i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THANH
HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt – Năm 2012
Đà Lạt – Năm 2012 iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VAY VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG 6
1. 1. Rủi ro tín dụng 6
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng 6
1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 6
1.2. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn 12
1.2.1. Định nghĩa xếp hạng tín dụng 12
1.2.2. Sự cần thiết phải XHTD trong hoạt động tín dụng ngân hàng 12
1.2.3.Vai trò của XHTD 15
1.3. Nguyên tắc và các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 18
1.3.1. Nguyên tắc xếp hạng tín dụng 18
1.3.2. Các chỉ tiêu thường dùng để XHTD doanh nghiệp 20
1.4. Tình hình xếp hạng tín dụng tại Việt Nam 21
1.4.1. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng nhà nước (CIC) 21
1.4.2. Doanh nghiệp kinh doanh thông tin tín dụng 22
1.4.3. Xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thương mại Việt Nam 24
Kết luận Chương 1 27
iv
Kết luận Chương 3 69
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CIC : Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng nhà nước.
NHNN : Ngân hàng Nhà nước.
NHTM : Ngân hàng thương mại.
TCTD : Tổ chức tín dụng.
Vietcombank : Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
VN : Việt Nam.
WTO : Tổ chức thương mại thế giới.
XHTD : Xếp hạng tín dụng.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong lĩnh vực mà Việt Nam sớm mở cửa khi gia nhập WTO là lĩnh vực
tài chính ngân hàng. Do nhiều rào cản bị bãi bỏ nên hoạt động ngân hàng chắc chắn
sẽ trở nên sôi động và cạnh tranh khốc liệt hơn. Để tham gia vào cuộc cạnh tranh
đặc biệt là trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại trong nước ngay từ
bây giờ phải tự đổi mới mình, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả,
phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều đang đi theo mô hình
ngân hàng truyền thống tức là hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi
nhuận nhất (trên 70% lợi nhuận). Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động tín dụng cũng
là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất trong những hoạt động của ngân hàng
thương mại. Vì vậy để hoàn thiện các công cụ quản lý rủi ro tín dụng một cách khoa
học và hiệu quả, các ngân hàng thương mại hiện nay đang triển khai áp dụng hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ hay hệ thống chấm điểm tín dụng của riêng mình,
nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng có
quan hệ dựa trên hệ thống xếp hạng. Từ đó cho phép ngân hàng chủ động lựa chọn
khách hàng và xây dựng chính sách tín dụng hợp lý đối với từng nhóm khách hàng
cụ thể.
Để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và bền vững từ năm 2003
mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của Basel II.
Hiện nay, hầu hết các NHTM vẫn đang thực hiện phân loại nợ theo Điều 6
của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. Nhiều khả năng nợ xấu của các NHTM
có thể cao hơn con số chính thức mà các NHTM đưa ra nếu thực hiện phân loại
khách hàng và nợ theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN căn cứ vào xếp
hạng tín dụng nội bộ của NHTM. Đến ngày 25/04/2007 NHNN đã ban hành Quyết
định 18/2007/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàngcủa tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/04/2005. Qua đó các TCTD phân loại nợ thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn,
nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn, theo tiêu
chí nhóm nợ kết hợp với xếp hạng tín dụng nội bộ của khách hàng đó theo đánh giá
3
của TCTD. Bên cạnh đó, định kỳ TCTD phải có văn bản báo cáo NHNN về tình
hình xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo quy định bao gồm quy trình
xếp hạng và quyết định kết quả xếp hạng; hệ thống chấm điểm tín dụng; hệ thống
cơ sở dữ liệu; quy trình kiểm tra và kiểm soát; tình hình tiến độ thực hiện, thời gian
dự kiến hoàn thành, thời gian dự kiến áp dụng thử nghiệm, kết quả áp dụng thử
nghiệm…
Đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, hệ thống XHTD nội bộ
đã được xây dựng và triển khai ứng dụng từ năm 2003. Từ đó cho đến nay hệ thống
XHTD nội bộ đó của Vietcombank vẫn đang liên tục được chỉnh sửa và hoàn thiện,
nhằm phù hợp hơn với điều kiện kinh tế xã hội, các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam
đã cam kết và điều quan trọng nhất là nhằm sàng lọc khách hàng có hiệu quả giúp
ngân hàng có khả năng ứng phó với rủi ro một cách tích cực và nhanh chóng nhất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
một số đối tượng khách hàng đang có dư nợ tại Vietcombank để có thể tiếp cận
chuyên môn theo nội dung, phương pháp và kỹ thuật XHTD của Vietcombank.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài này trình bày sự cần thiết của hệ thống XHTD đối với các TCTD nói
chung và đối với Vietcombank nói riêng. Đề tài tập trung vào phân tích phương
pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra hướng kiểm chứng các chỉ tiêu nhằm nâng cao
hiệu quả của hệ thống XHTD và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của Vietcombank.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn phân loại nợ và
xử lý rủi ro tín dụng, nhằm hoàn thiện quy trình tín dụng, giúp các nhà quản trị
ngân hàng có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng áp dụng phù hợp cho từng
nhóm đối tượng khách hàng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3
chương :
Chương 1 : Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng ngân hàng và
hoạt động xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng.
Chương 2 : Phân tích thực trạng, những ưu điểm, nhược điểm của hệ thống
xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Chương 3 : Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hệ
thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam.
5
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VAY
VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG
1.1. Rủi ro tín dụng.
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
phá giá vừa qua. Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn
thương không kém. Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới.
Việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải
ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Quá trình
tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra
một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách
hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật
chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế
cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải
nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn
sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên
biển cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng
biên giới, cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà
kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh
nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt
hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là
những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta.
Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng
hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành: Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu
sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu
tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển
dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan.
Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát,
hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động,
chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và
7
bất cập. Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra
NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy
8
ra rồi mới can thiệp. Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số
NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống
lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý
sớm hơn.
d. Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng CIC của NHNN đã
hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng
khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng
nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và
hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật. Đó cũng là thách thức
cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế
trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố
gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin
không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
1.1.2.2. Rủi ro do nguyên nhân chủ quan.
a. Rủi ro từ phía khách hàng vay.
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số
các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể,
khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân
hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết
sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh
nghiệp khác.
giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng. Đạo
đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế
rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán
bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi
được bố trí trong công tác tín dụng.
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các ngân hàng thường có thói
quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá
trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì
khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn
trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín
10
dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách
hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách
hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội
kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác
này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán
bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các
doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà
NHTM yêu cầu.
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu
quả: Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói
cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không
thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi
khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả
nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự
thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách
hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không
Hay xếp hạng tín dụng là các ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và sự
sẵn lòng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (gốc và lãi) của một đối tượng xếp hạng
một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống phân loại theo ký hiệu đã được
xác định trước trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng xếp hạng đó.
Một đối tượng xếp hạng có thể là một chủ thể phát hành (doanh nghiệp,
Chính phủ, Ủy ban nhân dân) hoặc một khoản vay riêng lẻ (thương phiếu/ kỳ phiếu/
trái phiếu/ giấy nhận nợ của doanh nghiệp; hay tín phiếu/ trái phiếu của Chính phủ/
chính quyền địa phương).
1.2.2. Sự cần thiết phải XHTD trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
1.2.2.1. Do yêu cầu hạn chế rủi ro tín dụng.
Tại các Ngân hàng hiện nay, hoạt động tín dụng chiếm 50 - 70% tổng thu
nhập của ngân hàng, song cũng đối mặt với rất nhiều rủi ro. Trong đó, nguyên nhân
phổ biến nhất là đối tượng được cấp tín dụng cố tình lừa đảo, trây ỳ, không trả nợ
đúng hạn, hoặc sử dụng vốn sai mục đích, do yếu kém trong kinh doanh và quản lý.
Rủi ro này hoàn toàn có thể giảm thiểu, nếu các ngân hàng thực hiện tốt khâu
“phòng bệnh”, tức là sàng lọc khách hàng từ trước khi cấp tín dụng.
12
Thông qua xếp hạng tín dụng của khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá cơ
bản về mức độ rủi ro của khách hàng, sàng lọc được khách hàng tốt để phục vụ việc
ra quyết định cấp tín dụng. Đây cũng là cơ sở để ngân hàng có thể tập trung vào các
đặc điểm riêng của khách hàng, để có biện pháp quản lý tín dụng hiệu quả.
Bên cạnh đó, xếp hạng tín dụng cũng giúp ngân hàng giảm chi phí, thời gian
ra quyết định cho vay, cũng như quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn.
1.2.2.2. Do yêu cầu lựa chọn khách hàng cho vay.
Theo kinh nghiệm quốc tế, chỉ những doanh nghiệp hoạt động tốt, được đánh
giá, xếp hạng từ mức an toàn trở lên mới được sử dụng các nguồn lực của xã hội để
bạch. Nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, một số nước Châu Âu có quy
định rất chặt chẽ, chỉ những công ty được xếp hạng tín dụng đạt mức an toàn trở lên
mới được tham gia niêm yết. Thị trường chứng khoán Việt Nam cần chú trọng đến
việc khai thác sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng để bổ sung thông tin định hướng
cho các nhà đầu tư trên thị trường, vì mục tiêu phát triển an toàn, bền vững.
1.2.2.3. Để hỗ trợ phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro.
Mức trích lập dự phòng các khoản cấp tín dụng phụ thuộc vào mức độ rủi ro
của khoản tín dụng đó. Mức XHTD cũng rất hữu ích trong việc xác định khoản vốn
cần thiết để “hấp thụ” đủ những tổn thất tín dụng bất thường ngoài dự kiến. Để “bù
đắp” cho tổn thất tín dụng, các TCTD cũng áp dụng chính sách bảo đảm tín dụng
phù hợp với mức độ rủi ro của khoản cấp tín dụng, theo đó các khoản cấp tín dụng
có mức rủi ro cao (XHTD thấp) sẽ phải có mức bảo đảm tín dụng cao và ngược lại.
1.2.2.4. Xây dựng chính sách khách hàng.
Hỗ trợ quản lý và quản trị khách hàng: Quan hệ khách hàng của các TCTD
phụ thuộc vào mức độ XHTD của khách hàng đó. Những khoản vay có mức rủi ro
cao cần phải kiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khách hàng vay có mức
XHTD thấp cũng cần phải được chú trọng theo dõi, “thăm hỏi”. Ngược lại, những
khách hàng tốt với mức XHTD cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch.
Thiết kế chương trình tín dụng/ sản phẩm tín dụng: đáp ứng nhu cầu vốn cụ
thể cho từng nhóm đối tượng khách hàng riêng biệt, trong đó bao gồm các điều kiện
tín dụng, chích sách giá, chính sách bảo đảm tín dụng …
Xây dựng kế hoạch kinh doanh khách hàng: hỗ trợ các cán bộ khách hàng
xây dựng kế hoạch kinh doanh và tư vấn cho khách hàng cải thiện tình hình XHTD
14
bằng việc tác động vào kế hoạch kinh doanh, đầu tư, và cả quá trình quản trị tài
chính doanh nghiệp.
15
cho vay, giá trị tài sản bảo đảm cần cho khoản vay, lãi suất cho vay. Xếp hạng tín
dụng giúp ngân hàng quản lý tốt hơn danh mục cho vay: giám sát và đánh giá các
khoản tín dụng cho biết khoản vay có chất lượng tốt hay đang có xu hướng xấu đi
từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời. Xếp hạng tín dụng giúp phát triển chiến lược
hướng tới các khách hàng tốt và rủi ro ít hơn. Và đặc biệt xếp hạng tín dụng giúp
ngân hàng quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn.
1.2.3.2. Đối với nền kinh tế.
Tại Việt Nam, khi xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ,
thị trường chứng khoán ra đời và phát triển tất yếu dẫn đến nhu cầu hình thành và
phát triển lĩnh vực xếp hạng tín dụng. Xếp hạng tín dụng giúp tạo lập môi trường
công bằng, khách quan trong quan hệ tín dụng, góp phần lành mạnh sự phát triển
của nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro tài chính trong hệ thống ngân hàng, giúp doanh
nghiệp từng bước nâng giá trị hình ảnh, thương hiệu, năng lực quản trị thông qua
việc quan tâm giữ gìn hoặc cải thiện kết quả xếp hạng của mình.
Xếp hạng tín dụng có một vai trò quan trọng góp phần cho sự phát triển kinh
tế thông qua việc mở rộng tiếp cận đối với thị trường tín dụng, giảm giá thành tín
dụng, giảm rủi ro đối với việc không trả được nợ. Đối với người tiêu dùng, xếp
hạng tín dụng là yếu tố chủ chốt đối với tín dụng tiêu dùng vì giúp họ dễ dàng tiếp
cận được tín dụng tiêu dùng. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xếp hạng tín
dụng giúp tăng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm giá thành và
quản lý rủi ro tốt hơn.
Đối với nền kinh tế quốc gia, tín dụng giúp kích thích tiêu dùng thông qua
tăng các khoản cho vay và sản phẩm tín dụng, tăng kết nối người tiêu dùng với thị
trường thứ cấp và tăng số lượng nguồn vốn để mở rộng và đầu tư cho phát triển
kinh tế; Đối với các tổ chức tín dụng, xếp hạng tín dụng giúp họ ra quyết định cho
vay nhanh hơn và chính xác hơn. Kết quả xếp hạng tín dụng trợ giúp đắc lực cho dự
đoán rủi ro hiệu quả hơn; Đối với Ngân hàng nhà nước, kết quả xếp hạng doanh
nghiệp cho biết mức độ rủi ro theo từng ngành, lĩnh vực kinh tế, từ đó có chính sách
danh tiếng, khả năng thu hút vốn, nhân tài và cả lợi nhuận của doanh nghiệp. Xếp
hạng tín dụng mang lại lợi ích cho cả nhà đầu tư và các công ty chứng khoán, việc
thu hút vốn trên thị trường chứng khoán diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn.
1.2.3.3. Đối với doanh nghiệp được xếp hạng.
Các nước, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là hoạt động phổ biến nhưng ở
17
Việt Nam, điều này vẫn khá mới mẻ. Hiện tại, không nhiều doanh nghiệp trong
nước tiến hành xếp hạng tín dụng, tuy nhiên đây lại là yếu tố quan trọng cho quá
trình quốc tế hóa thương hiệu doanh nghiệp nói riêng, hội nhập nói chung. Do đó
yêu cầu phải có xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là điều tất yếu. Thông qua xếp
hạng tín dụng doanh nghiệp, doanh nghiệp khẳng định được vị thế và uy tín của
mình. Với việc được đánh giá độc lập và khách quan của bên thứ 3, doanh nghiệp.
Danh hiệu có được chỉ có thể trên cơ sở sự minh bạch và khách quan. Cơ chế thị
trường và hội nhập quốc tế được xây dựng trên cơ sở hệ thống thông tin minh bạch,
cơ chế lưu chuyển thông tin và xây dựng lòng tin giữa các thành phần tham gia
trong nền kinh tế. Thương hiệu, uy tín và vị thế được khẳng định thông qua bảng
xếp hạng các doanh nghiệp của xếp hạng tín dụng. Cơ quan thông tin tín dụng –
CIC của ngân hàng nhà nước là đơn vị duy nhất ở Việt Nam cung cấp kết quả, phân
tích xếp hạng doanh nghiệp cho một số cơ quan quản lý nhà nước, hàng năm CIC
công bố các doanh nghiệp tiêu biểu trên sàn chứng khoán.
Nhằm giúp các doanh nghiệp xây dựng hình ảnh và độ tín nhiệm của mình
trong sản xuất, kinh doanh nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam, thì
việc xếp hạng tín dụng là rất cấp thiết và cần thiết. Khi các doanh nghiệp tham gia
đánh giá tín dụng doanh nghiệp sẽ nhận được những thông tin đánh giá hết sức độc
lập, khách quan về tình hình sản xuất kinh doanh của mình, tự mình hiểu được mình
về năng lực tài chính, khả năng thanh toán, công nợ Mặt khác, doanh nghiệp còn
nhận được những dịch vụ tư vấn tài chính, quản lý, thị trường Kết quả xếp hạng
- Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng của quốc gia, ngành như tốc
độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, sự ổn định về chính trị, chính sách tài
chính, sự mở cửa thị trường …;
- Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị
trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoá hoạt động và các luật
lệ quy định;
- Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt chỉ tiêu phụ thuộc vào từng
ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, xem
xét độ linh hoạt tài chính cũng như chính sách tài chính;
- Phân tích hướng phát triển của công ty như chất lượng ban quản lý và chiến
lược kinh doanh;
- Phân tích tình trạng pháp lý của doanh nghiệp.