Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng đối với doanh nghiệp tại Chi nhánh Vietinbank Chương Dương - Pdf 10

LỜI

CẢM

ƠN
Trước

hết

em

xin

chân

thành

cảm

ơn

Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Chương Dương
,
đặc

biệt



Ban

giúp

đỡ

em

trong

thời

gian thực
tập

để

em

hoàn

thành

tốt

qluận

văn

tốt

nghiệp

quý
thầy

cô trường

Đại

học

Kinh tế quốc dân,

đặc

biệt



thầy



của

khoa

Tài
chính – Ngân hàng. Em

xin



tài

luận

văn

tốt

nghiệp.
Trong

quá

trình

thực

tập,

do

thời

gian



hạn



cũng

như
còn hạn
chế về
kinh

nghiệm

thực

tế nên

không

tránh

khỏi

những

thiếu sót.

Do

đó,
để

luận

giáo

viên hướng

dẫn

cũng

như

Ban

lãnh

đạo

Ngân
hàng.
Em

xin

kính

chúc

quý

thầy


Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương

ngày
càng

lớn

mạng

và phát

triển

bền

vững.
Xin

chân

thành

cám

ơn!
Ngày
15
tháng 4.năm

2009

nhằm đóng góp thêm một quan điểm, và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác phân tích tín dụng của Chi nhánh Vietinbank Chương Dương.
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ PHÂN TÍCH TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua năm 1997
và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (được
thông qua ngày 15/6/2004) thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có
liên quan”, còn “hoạt động ngân hàng” được hiểu là “hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân
hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính
sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Ngân hàng nói chung
và Ngân hàng thương mại nói riêng có 3 chức năng chính như sau:
- Trung gian tài chính: Trong nền kinh tế, luôn tồn tại hai loại chủ thể, một
loại có chi tiêu và đầu tư vượt quá thu nhập, nghĩa là cần bổ sung vốn, còn một
loại có thu nhập lớn hơn chi tiêu, như vậy họ có tiền để tiết kiệm. Tuy nhiên,
không phải lúc nào hai loại chủ thể trên cũng có thể tiếp xúc trực tiếp với nhau,
3

doanh vàng và ngoại tệ….
Không chỉ có thế, trên đường xây dựng một mô hình tập đoàn tài chính –
ngân hàng đa năng, nhiều Ngân hàng thương mại VN đã mở rộng đầu tư sang
chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản…. bằng cách thành lập những công ty con,
hoạt động trong các lĩnh vực riêng biệt với trung tâm là ngân hàng mẹ. Dù vậy,
đối với bất kỳ Ngân hàng nào tại VN nói riêng và trên thế giới nói chung thì tín
dụng vẫn là hoạt động cơ bản, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản cũng
như lợi nhuận. Vì thế, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập
trung nhiều nhất vào hoạt động tín dụng, và đây luôn là mối quan tâm lớn nhất
của các Ngân hàng thương mại.
1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền
sản xuất hàng hóa, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy cung
cấp và lưu thông hàng hóa. Có rất nhiều cách hiểu về hoạt động tín dụng, tuy
nhiên một cách chung nhất thì tín dụng là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa các
chủ thể, trong đó chủ thể này chuyển cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng tiền tệ (hoặc hàng hóa), theo những điều kiện nhất định mà hai bên
cùng đồng ý.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
Ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi
phí nhất định. Về ý nghĩa thì khái niệm tín dụng rộng hơn cho vay. Thực tế,
cho vay chỉ là một trong nhiều hình thức cấp tín dụng, bởi còn có nhiều hình
thức khác như chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán…
Tất cả những nghiệp vụ này đều là việc Ngân hàng cho phép khách hàng
sử dụng vốn của mình, xuất phát từ sự tin tưởng nhất định đối với khách
hàng.
5
Theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật các tổ chức tín dụng thì “hoạt động tín dụng” là việc tổ chức tín dụng sử

- Tín dụng dài hạn: Từ 5 năm trở lên, dùng để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm những thiết bị có thời gian sử dụng lâu,
đầu tư các dự án lớn…
Tất nhiên, việc phân chia này cũng chỉ có tính chất tương đối vì có nhiều
khoản cho vay không xác định trước được chính xác thời gian.
+Căn cứ theo hình thức tài trợ: Tùy theo hình thức tài trợ, tín dụng có thể
được chia thành cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh
toán…
- Cho vay: Là việc Ngân hàng cấp tiền cho khách hàng, với cam kết hoàn
trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể cho vay thấu
chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức….
- Chiết khấu: Là hình thức cấp tín dụng trong đó Ngân hàng nhận các
chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền nhất định, thông thường
nhỏ hơn mệnh giá của chứng từ được chiết khấu. Phần chênh lệch chính là lợi
nhuận mà Ngân hàng được hưởng.
- Bảo lãnh: Là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng (bên bảo lãnh) với
bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng (bên được bảo lãnh), nếu khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh.
- Cho thuê: Là việc Ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng
thuê lại theo những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian, khách hàng phải
trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng.
- Bao thanh toán: Là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng
cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong
7
hợp đồng mua, bán hàng hóa (QDD số 1096/2004/QĐ-NHNN).
+Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
- Tín dụng không có đảm bảo: Là loại hình tín dụng không cần có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Điều đó có nghĩa, việc cho

học…
- Tín dụng công nghiệp & thương mại: Là loại hình cho vay phục vụ sản
xuất kinh doanh công nghiệp, thương mại, dịch vụ…
- Tín dụng nông nghiệp: Là loại hình cho vay để trang trải các khoản chi
phí sản xuất trong hoạt động nông nghiệp.
+Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
- Tín dụng có thời hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trả nợ định
trước, được xác định rõ trong hợp đồng. Có thể có một hoặc nhiều kỳ hạn trả
nợ (nợ được trả thành một hoặc nhiều lần).
- Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Có thể do Ngân hàng yêu cầu, hoặc
người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng cần phải thông báo trước
cho Ngân hàng một khoản thời gian hợp lý.
* Những phương pháp phân loại kể trên cho thấy tính đa dạng, hoặc
chuyên môn hóa trong cấp tín dụng của các Ngân hàng. Trong xu hướng đa
dạng hóa hoạt động, các Ngân hàng có thể đồng thời mở rộng phạm vi tài trợ
và duy trì những lĩnh vực mà mình có lợi thế. Với việc phân loại tín dụng hợp
lý, các Ngân hàng cũng dễ dàng theo dõi mức độ rủi ro và sinh lợi gắn liền
với mỗi lĩnh vực tài trợ, từ đó đề ra chính sách tín dụng phù hợp.
1.1.2.2 Các nghiệp vụ tín dụng
1.1.2.2.1 Cho vay
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất
9
định theo thỏa thuân với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay, được tính từ khi
khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay.
+Cho vay thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho
phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình
đến một giới hạn nhất định, trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn
này được gọi là hạn mức thấu chi.

phương án sử dụng tiền vay, cung cấp các chứng từ hàng hóa và nêu yêu cầu
vay vốn. Hình thức này rất thích hợp với những khách hàng vay mượn thường
xuyên, và giúp khách hàng chủ động trong quản lý ngân quỹ. Tuy nhiên,
Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát các khoản cho vay.
+Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển
của hàng hóa., thường được áp dụng khi doanh nghiệp mua hàng nhưng thiếu
vốn. Khi đó, doanh nghiệp sẽ làm đơn xin vay vốn và cam kết trả nợ ngay khi
thu được tiền bán hàng. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một
hoặc vài năm, và cả Ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế
hoạch luân chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quĩ trong thời gian sắp tới.
Trong cho vay luân chuyển, thời hạn cho vay không phải là thời hạn trả
nợ (khác với các nghiệp vụ cho vay khác) mà là thời hạn để Ngân hàng xem
xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định xem có nên cho vay nữa
hay không. Các khoản phải thu và hàng hóa trong kho đều trở thành vật đảm
bảo cho khoản cho vay.
Hình thức này rất tiện lợi cho khách hàng, nhưng Ngân hàng có thể
không thu hồi được vốn nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiêu thụ
hàng hóa.
+Cho vay trả góp: Là loại hình cho vay trong đó Ngân hàng cho phép
11
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho
vay trả góp thường được áp dụng cho các khoản vay có thời hạn dài, tài trợ
cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
Cho vay trả góp có rủi ro khá cao do khách hàng thường thế chấp bằng
chính hàng hóa mua trả góp, do dó lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất
trong khung lãi suất của Ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp: Ngoài các khoản cho vay trực tiếp, Ngân hàng cũng
có thể cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng chuyển giao một
số khâu của hoạt động tín dụng cho các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ
nữ…., nhằm tiếp cận tốt hơn với thị trường có nhiều khoản vay nhỏ, người

Cho thuê tài sản lại có thể chia thành hai hình thức, là thuê vận hành và
thuê tài chính. Thuê vận hành (thuê hoạt động) là hợp đồng cho thuê ngắn
hạn, chi phí thuê bao gồm cả hao mòn tài sản, chi phí bảo dưỡng, bảo hiểm và
lợi nhuận của bên cho thuê. Trong trường hợp này, chi phí thuê thường cao vì
bên cho thuê chịu nhiều rủi ro xung quanh giá trị của tài sản.
Thuê tài chính là hình thức phổ biến hơn, về thực chất là một phương
pháp tài trợ vốn. Thông thường, người đi thuê sẽ lựa chọn tài sản cần sử dụng,
sau đó thương lượng với công ty cho thuê tài sản (hoặc Ngân hàng). Khi đó,
Ngân hàng sẽ bỏ tiền ra mua tài sản để cho doanh nghiệp thuê lại. Cũng có
trường hợp, doanh nghiệp bán tài sản cho Ngân hàng rồi đi thuê lại chính tài
sản đó.
Một hợp đồng thuê tài chính phải thỏa mãn 3 điều kiện:
- Người đi thuê có quyền mua lại tài sản khi chấm dứt hợp đồng thuê
- Thời gian thuê tối thiểu phải bằng 75% thời gian sử dụng của tài sản
- Hiện giá của các khoản tiền thuê ít nhất phải bằng 90% giá thị trường
của tài sản ở thời điểm thuê
Thuê tài chính có những ưu điểm nhất định so với bỏ tiền ra mua tài sản,
13
và tùy tình hình là doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án tối ưu.
- Nếu đi thuê tài chính, khách hàng có thể tránh được rủi ro do sở hữu tài
sản. Trong nhiều hợp đồng thuê, người đi thuê có quyền chấm dứt hợp đồng
trước thời hạn (và chịu một khoản phạt). Khi đó, rủi ro về sự lạc hậu hay mất
giá của tài sản sẽ cho người cho thuê gánh chịu.
- Linh hoạt hơn nhiều so với đi mua. Điều này đặc biệt thích hợp với
những khách hàng chỉ có nhu cầu sử dụng tài sản theo thời vụ, nhờ đó họ có
thể thay đổi tài sản một cách dễ dàng.
- Lợi ích về thuế. Đối với thuê hoạt động, chi phí thuê sẽ được tính vào
chi phí trước khi xác định lợi nhuận nộp thuế.
- Tiết kiệm thời gian. Trong nhiều trường hợp, quy trình ra quyết định
thuê tài sản nhanh hơn nhiều so với việc đi mua.

- Bảo lãnh vay vốn là cam kết của Ngân hàng đối với bên cho vay (tổ
chức tín dụng, cá nhân, doanh nghiệp…..) về việc trả gốc và lãi đúng thời hạn
nếu người đi vay không trả được.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán là cam kết của Ngân hàng về việc sẽ
thanh toán tiền theo đúng hợp đồng cho người thụ hưởng nếu khách hàng
không thanh toán đủ.
+Bao thanh toán về bản chất là hoạt động mua bán nợ, nói cách khác thì
Ngân hàng đã mua lại các khoản phải thu của doanh nghiệp. Nhờ có sự
chuyên môn hóa trong việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ,
Ngân hàng có thể nâng cao hiệu suất và giảm chi phí thu nợ. Trong khi đó,
doanh nghiệp không cần bận tâm đến việc thu nợ mà chỉ tập trung vào sản
xuất kinh doanh.
Với nghiệp vụ bao thanh toán, khách hàng có thể nhận được những tiện
ích sau:
15
- Có thể thu tiền hàng ngay lập tức, tăng nguồn vốn lưu động, thực chất
thì doanh nghiệp đã sử dụng tín dụng của Ngân hàng mà không cần phụ thuộc
vào tài sản thế chấp.
- Tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí trong việc theo dõi và thu hồi
khoản phải thu, được Ngân hàng hỗ trợ đánh giá tình hình kinh doanh và uy
tín tín dụng của bên mua trước khi giao hàng
- Nếu sử dụng hình thức bao thanh toán miễn truy đòi thì Ngân hàng sẽ
gánh chịu hộ rủi ro thanh toán đối với người bán chịu hàng hóa.
Theo quy chế Hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng ban hành
kèm Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN thì tổng số dư bao thanh toán cho một
khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của đơn vị bao thanh toán.
Ngoài ra, các khoản phải thu phát sinh từ các giao dịch bán hàng dưới hình
thức ký gửi, từ các hợp đồng mua, bán hàng có thời hạn thanh toán còn lại dài
hơn 180 ngày… cũng không được thực hiện bao thanh toán.
*Với các nghiệp vụ tín dụng đa dạng như đã kể trên, Ngân hàng có thể

hay không thường xuyên….) sẽ tác động đến nội dung và thành công của
chính sách tín dụng.
- Khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng: Mức độ an toàn
cũng như tỷ lệ sinh lời của các hoạt động tín dụng được quyết định chính bởi
khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Nếu khách hàng làm ăn thuận lợi, Ngân hàng sẽ dễ dàng thu hồi
vốn và ngược lại.
- Chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Các chính sách ưu
đãi tín dụng, chính sách tỷ giá, chính sách hỗ trợ lãi suất…. của Chính phủ và
Ngân hàng nhà nước đều có ảnh hưởng đến chính sách tín dụng. Nếu Chính
phủ yêu cầu thu hẹp cung tiền, các Ngân hàng thương mại phải hạn chế cấp
tín dụng mới và ngược lại.
17
- Tính chất của các khoản tiền gửi: Quy mô, tính ổn định… của các
khoản tiền gửi, cũng như khả năng huy động vốn của Ngân hàng đều có tác
động lớn đến chính sách tín dụng. Nếu nguồn tiền gửi dài hạn chiếm tỷ trọng
lớn, Ngân hàng có thể gia tăng các khoản tín dụng trung và dài hạn, và
ngược lại.
1.1.2.3.3 Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng
Tất cả các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được xem
xét và đưa ra trong chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng tạo cho cán bộ
tín dụng ý thức về phương hướng và một khung tham chiếu nhất định để theo
đó xem xét cân nhắc một khoản cho vay. Tất nhiên, chính sách tín dụng
không nên quá cứng nhắc đến mức bóp nghẹt tính sáng tạo của cán bộ tín
dụng, hay ngăn cản các trường hợp ngoại lệ có thể đưa ra một khoản cho vay
an toàn.
+Chính sách khách hàng
Nhìn chung, khách hàng nhận tín dụng của Ngân hàng rất đa dạng, từ
doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, các cơ quan Nhà nước…. tuy nhiên
luật pháp cũng cấm, hoặc hạn chế Ngân hàng cho vay đối với một số đối

thù hoạt động của người đi vay). Nếu Ngân hàng chủ yếu huy động các khoản
tiền gửi ngắn hạn và khả năng chuyển đổi kỳ hạn của nguồn không cao thì
chính sách thời hạn sẽ hướng tới các khoản cho vay ngắn hạn là chính. Đương
nhiên, nếu Ngân hàng có khả năng chuyển hoán nguồn tốt thì chính sách thời
hạn tín dụng và kỳ hạn nợ sẽ nghiêng về đáp ứng kỳ hạn của người vay.
+Các khoản đảm bảo
Chính sách đảm bảo bao gồm các quy định về những trường hợp tài trợ
cần đảm bảo bằng tài sản, các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng, cách
thức thẩm định và quản lý tài sản đảm bảo. Ngoài ra, chính sách này cũng nêu
rõ danh mục các đảm bảo được Ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ phần trăm cho vay
19
đối với mỗi loại đảm bảo.
Đảm bảo có thể bằng phương pháp cầm cố, thế chấp, và Ngân hàng
thường yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm tài sản. Chính sách đảm bảo
cũng quy định về việc sử dụng tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay.
+ Các khoản nợ xấu
Chính sách với các tài sản có vấn đề (các khoản nợ xấu) quy định về
cách thức xác định nợ xấu và các tài sản có khả năng mất vốn khác, tỷ lệ nợ
xấu có thể chấp nhận được. Bên cạnh đó, nó cũng đề cập tới mức độ rủi ro
của món vay, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác.
*Cùng với phân tích tín dụng, chính sách tín dụng là xương sống trong
hoạt động của Ngân hàng thương mại. Thực chất, đây chính là chính sách
khách hàng của Ngân hàng.
1.1.3 Rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng luôn phải đối đầu với rủi ro như
rủi ro tín dụng, thanh khoản, hối đoái, lãi suất….
Phần lớn nguồn vốn của Ngân hàng là các khoản tiền gửi phải trả khi
được yêu cầu. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trở nên ngày càng
“phẳng”, các nguồn tiền gửi này thường dễ dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với

toàn. Vì thế, chỉ cần tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra thấp hơn mức tổn thất
dự kiến thì đã là một thành công
+Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng: Có rất nhiều nguyên nhân gây ra
rủi ro tín dụng, tuy nhiên về cơ bản có thể chia thành các loại sau:
- Nguyên nhân bất khả kháng (rủi ro chính sách, rủi ro hệ thống): Khi
Chính phủ thay đổi chính sách, hoặc thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh…. xảy
ra, có thể xuất hiện những biến cố vượt quá tầm kiểm soát và dự báo của cả
21
người vay lẫn Ngân hàng. Trong những trường hợp bị tổn thất nặng nề, khả
năng trả nợ của Ngân hàng chắc chắn sẽ bị suy giảm.
- Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay: Những nguyên nhân thuộc
loại này thường xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý, sử dụng vốn của
người đi vay, hoặc cũng có thể do họ chủ định lừa đảo cán bộ Ngân hàng. Rất
nhiều người vay sẵn sàng sử dụng thủ đoạn ứng phó với Ngân hàng như cung
cấp thông tin sai lệch, mua chuộc…. nhằm thu được lợi nhuận cao. Cũng có
thể, người vay đã tính toán sai hoặc không có khả năng dự báo những bất trắc
xảy ra trong tương lai
- Nguyên nhân thuộc về Ngân hàng: Trình độ chuyên môn không tốt,
không đủ khả năng đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt, cố tình làm
sai…cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Nhân viên tín dụng phải tiếp
cận với rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh…. nên họ có thể mắc sai
sót trong khâu thẩm định khoản cho vay. Nhiều trường hợp, do sống và làm
việc trong một môi trường “nhạy cảm” nên nhân viên tín dụng không giữ
được bản lĩnh, đã tiếp tay cho khách hàng rút ruột Ngân hàng.
*Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng:
Ngân hàng cần phải quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín
dụng, Ngân hàng có thể cụ thể hóa thành những dấu hiệu chính phát sinh
trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng.
+ Nợ quá hạn & tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

ổn định kinh doanh. Cơ sở của bảo hiểm ngân hàng là các nghĩa vụ chi trả bảo
hiểm cho các ngân hàng khi gặp sự cố rủi ro
- Xây dựng một nền tảng công nghệ hiện đại, đảm bảo các yêu cầu về
quản lý nội bộ của ngân hàng, thỏa mãn yêu cầu của các giao dịch kinh doanh
23
ngày càng đa dạng, yêu cầu quản lý rủi ro, quản lý thanh khoản, có khả năng
kết nối với các ngân hàng khác
1.2 Phân tích tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, quy trình phân tích tín dụng
1.2.1.1Khái niệm, mục tiêu và yêu cầu
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất, nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi
ro nhất của Ngân hàng thương mại. Tuy xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau, những rủi ro này đều làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Vì thế, Ngân
hàng cần cân nhắc và thẩm định kỹ lưỡng, ước tính mức độ rủi ro và sinh lời
trước khi quyết định cấp tín dụng. Phân tích tín dụng là quá trình đánh giá
toàn diện về nhu cầu vay vốn của khách hàng, xem liệu chúng có phù hợp với
những quy định của Ngân hàng hay không, có khả năng hoàn trả đúng hạn
hay không, đồng thời qua phân tích đó Ngân hàng xác định được mức độ rủi
ro trong quá trình cho vay.
Mục tiêu của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý muốn hoàn trả
của người nhận tín dụng, nói cách khác là xác định rủi ro và các biện pháp
hạn chế rủi ro.
Phân tích tín dụng là công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, nếu không
muốn nói là quan trọng bậc nhất trong số các nghiệp vụ Ngân hàng. Đây là
hoạt động liên quan đến trách nhiệm của nhiều phòng ban, bộ phận, do đó qui
trình phân tích tín dụng phải đáp ứng các yêu cầu sau
+Được xây dựng và thống nhất trong phạm vi toàn bộ Ngân hàng, tránh
việc tùy tiện, duy ý chí. Quy trình này phải được BLĐ Ngân hàng thông qua
và phổ biến tới các bộ phận có liên quan.
+ Được xây dựng chi tiết trong nội dung phân tích, tránh chung chung.

Đây là một trong những bước quan trọng nhất, vì nó quyết định chất
25

Trích đoạn Nhân tố khách quan Quá trình hình thành và phát triển Bộ máy tổ chức Tình hình hoạt động Thực trạng chất lượng phân tích tín dụng tại Chi nhánh Vietinbank Chương Dương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status