ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VŨ TRỌNG HIẾU
CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng
Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN SƠN
1.3.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản: 40
1.3.4. Một số kinh nghiệm của một số quốc gia khác: 42
1.3.5. Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu chính sách thuế đối với thị
trường chứng khoán các nước: 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 49
2.1. Khái quát sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam 49
2.2. Khung pháp lý hiện hành thuế đối với TTCK Việt Nam 52
2.2.1. Về thuế Giá trị gia tăng: 53
2.2.2. Về thuế Thu nhập doanh nghiệp: 54
2.2.3. Về thuế Thu nhập cá nhân: 59
iv
2.2.4. Về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: 62
2.3. Thực trạng triển khai chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam . 62
2.3.1. Thuế đối với nhà đầu tư tham gia thị trường 62
2.3.2. Thuế đối với Quỹ đầu tư chứng khoán 69
2.3.3. Thuế đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán 71
2.3.4. Thuế đối với tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán 74
2.4.Đánh giá chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam thời gian qua 76
2.4.1. Thành công 76
2.4.2. Hạn chế 77
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 80
3.1. Một số định hướng hoàn thiện hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 80
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với TTCK 84
phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ (ưu đãi) với thị trường.
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Chính sách thuế đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Việt Nam” nhằm phân tích các mặt tồn tại của chính sách thuế đối với chứng khoán và đưa ra biện pháp
nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế thúc đẩy sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán Việt
Nam.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chính sách thuế nói chung và chính sách thuế đối với TTCK nói riêng đang được Quốc hội và Chính
phủ từng bước hoàn thiện để sớm đưa vào thực tế. Hiện có một số công trình nghiên cứu về thuế đối với
TTCK, tuy nhiên các đề xuất chưa bao quát và toàn diện, do đó đề tài sẽ bổ sung thêm các luận điểm nhằm
hoàn thiện hơn chính sách thuế chứng khoán.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu các chính sách về thuế đối với TTCK ; phân tích những tồn
tại của chính sách thuế đối với chứng khoán trong thời gian qua áp dụng ở Việt Nam và đồng thời đưa ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với chứng khoán.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng chính của đề tài là chính sách thuế áp dụng đối với các chủ thể tham gia trên thị trường
chứng khoán;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập chung phân tích tác động của thuế đối với chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp chuyên gia
2
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường nơi các chứng khoán được phát hành và bán cho
những người mua đầu tiên (vì vậy còn được gọi là thị trường phát hành).
Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán
đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trƣờng
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK): SGDCK là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện
tại một địa điểm tập trung.
Thị trường chứng khoán phi tập trung: Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có
trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với
nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của TTCK phi tập trung được diễn ra tại các quầy (sàn
giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán thông qua điện thoại hay máy vi tính diện rộng.
Thị trường tự do: Thị trường tự do là thị trường giao dịch tất cả các loại cổ phiếu được phát hành
thông qua việc thương lượng và thoả thuận trực tiếp giữa bên mua và bên bán tại bất cứ nơi đâu, vào bất kỳ
lúc nào.
1.1.2. Các chủ thể tham gia vào thị trƣờng chứng khoán
Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK. Các chủ thể phát hành
bao gồm:
Chính phủ: Chính phủ là chủ thể phát hành các chứng khoán: trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công
trình, tín phiếu Kho bạc nhằm mục đích tìm vốn tài trợ cho những công trình lớn thuộc cơ sở hạ tầng, phát
triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế, hoặc bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước.
Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể phát hành các cổ phiếu hoặc trái phiếu doanh nghiệp để tìm
vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quỹ đầu tư: Quỹ đầu tư là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng vốn góp của
các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu tư khác.
Nhà đầu tƣ
4
tương lai, quyền lựa chọn
1.2. Chính sách thuế đối với thị trƣờng chứng khoán
1.2.1. Chính sách thuế chung
1.2.1.1. Tổng quan thuế
a. Khái niệm
Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện
theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và
dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng.
b. Phân loại
Căn cứ vào phương thức đánh thuế: thuế được phân ra làm hai loại chung đó là thuế trực thu
và thuế gián thu .
Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân;
người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho nhà nước.
5
Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà
đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ. Người chịu thuế là những người tham gia tiêu
dùng những dịch vụ, hàng hoá đó.
Căn cứ vào đối tượng đánh thuế.
1.2.1.2. Vai trò của chính sách thuế và các nhân tố tác động tới chính sách thuế
a. Vai trò của chính sách thuế
- Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải
vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
- Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
- Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công
bằng xã hội.
b. Các nhân tố tác động đến chính sách thuế
6
Lãi từ trái phiếu được coi là khoản tiền trả cho việc sử dụng vốn vay dưới bất kỳ hình thức nào. Tổ
chức cá nhân kinh doanh khi chi trả lãi tiền đi vay được hạch toán là khoản chi phí kinh doanh vì vậy khoản
thu nhập này đối với bên cho vay chưa bị đánh thuế ở cấp độ công ty. Bên cho vay có thu nhập nên phải chịu
thuế thu nhập.
Đối với thuế GTGT nhiều nước không áp dụng vì đây là hình thức đầu tư gián tiếp không xác định
chủ thể kinh doanh, mặt khác khó xác định giá trị tăng thêm để làm căn cứ tính thuế.
Chủ thể trung gian
Các nhà trung gian chứng khoán có thu nhập từ hoạt động môi giới, bảo lãnh chịu thuế TNDN hoặc
thuế TNCN.
Ngƣời quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động của thị trƣờng chứng khoán: Thông thường
các hoạt động quản lý nhà nước sẽ không bị điều chỉnh về yếu tố thuế (chỉ có một số loại phí dịch vụ), còn
đối với hoạt động của các SGDCK thì tùy theo mô hình cấu trúc tổ chức để có nghĩa vụ thuế cụ thể.
1.3. Kinh nghiệm áp dụng chính sách thuế của một số nƣớc
1.3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.3.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản:
1.3.4. Một số kinh nghiệm của một số quốc gia khác:
1.3.5. Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu chính sách thuế đối với thị trƣờng chứng khoán các
nƣớc:
Trên cơ sở nghiên cứu chính sách thuế đối với TTCK các nước có thể rút ra những vấn đề chính sau:
Về thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là thuế gián thu đánh vào việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, doanh
nghiệp là người nộp thuế còn người tiêu dùng là người chịu thuế. Rất nhiều quốc gia hiện nay đều miễn thuế
GTGT trong lĩnh vực chứng khoán. Tùy vào điều kiện kinh tế, tình hình phát triển của TTCK cũng như thị
trường tài chính, sự tương quan giữa các lĩnh vực kinh doanh mà mỗi quốc gia lại có quy định riêng về vấn
đề này.
trường tự do nhằm hạn chế việc giao dịch trên thị trường này.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập liên quan đến chứng khoán được đánh theo đối tượng là người cư trú và người không
cư trú tại nhưng việc đánh thuế không có sự phân biệt đáng kể giữa hai đối tượng này
Về thuế thu nhập doanh nghiệp, tuỳ theo mỗi nước có những mức thuế suất khác nhau và có một số
doanh nghiệp thuộc dạng được ưu đãi thuế, điển hình là các công ty đã niêm yết. Không chỉ công ty niêm yết
được ưu đãi thuế mà cổ đông của công ty đó cũng nhận được những ưu đãi về thuế. Đối với doanh nghiệp
nước ngoài cũng được xem xét miễn giảm trong một số trường hợp và thông thường các nước thường ký
hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhau để tránh đánh thuế hai lần với doanh nghiệp nước ngoài.
8
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
2.1. Khái quát sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam
TTCK Việt Nam được ra đời trên cơ sở Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 10/07/1998 của Thủ tướng
Chính phủ về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết định 127/1998/QĐ-TTg ngày
11/07/1998 thành lập hai (02) Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh. Ngày 20/07/2000, TTGDCK Tp.HCM đã chính thức khai trương đi vào vận hành, và thực hiện phiên
giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với hai loại cổ phiếu giao dịch REE và SAM.
2.2. Khung pháp lý hiện hành thuế đối với TTCK Việt Nam
2.2.1. Về thuế Giá trị gia tăng:
Hiện tại, Thông tư 06/2012/TT-BTC ngày 11/1/2012 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế
GTGT quy định các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thuộc dịch vụ tài chính thuộc đối tượng
không chịu thuế GTGT
2.2.2. Về thuế Thu nhập doanh nghiệp:
Đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong giai đoạn đâu hoạt động của thị trường được
2.2.3. Về thuế Thu nhập cá nhân:
Bắt đầu từ ngày 1/1/2009 khi Luật thuế Thu nhập cá nhân có hiệu lực thì nhà đầu tư cá nhân trong
nước và nước ngoài sẽ bị đánh thuế thu nhập đối với cổ tức, trái tức, thu nhập từ chuyển nhượng chứng
khoán, thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán. Cụ thể như sau:
Đối với cá nhân cư trú
Thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn áp dụng theo biểu thuế toàn phần với thuế suất là 5%
Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán sẽ là 20% thu nhập từ chuyển nhượng
chứng khoán; hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng (giá trị bán)
Đối với cá nhân không cư trú:
Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là 5%
Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán là 0,1%.
2.2.4. Về thuế chuyển lợi nhuận ra nƣớc ngoài:
Từ 1/1/2004, thu nhập của các nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển ra nước ngoài không phải nộp thuế.
2.3. Thực trạng triển khai chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam
2.3.1. Thuế đối với nhà đầu tƣ tham gia thị trƣờng
Về chính sách thuế thu nhập cá nhân:
Mức thu 20% đối với thu nhập chuyển nhượng chứng khoán hiện tại là mức thuế cao, mang tính tận
thu, không khuyến khích người dân tham gia đầu tư chứng khoán, chưa thích hợp với thời điểm TTCK Việt
Nam vẫn còn non trẻ như hiện nay.
Mức thuế suất 0,1% giá trị giao dịch không phải nhỏ và mang tính cào bằng, bởi khoản đầu tư lỗ hay
lời đều phải nộp thuế. Cứ giao dịch chứng khoán là phải nộp 0,1% bất kể anh có lợi nhuận hay thua lỗ.
Theo quy định của Luật thì mức thuế suất 5% đối với cổ tức và lãi trái phiếu hiện vẫn đang còn rất
nhiều băn khoăn. Đối với cổ tức do đã bị đánh thuế ở cấp công ty nếu chia cho cổ đông lại đánh thuế thì mức
độ điều tiết đối với khoản thu nhập này tức là bị đánh hai lần thuế thu nhập, các cá nhân sẽ cân nhắc lựa chọn
hình thức đầu tư dưới dạng góp vốn cổ phần hay cho vay vốn.
Đối với lãi từ trái phiếu, bên cho vay có thu nhập nên phải chịu thuế thu nhập.
Về chính sách thuế đối với nhà đầu tư tổ chức:
Nhà đầu tư tổ chức trong nước có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán thì
khoản thu nhập này được xác định là khoản thu nhập khác và kê khai vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế
đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2
năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết.
Hiện tại, các tổ chức phát hành và thực hiện niêm yết chứng khoán lần đầu trên thị trường chứng
khoán sẽ không được hưởng ưu đãi gì về thuế nữa và chịu sự điều chỉnh của Luật thuế TNDN với thuế suất
25% như các doanh nghiệp khác
2.4. Đánh giá chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam thời gian qua
2.4.1. Thành công
- Chính sách thuế đối với TTCK có các văn bản hướng dẫn riêng giúp các chủ thể tham gia thị
trường dễ dàng nắm bắt và thực hiện đúng các quy định của pháp luật thuế về chứng khoán.
- Chính sách thuế đã có những ưu đãi thuế với TTCK trong thời gian đầu đi vào hoạt động có sự
điều chỉnh theo sát các diễn biến của TTCK nhằm giúp đỡ các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán.
2.4.2. Hạn chế
- Các văn bản hướng dẫn về thuế đối với lĩnh vực chứng khoán hiện nằm rải rác trong nhiều văn
bản khác nhau, chưa có tính thống nhất gây khó khăn cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
với cơ quan thuế cũng nhưng thực hiện chiến lược đầu tư tại Việt Nam
- Chính sách thuế hiện tại chưa bao quát hết được hoạt động của thị trường cũng như các sản
phẩm thị trường. Tại những thời điểm nhất định, chính sách thuế đã gây khó khăn người nộp thuế khi áp
dụng để thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Chính sách thuế đối với TTCK hiện tại chưa đề cập đến sản phẩm mới (các dịch vụ giá trị gia
tăng được cung cấp bởi các công ty chứng khoán) và các đối tượng sắp tham gia thị trường (Quỹ đầu tư bất
động sản, quỹ ETF, quỹ hưu trí ).
- Chính sách thuế hiện tại chưa tạo cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các Quỹ.
11
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
liên quan đến chuyển nhượng như chuyển nhượng chứng khoán mà không bị ràng buộc về điều kiện cư trú.
3.2.4. Thuế đối với thu nhập từ đầu tƣ vốn
Cần phân biệt thu nhập của chứng khoán do các công ty hay Chính phủ phát hành, thời gian nắm giữ
chứng khoán lâu thì điều tiết thuế thấp hơn so với chứng khoán có thời gian chuyển nhượng ngắn nhằm
hướng nhà đầu tư theo hướng dài hạn, góp phần làm TTCK phát triển ổn định bền vững.
Riêng đối với chính sách thuế khoán đối với lãi trái phiếu, hiện tại đang đánh thuế trên cả phần lãi
nhận được và mệnh giá trái phiếu với thuế suất là 0,1%. Điều này chưa thực sự phù hợp, vì vậy đối với thu
nhập từ lãi trái phiếu phải sửa đổi lại theo hướng thuế chỉ đánh trên phần lãi trái phiếu, không bao gồm mệnh
giá.
3.2.5. Các chính sách thuế đối với một số chủ thể tham gia TTCK
12
Thuế đối với tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán:
Việc trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, đặc biệt là các đối với cổ phiếu OTC của các
công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cần được quy định rõ áp dụng theo Thông tư số 228/2009/TT-
BTC ngày 07/12/2009 hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho,
tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp
tại doanh nghiệp.
Thuế TNDN đối với tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán:
Các công ty cổ phần có chứng khoán được niêm yết không cần thiết phải bổ sung ưu đãi về thuế
TNDN. Các công ty này khi niêm yết có phát sinh thêm chi phí thì được hạch toán vào chi phí kinh doanh.
Luật thuế TNDN cần cung cấp các hướng dẫn cụ thể liên quan đến chi phí chia cổ tức, chi phí phát
hành cổ phiếu và quản lý các công ty đại chúng trên sàn giao dịch chứng khoán …. Chính sách thuế đối với Quỹ đầu tư chứng khoán:
- Áp dụng phương pháp thuế khoán cho Quỹ đầu tư trong nước
tham gia thị trường chứng khoán. Luận văn trong chừng mực nhất định sẽ góp phần bổ sung về lý luận và
thực tiễn xây dựng, hoàn thiện chính sách thuế trên thị trường chứng khoán, làm cơ sở cho các mục tiêu tham
khảo nghiên cứu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, đề tài chắc chắn vẫn
còn một số hạn chế nhất định. Do vậy, tôi hi vọng sẽ nhận được sự đóng góp của tất cả các thành viên trong
hội đồng để kết quả nghiên cứu của đề tài được hoàn thiện hơn, có thể đóng góp vào quá trình xây dựng và
hoàn thiện chính sách thuế đối với các đối tượng tham gia trên thị trường chứng khoán ./.