Hiệu ứng Bullwhip (hiệu ứng cái roi da). - Pdf 25

- - BULLWHIP EFFECT -
I. Mục đích nghiên cứu
Hiệu ứng Bullwhip (hiệu ứng cái roi da).Đây là một hiện tượng quan trọng và có
ý nghĩa đột phá trong các quyết định về quản trị chuỗi cung ứng.
Hiểu được bản chất của hiệu ứng Bullwhip giúp các nhà quản lý tìm ra phương
cách giảm thiểu nó.
Hiểu Bullwhip một cách có hệ thống để áp dụng vào công việc kinh doanh hiệu
quả.
II. Nội Dung
1. Vài nét về Bullwhip effect
Hiệu ứng Bullwhip được phát triễn gốc gác sâu xa bởi tiến sĩ Ray Forrester
(MIT) vào năm 1961 trong nghiên cứu có tên Industrial Dynamics và do đó người ta
còn gọi hiệu ứng Bullwhip là hiệu ứng Forrester (TS Forrester sau này rất nổi tiếng với
mô hình System Dynamics được ứng dụng rộng rãi trong phân tích và hoạch định kinh
doanh, chiến lược kinh doanh, các nghiên cứu của ông là nền tảng cho các khái niêm
phát triễn sau này như Strategy Dynamics, Business Dynamics,...).
Tuy nhiên Bullwhip effect chỉ được phát triễn một cách toàn diện bởi GS Hau
Lee trong bài báo “The Bullwhip effect in Supply Chain” trên tạp chí MIT Sloan
Management Rewiew năm 1997. Từ đó người ta mới nhìn nhận thực sự vai trò và tác
động của hiệu ứng này.
Cùng gắn với Bullwhip effect trường MIT đã phát triễn một trò chơi giả lập
nhằm giúp người chơi hiểu rõ vai trò và tác động của Bullwhip có tên là Beer Game.
Trong trò chơi này người chơi sẽ đóng vai trò người tiêu dùng, người bán lẻ, nhà bán sỉ,
và nhà cung cấp một nhãn hiệu bia phổ thông.Người chơi không thể trao đổi với nhau
và phải tự đưa ra quyết định của mình dựa trên đơn hàng của người có liên quan trực
tiếp đang đóng vai trò là khách hàng của mình. Và khi càng chơi, thì người ta càng phát
hiện ra rằng càng đi ngược sâu vào chuỗi cung ứng thì mức độ biến động đơn hàng
càng lớn. Và một số công ty khác thì thì phát triễn thêm trò chơi có tên Near Bear
Game là trò chơi có ảnh hưởng rộng lớn trong các doanh nghiệp, mà bản thân các CEO
hàng đầu thế giới khi chơi trò chơi này đều thốt lên “Thật quá trễ khi tham gia trò chơi
này. Nếu được chơi sớm thì có lẻ tôi đã cải thiện được nhiều điều”.

chuỗi cung ứng. Trong quá khứ do không thể thấy hết được doanh số bán của mình
trong kênh phân phối nên HP chỉ có thể dựa vào đơn hàng của đại lý để đưa ra dự
báo sản phẩm, lên kế hoạch nguồn lực, kiểm soát tồn kho và lên kế hoạch sản
xuất.Sự chênh lệch quá lớn trong dự báo nhu cầu đang trở thành bài toán đau đầu
cho ban quản trị HP. Triệu chứng thông thường của sự biến động ấy là tồn kho quá
mức, dự báo kém, năng lực dư thừa hoặc thiếu hụt, dịch vụ khách hàng tệ do sản
phẩm có sẵn hoặc tồn kho dự trữ quá lâu, kế hoạch sản xuất không ổn định và chi
phí tốn kém từ việc sửa chữa như dùng vận tải chi phí cao, làm việc ngoài giờ...)
Nhiều năm trước đây, tổ chức ECR (Efficient Consumer Respone ) đã cố
gắng tái xác lập các chuỗi cung ứng hàng hóa vận hành.Một trong những động cơ
chính của hành động này là do tồn kho quá mức trong chuỗi cung ứng bán lẻ. Nhiều
nghiên cứu trong nghành cho thấy tổng chuỗi cung ứng từ lúc sản phẩm rời nhà
máy đến khi nó được sẵn sàng trên kệ có lượng tồn kho tương đương 100 ngày cung
cấp.Thông tin bị méo mó đã dẫn dắt các thực thể trong chuỗi cung ứng kho của nhà
máy, kho thành phẩm của nhà sản xuất, kho trung tâm của nhà phân phối, kho của
nhà bán lẻ phải dự trữ hàng bởi vì mức độ biến động và không chắc chắn của nhu
cầu.Sẽ không ngạc nhiên khi ECR ước tính có thể cắt giảm khoảng 30 tỷ USD các
khoản không hiệu quả trong chuỗi cung ứng bán lẻ. Trong chuỗi cung ứng của một
sản phẩm điển hình, ngay cả trong trường hợp doanh số không biến động nhiều thì
nó cũng được chuyển hóa thành những biến động trong đơn hàng của nhà bán lẻ
đến nhà bán sỉ. Thậm chí còn cao hơn khi đến nhà sản xuất và cung cấp.
3. Các nguyên nhân của hiệu ứng Bullwhip
Theo thí nghiệm Sterman ( trong cuốn Nguyên tắc thứ năm ) cho thấy chính
hành vi của con người, hiểu sai về tồn kho và thông tin nhu cầu có thể gây ra hiệu
ứng Bullwhip.Ngược lại ta chỉ ra rằng Bullwhip effect là hậu quả của hành vi khá
hợp lý của con người trong bối cảnh hạ tầng của chuỗi cung ứng.Điều này nghĩa là
các công ty muốn kiểm soát hiệu ứng Bullwhip thì nên tập trung vào kiểm soát và
điều chỉnh hạ tầng chuỗi cung ứng và các quy trình liên quan hơn là điều chỉnh
hành vi của người ra quyết định.
 Bốn nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng Bullwhip

quá lớn. Nhiều nhà sản xuất đặt hàng với nhà cung cấp khi họ chạy các hệ thống
MRP( Material Requirement Planning ). Hệ thống MRP thường chay hàng tháng và
ra kết quả đặt hàng hàng tháng. Một công ty có những sản phẩm ít bán chạy sẽ
thường đặt hàng theo tháng nhiều hơn
Hãy xem một công ty đặt hàng mỗi tháng từ nhà cung cấp của mình. Nhà cung cấp
này sẽ gặp tình trạng đơn hàng thất thường.Vì đơn hàng có thể rất cao vào một thời
điểm trong tháng trong khi cả tháng lại không có đơn hàng. Và điều này cũng góp
phần gây ra hiệu ứng Bullwhip.
Một trở ngại lớn và phổ biến khác đối với một công ty muốn đặt hàng thường xuyên
chính là tính kinh tế của vận tải. Rõ ràng có sự khác biệt giữa một FTL (Full Truck
Load ) Và LTL (Lesst Truck Load ).
Trong mô hình đặt hàng đẩy (push order), một công ty có thể trãi qua tình trạng tăng
đột biến thường xuyên về nhu cầu. Công ty này có những đơn hàng "đẩy" từ khách
hàng của mình định kỳ bởi vì người bán hàng thường được đánh giá định kỳ theo
quý hoặc năm, điều này làm phát sịnh tình trạng đơn hàng tăng đột biến cuối tháng
hoặc cuối năm. Nhân viên bán hàng thường hoàn thành hạn ngạch bán hàng bằng
cách mượn các đơn hàng của kỳ kế tiếp.
Khi một công ty đối diện với các đơn hàng định kỳ từ khách hàng thì cũng là lúc
hiệu ứng Bullwhip xuất hiện.Nếu tất cả các chu kỳ đơn hàng được phân bổ đều
trong suốt một tuần thì hiệu ứng Bullwhip sẽ được giảm thiểu.
 Biến động giá cả
Theo ước tính 80 phần trăm các giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà phân phối trong
nghành tạp hoá (bán lẻ) được thực hiện dưới hình thức forward buy ( mua kỳ hạn )
theo đó các sản phẩm được mua trước khi có nhu cầu, thường do mức giá hấp dẫn
của nhà cung cấp chào bán. Các hợp đồng forward buy chiếm từ 75 tỷ đến 100 tỷ
USD tồn kho của ngành bán lẻ .
Forward buy thường do sự biến động giá cả trên thị trường. Nhà sản xuất và phân
phối định kỳ có chương trình khuyến mãi đặc biệt như chiếc khấu giá, chiếc khấu
theo số lượng, coupon, thối tiền ....Tất cả những chương trình khuyến mãi này dẫn
tới sự biến động giá cả. Hơn nữa, nhà sản xuất thường chào mời những hợp đồng

mình lên khi họ đặt hàng.Sau đó khi mà nhu cầu đã nguội, đơn hàng sẽ bất thình
lình bị huỷ bỏ. Điều này có vẻ thể hiện sự phản ứng thái quá sẽ xuất hiện khi có tình
trạng thiếu hụt và chế độ phân bố xuất hiện. Tác động của trò chơi này là đơn hàng
của khách hàng phản ánh không chính xác nhu cầu thực. Hiện tượng này xuất hiện
khá phổ biến.Vào những năm 1980, nhiều lần ngành công nghiệp máy tính rơi vào
tình trạng thiếu hụt. Đơn hàng tăng vọt, nhưng không phải do tiêu thụ tăng mà do
dự đoán. Khách hàng đặt hàng gấp đôi với nhiều nhà cung cấp khác nhau và chính
thức mua từ nhà cung cấp đầu tiên có thể giao hàng sau đó huỷ bỏ các đơn hàng
trùng lặp còn lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status