TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ TIỀM
NĂNG TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN
NÁI, LỢN THỊT Ở XÃ SƠN LĨNH, HUYỆN HƯƠNG
SƠN, TỈNH HÀ TĨNH.
Sinh viên thực hiện: Trần Đình Quyết
Lớp: Chăn nuôi - Thú y 40
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Lộc
NĂM 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ TIỀM
NĂNG TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN
NÁI, LỢN THỊT Ở XÃ SƠN LĨNH, HUYỆN HƯƠNG
SƠN, TỈNH HÀ TĨNH.
Sinh viên thực hiện: Trần Đình Quyết
Lớp: Chăn nuôi - Thú y 40
Địa điểm thực tập: Sơn Lĩnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Lộc
Bộ môn: Sinh hóa – Dinh dưỡng
2
NĂM 2010
Lời cảm ơn!
Để hoàn thành bản báo cáo này, bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ của tập thể thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cản
ơn tới ban giám hiệu trường ĐH Nông Lâm-Huế và quý thầy cô trong khoa Chăn Nuôi
2.5.Nhu cầu dinh dưỡng của lợn thịt.
2.6. Đặc điểm sinh sản của lợn nái.
2.7. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái nuôi con.
2.8. Các phương thức xây dựng công thức nuôi lợn thịt.
2.9. Các công thức nuôi lợn thịt.
2.10. Các biện pháp nâng cao năng suất, phẩm chất thịt lợn và hiệu quả kinh
tế.
III. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng điều tra.
3.2. Địa điểm nghiên cứu.
3.3. Thời gian nghiên cứu.
3.4. Các chỉ tiêu điều tra.
3.5. Phương pháp điều tra.
3.6. Phương pháp xử lý số liệu.
IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái của xã Sơn Lĩnh.
4
4.2 Quy mô đàn lợn thịt của xã Sơn Lĩnh.
4.3 Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn.
4.4 Tình hình chuồng trại nuôi lợn.
4.5 Công tác thú y.
4.6 Môt số giải pháp về kỹ thuật để phát triển ngành chăn nuôi lợn ở nông
hộ của xã Sơn Lĩnh.
4.7 Một số giải pháp về chính sách.
V. Kết luận và đề nghị
5.1. Kết luận.
5.2. Đề nghị.
5
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA PHƯƠNG
- Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 đến tháng 2 năm sau:
18,7
0
C.
- Biên độ nhiệt trung bình giữa ngày và đêm từ: 7-9 0C có lúc lên tới: 15-17 0C.
Nhìn chung nền nhiệt độ tương đối cao, nắng nóng quanh năm đây là điều kiện
thuận lợi cho cây trồng nhiệt đới phát triển tốt. Khung nhiệt độ từ 15 – 42
0
C chưa vượt
quá mức độ giới hạn về yêu cầu sinh thái của các loại cây, con hiện có trong vùng.
Khí hậu có hai mùa mưa, nắng rõ rệt.
- Mùa khô: kéo dài 8 tháng, từ tháng 1 đến tháng 8 (số ngày mưa trung bình 65
ngày), mùa này có số ngày mưa ít. Lượng mưa chỉ chiếm 20 – 30% lượng mưa cả năm,
lượng mưa phổ biến từ 400 – 500 mm.
- Mùa mưa: kéo dài 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12. tổng lượng mưa mùa này
chiếm khoảng 70 – 80% lượng mưa cả năm, lượng mưa phổ biến từ 1.000 – 1.200 mm.
Tổng số ngày mưa trong năm chiếm khoảng 34% tổng số ngày trong năm.
Lượng mưa bình quân cả năm: 1.972 mm.
Lượng mưa năm cao nhất: 3.087 mm
Lượng mưa năm thấp nhất: 856 mm
Nhìn chung lượng mưa ít, nhưng cường độ lớn.
Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, có nhiều
trận mưa lớn nhiều ngày, lượng nước tập trung vào cửa sông Con, sông Ngàn Phố đổ ra
sông Ngàn Sâu, thường xuyên gây lũ quét tàn phá lúa, hoa màu, gia súc của nhân dân.
Do vậy nên cần bố trí cây trồng vật nuôi sao cho hợp lý tránh được thiệt hại ảnh hưởng
đến sản xuất và đời sống nhân dân.
* Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm khá cao và đạt 79,7%
Trong năm thường có độ ẩm trung bình cao nhất 87%, tập trung vào tháng 11, 12.
* Huyện Hương Sơn thuộc vùng Bắc Trung bộ có ít bão, bình quân 2 - 3 cơn
bão/ năm, mùa bão thường trùng vào mùa mưa và thường xuất hiện vào khoảng tháng
1 Tổng diện tích đất tự nhiên 1.883,00 100
2 - Diện tích đất nông nghiệp 220,61 12
3 - Đất chuyên dùng 85,10 5
4 - Đất ở 28,54 1
5 - Đất bãi bồi ven sông 244,00 25
+ Đất trồng cây màu 79,10 4
+ Đất trồng cỏ 127,09 7
+ Đất chưa sử dụng 1.100,00 46
(Báo cáo tổng kết tình hình sữ dụng đất của xã Sơn Lĩnh)
8
Qua bảng trên ta thấy diện tích đất trồng rau và cỏ chiếm tỷ lệ rất ít, đây cũng là
một hạn chế ảnh hưởng đến việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhưng diện tích
bãi bồi ven sông, đất chưa sử dụng được đang vẫn còn, là tiềm năng cần được khai thác
và sử dụng hợp lý tránh gây lãng phí.
2 Đặc điểm kinh tế – xã hội
2.1 Tình hình dân số và lao động
2.1.1 Dân số
Dân số của toàn xã là người Kinh, chủ yếu là người lao động bản địa sinh sống
từ lâu đời. Toàn xã tính đến ngày 31/12/2009 có 833 hộ, có: 3530 nhân khẩu.
2.1.2 Lao động
Tổng số hộ sản xuất nông nghiệp là 719 hộ chiếm 86%, số hộ phi sản xuất nông
nghiệp, công nhân viên chức là 106 hộ chiếm 14%.
2.1.3 Văn hóa, giáo dục, y tế
Toàn xã gồm có 10 thôn. Mỗi thôn có 1 trạm truyền thanh phục vụ cho nhu cầu
thông tin của xã trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật Nhà nước, các Chỉ thị, Nghị quyết của HĐND, UBND đến với người dân kịp thời
để nhân dân biết thực hiện. Xã Sơn Lĩnh có 01 điểm bưu điện văn hóa xã, 01 trụ sở làm
việc UBND xã khang trang, 01 Trường Trung học cơ sở, 02 Trường Tiểu học, 02
Trường Mầm non mẫu giáo, 01 Trạm y tế xã, 01 HTX nông nghiệp kinh doanh dịch
vụ, 657 máy điện thoại. Nhờ sự phát triển kinh tế – xã hội của xã bình quân thu nhập
chậm do điều kiện canh tác ở xã chủ yếu là làm ruộng, do đó không có đồng cỏ để chăn
nuôi.
- Đàn lợn: 1450 con, xã có thế mạnh về cây rau màu, cây lương thực và có kinh
nghiệm sản xuất cây vụ đông (khoai lang, ngô, lạc) hơn nữa lại gần với nguồn thủy sản
từ các xã ven biển đưa vào nên nông hộ có điều kiện để chăn nuôi lợn. Nguồn thức ăn
xanh, thức ăn tinh, thức ăn giàu đạm khá phong phú là điều kiện quan trọng để phát
triển chăn nuôi lợn.
- Đàn Hươu: 800 con, đây là địa phương của Huyện có thế mạnh và truyền
thống chăn nuôi Hươu
- Tình hình chăn nuôi gia cầm: 1300000 con, các hộ nông dân ở xã chủ yếu nuôi
gia cầm theo hướng thả vườn. Tỷ lệ hộ nuôi bầy đàn chiếm tỷ lệ thấp. Đa số các giống
gà, vịt địa phương chăn nuôi mang tính tự cung, tự cấp. Những năm gần đây dịch cúm
gia cầm hầu như chưa xảy ra.
* Về con giống
Giống là yếu tố đầu tiên quyết định đến năng suất chăn nuôi, hiện tại đa số
người dân sử dụng giống lợn thịt F
1
(Y x MC), F
1
(D x Y), ngoại (Y x Y).
* Thức ăn
Thức ăn chăn nuôi của các hộ gia đình ở xã Sơn Lĩnh chủ yếu là tận dụng phụ
phẩm nông nghiệp như: cơm, gạo, bột ngô, rau lang, sắn và các loại phế phẩm được
chế biến. Hiện nay người dân cũng đã chú ý đến nguồn thức ăn giàu protein cho lợn
như: bột cá, mắm và các loại thức ăn đậm đặc giàu protein.
* Chuồng trại
10
Hầu hết chuồng trại đã được người dân chú ý đảm bảo ấm về mùa đông, thoáng
mát về mùa hè, đa số chuồng trại kiên cố, nền ximăng, mái lợp ngói nền có độ dốc
tương đối thuận lợi cho việc vệ sinh chuồng trại. Tuy nhiên vẫn còn một số hộ chuồng
- Những năm gần đây nhất là năm 2005, Nghị quyết huyện Đảng bộ lần thứ IX
và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2005 – 2010 huyện Hương Sơn, xác định chăn
nuôi là hướng đột phá quan trọng để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.
3.2 Khó khăn
11
Điều kiện khí hậu thời tiết không thuận lợi làm ảnh hưởng đến việc phát triển
chăn nuôi lợn, đặc biệt đối với các giống lợn ngoại có năng suất cao, cây rau, màu, cây
lương thực sản xuất theo mùa vụ làm ảnh hưởng đến nguồn thức ăn cho đàn lợn.
Nền kinh tế – xã hội còn nghèo cùng với tập quán lạc hậu, tính bảo thủ của
người nông dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm đó là một cản trở lớn
cho việc chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hướng hàng hóa.
Thị trường không ổn định, sản xuất thiếu kế hoạch và công tác thú y chưa đuợc
chú trọng.
12
PHẦN THỨ HAI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, ngành chăn nuôi có vị trí
rất quan trọng. Đặc biệt đối với hộ nông dân, việc chăn nuôi lợn đã góp phần rất lớn
cho phát triển kinh tế hộ gia đình như: tăng thu nhập, tạo việc làm, hỗ trợ cho ngành
trồng trọt. Người nông dân đã có truyền thống, kinh nghiệm chăn nuôi lợn từ lâu đời,
nếu được đầu tư phù hợp, đúng hướng thì việc chăn nuôi lợn ở nông hộ không những
góp phần xoá đói giảm nghèo mà còn có thể tạo thu nhập cao cho họ, bên cạnh đó còn
giải quyết việc làm cho một số lao động nhàn rổi ở địa phương.
Phát triển chăn nuôi lợn ngoài việc cung cấp cho địa phương nguồn thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao, còn có thể đầu tư để sản xuất hàng hóa.
Xã Sơn Lĩnh là một xã thuần nông, kinh tế còn nhiều khó khăn, trong sản xuất
nông nghiệp diện tích canh tác ít, lại bị ảnh hưởng của thời tiết có nhiều bất lợi. Vào
mùa, nghề trồng lúa nước và nghề chăn nuôi mà đặc biệt là chăn nuôi lợn là nghề
truyền thống có từ lâu đời của nhà nông nước ta và nó đóng vai trò rất quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp cũng như nâng cao thu nhập cho đời sống nhà nông. Quá trình
thuần hoá, thích nghi, chọn lọc, nhân giống đã tạo ra nhiều giống lợn quý báu đa dạng
về chủng loại, phong phú về vốn gen và các giống đó thích nghi rất lớn cho mỗi vùng
sinh thái như ở vùng đồng bằng miền Bắc và miền trung có giống lợn Cỏ, Móng cái.
Miền Nam có giống lợn Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu. Miền núi có Lợn Mường Khương và
Mèo.
Nghề nuôi lợn ở nước ta được hình thành cách đây khoảng 4000 năm nhưng trải
qua một thời gian dài 2000 năm Bắc thuộc dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến.
Đời sống của nhân dân ta hết sức khổ cực, vì vậy ngoài sản xuất nông nghiệp nói
chung và chăn nuôi lợn nói riêng không phát triển được, trình độ chăn nuôi hết sức lạc
hậu, các giống lợn của nước ta cũng là giống nguyên thuỷ, có tầm vóc nhỏ (10 tháng
tuổi trung bình đạt 40-50 kg) tăng trọng chậm (3-5 kg/tháng) tiêu tốn nhiều thức ăn cho
1 kg thịt hơi tăng trọng (5-6 kg thức ăn) phẩm chất thịt kém (tỷ lệ mở cao, nạc trong
thân thịt thấp). Nhưng những giống này có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khô
hạn, nóng ẩm và thức ăn khan khô của nước ta.
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách nhằm khôi phục và phát
triển chăn nuôi, từng bước đưa chăn nuôi phát triển lên thành ngành sản xuất chính
ngang hàng với ngành trồng trọt. Từ đó tổng đàn lợn trong nước đã tăng lên không
ngừng.
Năm 2007: Tổng đàn lợn cả nước là: 32,1 triệu con.
Năm 2008: Tổng đàn lợn cả nước là: 39,4 triệu con.
Cùng với việc tăng nhanh về số lượng thì chất lượng đàn giống không ngừng
được cải thiện. Công tác thuần chủng giống đã làm tốt, nhập nhiều giống cao sản nái
ngoại như Large white, Landrace, DE để cải tạo đàn lợn thịt của nước ta. Do đó đã
nâng trọng lượng xuất chuồng trung bình từ 35-40 kg trước đây lên 60-70 kg hiện nay.
Với tiềm năng tiềm tàng của đất nước: Như nước ta có chiều dài hơn 2000 km,
hệ thống ao hồ kênh rạch phong phú đưa lại nguồn tôm cá rất lớn là nguồn thức ăn đạm
cho chăn nuôi. Với khoảng 10 triệu ha đất canh tác đã và đang cung cấp nguồn thức ăn
làm, nâng cao thu nhập cũng như công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong
nông nghiệp.
2.1.3. Tình hình chăn nuôi lợn ở huyện Hương Sơn.
Huyện Hương Sơn có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với sản
lượng lúa và màu hàng năm khá lớn. Những năm qua huyện đã có nhiều chính sách
khuyến khích để ngành chăn nuôi phát triển như hỗ trợ đầu tư cải tạo đàn giống, tăng
cường công tác khuyến nông, thú y. Hàng năm HĐND huyện đã có Nghị quyết khen
thưởng cho các hộ chăn nuôi trên 30 con lợn. Từ những chủ trương trên đã khuyến
khích nông hộ phát triển chăn nuôi. Qua hàng năm đàn lợn không ngừng gia tăng về số
lượng và chất lượng giống cũng được cải tạo. Nhiều giống lợn ngoại siêu nạc đã được
đưa vào sản xuất thí điểm để nhân rộng mô hình. Tình hình số lượng đàn lợn của huyện
tăng qua hàng năm thể hiện như sau:
Bảng 5: Số lượng đàn lợn của huyện Hương Sơn từ năm 2007 đến năm
2009
16
Năm Số lượng
(con)
2007 29.100
2008 14.491
2009 14.775
(Nguồn thống kê huyện Hương Sơn )
Tỷ lệ đàn lợn trong Huyện tăng bình quân qua hàng năm, Tuy nhiên năm 2007
đến nay tốc độ tăng trưởng đàn lợn có chậm lại, nguyên nhân do tình hình dịch bệnh
phần nào làm ảnh hưởng đến việc chăn nuôi lợn của nông hộ.
2.2. Vai trò ngành chăn nuôi lợn trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ
- Hộ nông dân là một tổ chức kinh tế tự chủ, một loại hình kinh tế đặc biệt là
trong cơ chế kinh tế hiện nay hộ nông dân giữ một vai trò to lớn trong phát triển sản
xuất nông nghiệp, một yếu tố khách quan trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn,
tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển.
- Theo một số nhà nghiên cứu của khoa học thì xu thế phát triển nông nghiệp
Là giống lợn được tạo ra ở nước Anh vào năm 1952, hiện nay lợn Yorkshire
nuôi hầu hết ở các nước trên thế giới, khả năng thích nghi của giống lợn này tốt hơn
các giống lợn khác.
Lợn Yorkshire toàn thân màu trắng, lông có ánh vàng, đầu nhỏ dài, tai to dài hơi
hướng về phía trước, thân dài, lưng hơi còng lên, chân cao khỏe, tầm vóc lớn, trọng
lượng sơ sinh trung bình 1-1,2 kg. Lợn trưởng thành đạt 350-380 kg, dài thân 170-185
cm, vòng ngực 165-185 cm, con cái 250-280 kg, lợn thuộc giống lợn cho nhiều nạc.
Lợn có ngoại hình thể chất chắc chắn, nuôi con khéo, chịu đựng kham khổ, chất lượng
thịt tốt, khả năng chịu stress cao.
Tăng trọng bình quân từ 650-700 gam/con/ ngày. Tiêu tốn thức ăn từ 2,8-3,1 kg
thức ăn/kg; tỷ trọng thịt xẻ đạt từ 60-65%, Lợn Yorkshire có khả năng sinh sản tương
đối cao, bình quân từ 10 -12 con trên lứa.
Khi nuôi ở Việt Nam số con đẻ ra/ ổ bình quân là 9,5 con , khối lượng sơ sinh
đạt 1,24 kg. Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi đạt 55-60 kg, khối lượng bình quân/
con lúc 60 ngày tuổi đạt 15-18 kg.
2.3.3. Lợn Móng Cái
Đây là giống lợn nội được sử dụng vào mục đích sinh sản là chính vì các đặc
tính ưu việt của nó như chịu kham khổ tốt, sức đề kháng cao, mắn đẻ và nuôi con tốt
nó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi nhỏ lẻ trong các nông hộ. Lợn Móng Cái
thường được dùng để làm nền lai cải tiến giống với các giống ngoại (Yorkshire,
Landrace ) để tạo con lai F1 nuôi thịt, lợn Móng Cái là một giống lợn nuôi nhiều ở
miền Đông Bắc nước ta, trong đó bao gồm cả thị xã Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Trước đây, Móng Cái là nơi tập trung thương mại của tỉnh, tàu bè buôn bán
thường xuyên qua lại, do đó từ các huyện trong tỉnh, giống lợn được mang về đây để
bán đi các nơi khác vì thế địa phương quen gọi Móng Cái.
Về nguồn gốc Lợn Móng Cái bắt nguồn từ giống Lợn Quảng Đông (Trung
Quốc) giống lợn này được người Hoa kiều mang sang nước ta và nuôi dưỡng từ lâu
xuất phát từ 3 huyện của tỉnh Quảng Ninh là: Đầm Hà, Hà Cối và Tiên Yên. Hiện nay
được nuôi phổ biến khá rộng rãi ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Từ đó giống lợn
này dần dần được phát triển thành giống lợn Móng Cái của nước ta, rất giống Lợn
Số lứa đẻ trong năm Lứa 1,5 – 2
Số con đẻ trong một lứa Con 10 – 14
Khối lượng sơ sinh/con Kg 0,45 – 0,5
Khối lượng lúc cai sữa/con Con 6 – 7
khỏang cách hai lứa đẻ Tháng 5,5 - 6
(Nguồn Nguyễn Văn Linh- giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn XB nông nghiệp Hà Nội
năm 2005 [T.24]
Lợn Móng Cái thành thục về tính tương đối sớm, lợn đực thường 3 tháng tuổi
biết nhảy cái và trong tinh dịch đã có tinh trùng , lượng tinh dịch 80 – 100 ml, lợn cái 3
tháng tuổi bắt đầu động hớn nhưng chưa có khả năng thụ thai. Thường thì lợn cái đến
19
khoảng 7-8 tháng tuổi trở đi mới đủ điều kiện tốt nhất cho phối giống và có chửa, thời
điểm đó lợn đã đạt khối lượng khoảng 40 – 50 kg hoặc lớn hơn.
Chu kỳ động dục từ 18-25 ngày, thời gian kéo dài 3-4 ngày. Tuổi phối giống
đầu tiên thường vào lúc 6 tháng tuổi hay 8 tháng nhưng trọng lượng phải đạt 30 kg trở
lên, thời gian có chữa trung bình 114 ngày, biến động từ 112-116 ngày. Thời gian nuôi
con từ 45-60 ngày. Số con đẻ ra trên lứa trung bình là 10 con, số con cai sữa trung bình
là 7-8 con trên lứa. Hệ số quay vòng từ 1,62 lứa/ năm. Khả năng sinh sản tăng dần đạt
đỉnh cao ở lứa thứ 3. Sau đó ổn định và từ lứa 9-10 trở đi thì ít dần. Thời gian động dục
trở lại sau cai sữa là 5-7 ngày.
Lợn Móng Cái là giống lợn có tầm vóc tương đối lớn so với các giống lợn trong
vùng Đồng bằng và trung du Bắc bộ, thành thục sớm, mắn đẻ, sai con, khả năng nuôi
con khéo, khả năng tiêu hoá và lợi dụng thức ăn thô xanh tốt. Bên cạnh đó Lợn Móng
Cái có một số hạn chế là kết cấu ngoại hình yếu, lưng võng, tỷ lệ nạc thấp.
Phương hướng công tác giống hiện nay đối với Lợn Móng Cái là tăng cường
chọn lọc và nhân thuần để nâng tầm vóc, cải tạo các nhược điểm của lợn Móng Cái,
cho lai tạo với các giống nhập nội để lấy con lai nuôi thịt. Trong chiến lược nạc hoá
đàn lợn hiện nay ngoài việc sử dụng đàn lợn thuần nuôi thuần thì không thiếu các con
lợn lai mà trong đó chủ yếu là con lai của Móng Cái với đực ngoại.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt
phẩm chất thịt tốt, đồng thời có khả năng sử dụng nguồn thức ăn sẵn có của địa
phương, có khả năng chống đỡ bệnh tật cao.
2.4.2 Ảnh hưởng của giới tính.
Lợn đực và lợn cái đều có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt. Lợn cái
đến tuổi thành thục về tính nếu không hoạn thì giảm khả năng tăng trọng dẫn đến tiêu
tốn thức ăn cao, còn lợn đực không thiến thì hoạt động sinh dục dẫn đến tiêu tốn nhiều
năng lượng làm giảm khả năng lao động.
Lợn đực nên thiến lúc 13 ngày tuổi , lợn cái hoạn từ 3-4 tháng tuổi hiện nay nếu
chúng ta nuôi lợn ngoại tăng trọng nhanh nên khi đạt trọng lượng xuất chuồng chưa
phát dục thì không cần phải hoạn.
2.4.3 Ảnh hưởng của thời gian nuôi.
Thời gian nuôi là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp để năng suất và phẩm chất thịt.
Thời gian nuôi dài thì lợn có trọng lượng thịt cao nhưng lại tiêu tốn thức ăn nhiều, tốn
nhiều công chăm sóc nuôi dưỡng, chi phí chuồng trại và các chi phí khác cao, hệ số
vòng quay thấp, chất lượng thịt kém (có nhiều mỡ) thời gian nuôi ngắn thì khắc phục
được những nhược điểm trên nhưng đòi hỏi phải tập trung đầu tư dinh dưỡng cao.
2.4.4. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn.
2.4.4.1 Ảnh hưởng của năng lượng trong khẩu phần ăn theo từng thời gian
đoạn tuổi.
*Giai đoạn từ 20-25 kg
Trong giai đoạn này cần tăng tối đa lượng thức ăn ăn vào sẽ làm tăng khả năng
tăng trọng cũng như khả năng tích luỹ nạc, trong khi đó khả năng tích luỹ mỡ chỉ tăng
lên rất ít. Để thực hiện được điều này thì năng lượng trong khẩu phần ăn cần phải cao.
*Giai đoạn từ 45-50 kg
Trong giai đoạn này, đối với các giống lợn chưa cải tạo khi năng lượng ăn vào
tăng gấp 2,5 đến 3 lần so với nhu cầu duy trì thì khả năng tăng trọng, khả năng tích
luỹ nạc vẫn tăng lên, tuy nhiên khi năng lượng ăn vào tiếp tục tăng lên nữa thì không
có sự tăng lên tiếp tục của tăng trọng cũng như tích luỹ nạc và sẽ làm tăng khả năng
tích luỹ mỡ, tiêu tốn nhiều thức ăn. Vì vậy đối với các giống lợn này cần phải hạn chế
năng lượng ăn vào. Giảm lượng ăn vào trong giai đoạn này có thể ngăn ngừa được
của lợn là một phương pháp phổ biến, nhằm điều khiển khả năng tích luỹ mỡ dưới da
và mỡ trong thân thịt của lợn.
Bảng 8 : Ảnh hưởng của thức ăn đến năng suất và chất lượng thịt lợn
(Creer, 1965)
Các chỉ tiêu Mức ăn hàng ngày
Thoả mãn Cho ăn có hạn chế
100% 85% 70%
Lượng thức ăn (kg) 3,28 2,61 2,11 1,8
Tăng trọng (gam/ngày) 830 700 550 450
Tiêu tốn thức ăn(kg/kg tăng trọng 3,95 3,73 3,84 4,0
22
Độ dày mỡ lưng (cm) 3,71 3,73 3,61 3,28
Tỷ lệ nạc (%) 38,0 37,0 38,6 38,4
Qua bảng ta thấy nếu giảm lượng ăn vào khoảng 25-30% so với mức ăn tự do
hàng ngày thì thấy rằng khả năng tăng trọng có giảm 20-25 %. Tiêu tốn thức ăn/kg
tăng trọng có tăng lên 3-4 %, giảm độ dày mỡ lưng khoảng 8-9 %.
Nếu khí hậu nóng quá thì lợn ăn ít, giảm tăng trọng còn nếu tiểu khí hậu rét quá
thì lợn tiêu hao nhiều năng lượng cho chống rét, chi phí thức ăn cao.
Bảng 9: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến năng suất và chất lượng thịt.
(Seymour,1964)
Nhiệt độ môi trường (
0
C) 15-16 31-32
Mức Protein 20-17-14 16-13-10 20-17-14 16-13-10
Tăng trọng (g/ngày) 700 590 610 570
Hệ số chuyển đổi thức ăn (kg) 3,15 3,36 3,05 3,68
Tỷ lệ nạc (%) 51,4 49,8 51,9 49,2
Độ dày mỡ lưng (cm) 3,8 4,1 3,8 4,0
2.5. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn thịt
2.5.1. Quy luật ưu tiên dinh dưỡng cho tích luỹ
Khối lượng
(kg)
Năng lượng trao
đổi trong 1 kg
thức ăn (kg)
Nhu cầu năng
lượng trao đổi
(kg)
Ước tính khối lượng thức
ăn
(kg/con/ngày) (kg)
5-10 3265 1620 0,5
10-20 3265 3265 1,0
20-50 3265 6050 1,9
50-80 3265 4810 2,6
80-100 3265 10030 3,1
(Nguồn : NRC,1998)
2.5.3. Nhu cầu protein
Trong chăn nuôi lợn thịt, protein trong khẩu phần có vai trò rất quan trọng,
quyết định đến năng suất và chất lượng thịt. Đó là thành phần không thể thay thế được,
cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất của cơ thể, rồi tham gia vào cấu tạo
nên các mô trong cơ thể cũng như tạo sản phẩm.
Nhu cầu protein: Pr = Prdt + Prtt
Trong đó: - Pr : là nhu cầu protein
- Prdt : là nhu cầu protein cho duy trì
- Prtt : là nhu cầu protein cho tăng trọng.
- Nhu cầu protein cho duy trì.
Người ta ước tính khoảng 15 % khối lượng cơ thể của lợn là protein, trong đó
13- 6% protein cơ thể tham gia và quá trình trao đổi chất hằng ngày và số lượng này
giảm dần theo độ tuổi của lợn. Đồng thời khoảng 6% protein có thể được sử dụng để
mãn nhu cầu của sinh vật và mang lại hiệu quả kinh tế cho mình.Tuy nhiên, lượng
protein yêu cầu hằng ngày trong khẩu phần ăn còn phụ thuộc vào giá trị sinh vật học
và tỷ lệ tiêu hoá của protein. Nhu cầu này càng tăng khi giá trị sinh học và hệ số tiêu
hoá của nó giảm.
Khi bổ sung protein cho lợn ta cần chú ý đến chất lượng protein có hàm lượng
đảm bảo nhu cầu của lợn về các a xít a min không thay thế như Lysine, Methionine và
Triptophan. Theo tác giả thì Lysine có mối tương quan với protein trong thức ăn .
Lợn 10-50 kg: 0,9 % Lysine, 0,7 % Methionine + Cystine.
Lợn 50-100 kg: 0,7 % Lysine, 0,5% Methionine + Cystine.
Thành phần axít amin cho nhu cầu duy trì và tăng trọng khác nhau. Protein có
hàm lượng Lysine thấp, sử dụng hiệu quả cho duy trì nhưng lại kém cho tăng trọng.
Khi khẩu phần có hàm lượng protein thấp, người ta phải sử dụng bằng các axit amin
kết tinh để đảm bảo các hoạt động sinh lý, trao đổi của cơ thể.
Trong khẩu phần ăn cân bằng axit amin thì chỉ cần 11-12 % protein lợn đạt
tăng trọng 585 g/ngày nhưng nếu không cân bằng axit amin, muốn duy trì được tốc độ
tăng trọng trên phải đưa protein tổng số trong khẩu phần lên 20-22%. Nếu trong khẩu
phần thiếu axit amin thì thì dấu hiệu rõ rệt của lợn là giảm lượng ăn vào, còn thừa thì
ít ảnh hưởng. Nếu cho lợn ăn lượng protein cao (vượt quá 25%) thì rất lãng phí, gây ô
nhiểm môi trường, kết quả là làm giảm tăng trọng và hiệu quả thức ăn. Ngoài ra, trong
khẩu phần ăn của lợn phải cân đối giữa protein và năng lượng vì quá trình tổng hợp
protein cần năng lượng, nếu thiếu thì một phần protein tiêu hoá sẽ bị o xy hoá tạo năng
lượng:
- Sự chuyển hoá axit amin trong cơ thể động vật được mô tả qua sơ đồ sau:
Protein cơ thể (protein cơ)
25