….119
3.3.7. Tăng cường công tác quảng cáo, xúc tiến bán hàng và các loại dịch vụ
để kích thích sức mua của thị trường ………………………… ……….120
3.3.8. Phát triển thị phần của doanh nghiệp…………………………………….121
3.3.9. Kiến nghị đối với nhà nước……………………………………………… 122
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3……………………………….…….……………………………126
KẾT LUẬN……………………………………………….……………………………… 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….………… 130

47
Bảng 2.2
Cơ cấu kinh doanh các nhóm hàng chính của Công ty
52
Bảng 2.3
Một số loại sản phẩm bánh kẹo của Công ty
54
Bảng 2.4
Hệ thống đại lý của công ty bánh kẹo Hải Hà
55
Bảng 2.5
Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở các tháng từ năm 2007-2009
58
Bảng 2.6
Một số mặt hàng bán chạy của Công ty
60
Bảng 2.7
Giá bán một số mặt hang của công ty so với đối thủ cạnh tranh
61
Bảng 2.8
Mức chiết giá sản phẩm của công ty
62
Bảng 2.9
Tỷ lệ giảm giá theo km đường
62
Bảng 2.10
Chi phí dành cho quảng cáo
66
Bảng 2.11
Mức khuyến mãi

78
Bảng 2.19
Thời gian kế hoạch giao hàng cho các đại lý của công ty (tính
cả cấm đường )
82

vii

DANH MỤC HÌNH VẼ

Số hiệu
hình vẽ

Tên hình vẽ

Trang
Hình 2.1
Dây chuyền công nghệ sản xuất kẹo cứng
43
Hình 2.2
Dây chuyền công nghệ sản xuất kẹo mềm
43
Hình 2.3
Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kem xốp
44
Hình 2.4
Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh Cracker
44
Hình 2.5
Hệ thống kênh phân phối của Công ty cổ phần bánh

năng lực cạnh tranh và giành thắng lợi trong kinh doanh. Để từng bước vươn lên
giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính
là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước như vũ bão đồng
thời với việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là việc gia
nhập WTO, mọi thành tựu khoa học công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãi
vào sản xuất hàng hoá và dịch vụ, năng suất lao động trong sản xuất tăng nhanh,
hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều thì mức độ cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt. Hơn nữa trong cơ chế thị trường các
doanh nghiệp đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị
thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uy
tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Sản phẩm hàng hoá có thể cạnh tranh
được trên thị trường phải là những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng cao, mẫu
mã đẹp và điều quan trọng không thể thiếu đó là giá bán phải phù hợp với nhu
cầu người tiêu dùng. Mặt khác, trong các doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn là mục
tiêu là sự phấn đấu và là cái đích cần đạt tới. Như vậy để doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao thì không những đầu ra của quá trình

2

sản xuất phải đảm bảo mà đầu vào cũng phải được ổn định. Nghĩa là sản phẩm
của doanh nghiệp phải được mọi người tiêu dùng chấp nhận, đòi hỏi doanh
nghiệp phải luôn phấn đấu và tìm mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa ra được giá bán phù hợp, có như
vậy mới tồn tại và phát triển được. Chính vì lý do đó mà vấn đề chiếm lĩnh thị
trường, nâng cao năng lực cạnh tranh luôn có tầm quan trọng và có tính thời
cuộc đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào.
Thực tiễn tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo chiếm một tỷ
trọng rất lớn trên tổng số doanh nghiệp và có xu hướng ngày càng tăng. Do đó,
sự tồn tại và phát triển của những doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sự

giai đoạn hiện nay ” - Nguyễn Vinh Thanh, Tạp chí nghiên cứu thế giới
- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội
nhập kinh tế quốc tế ” - PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa
- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ” - PGS.TS Phạm
Văn Phúc.
Tuy nhiên với phạm vi của từng doanh nghiệp cụ thể thì còn rất tản mạn.
Chính vì vậy mà trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện ở một doanh nghiệp thuộc ngành lương thực - thực phẩm với các đặc
điểm đặc thù riêng có.
4

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo của
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà hiện nay và đề xuất các chính sách giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm trên thị trường nội địa, cụ thể:
 Nghiên cứu hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
 Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần bánh kẹo Hải Hà
 Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh

1.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh
1.1.1.1 Cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh
vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, ; thường xuyên
được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương
tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc
độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể
như sau:
- Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của
cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận
trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình
quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả
giá cả có thể giảm đi ”[4].
- Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp với các
đối thủ trong cùng một ngành. Cạnh tranh có vai tró rất quan trọng và là một
trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản
xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền ở đó
hoạt động sản xuất, thị thường trì trệ và kém phát triển.

7

- Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa
những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được
nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh cụ thể xảy ra giữa những người sản xuất
với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua
rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người

1.1.1.2. Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số
kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản
phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và
làm nảy sinh thị trường mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi
của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực canh tranh
của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy
là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu
chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách
riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng
lĩnh vực, cùng một thị trường.

9

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó
nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh
doanh,…
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định.
Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực
lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh
khốc liệt như hiện nay.
Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ
hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng
cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”.

tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v.), (3) điều tra xã hội học, chủ yếu
qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm,
sự trung thành với nhãn hiệu v.v.). Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm
của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường, tại cùng thời điểm để xác định năng
lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động
vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so

11

với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho
sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu
thụ. Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một
số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm
sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính
trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so
với thị phần của đối thủ cạnh tranh.
1.1.2. Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác,
song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Cạnh
tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường, khi cung một hàng hoá nào
đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảm
xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ
thuật, phương thức quản lý và hạ giá thành sản phẩm mới có thể tồn tại. Với ý
nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học,
công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm
trên thị trường, giá cả tăng lên tạo lợi nhuận cao hơn mức bình quân, khi đó
người sản xuất kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc
nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực


13

kiện để sản phẩm hàng hóa Việt Nam lưu thông thông suốt. Tham gia các hiệp
hội ngành hàng để bảo vệ quyền lợi của mình.
1.2. CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực
khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy,
vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói;
kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại;
năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình
độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị
thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, để đánh giá
năng lực cạnh tranh sản phẩm cần sử dụng các tiêu chí định lượng và định tính
dưới đây nhằm phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm trên phạm vi quốc gia.
Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng giá cả, sự tiện ích, mẫu
mã .v.v.)
- Tính năng sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu khách hàng hay không:
Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách
hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối
thủ cạnh tranh. Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng
thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu

14

và thị hiếu của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác
về sản phẩm.

khẩu và bán trên thị trường, tuy nhiên cũng phải vận dụng tiêu chí này một
cách linh hoạt. Với một số sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị
trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh
của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai lệch nhất
định.
- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm có thể so sánh theo tính lịch sử, tức là
năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh
tranh cao và ngược lại, nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng chậm
hơn thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh
tranh.
- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì
thị phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn, hệ thống phân phối được
thiết kế hợp lý so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác,
cùng với việc đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh
tranh của sản phẩm do đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường về số
lượng và chất lượng. - Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới
các cơ sở giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi
hình thức bán buôn, bán lẻ vừa thích hợp với phong tục,tập quán địa

16

phương, tiện lợi cho người tiêu dùng đồng thời phù hợp với khả năng
thanh toán của khách hàng.
- Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà
sản xuất dễ dàng hơn như dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng.
(2) Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sự thoả mãn nhu
cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu .v.v.)
- Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoá
toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy,

trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài. Vì khi đó giá
bán của hàng hóa tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa
khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyên khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm
và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm
ngay trong thị trường trong nước. Còn khi đồng nội tệ giảm giá, có thể khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường
ngoài nước, vì khi đó giá bán của doanh nghiệp nhỏ hơn so với các đối thủ cạnh
tranh kinh doanh hàng hóa do nước khác sản xuất, tuy nhiên bên cạnh đó thì giá
nguyên vật liệu, đầu vào cũng tăng lên.
+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp thiếu vốn phải
vay ngân hàng. Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh

Trích đoạn Định hƣớng giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ và nâng cao Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Nâng cao năng lực công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status