SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT GIA HỘI
***
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
Tên đề tài:
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ
THEO HƯỚNG THI PHÁP HỌC
Họ và tên: TRẦN THỊ THU HÀ
Chức vụ: GIÁO VIÊN
Đơn vị: TRƯỜNG THPT GIA HỘI
Huế, tháng 3 năm 2013
2
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ THEO HƯỚNG
THI PHÁP HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề dạy học môn Văn trong trường phổ thông có ý nghĩa thời sự nóng
hổi, luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong xã hội. GS. Trần
Đình Sử đã khẳng định rõ: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc
hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc
các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao
đẹp của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn
học”. Luận điểm này đã đặt lại vấn đề: “Trở về với văn bản văn học nghệ
thuật là con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn hiện nay”.
Văn chương vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con người
hóa thân và thăng hoa. Vì thế nó vô cùng tinh vi và phức tạp. Môn Ngữ văn
trong nhà trường là môn khoa học nhân văn. Tuy vẫn mang tính phức tạp của
đối tượng nghiên cứu, song là một môn học thì nó phải đòi hỏi những chuẩn
mực khoa học để đánh giá các hoạt động giảng dạy, học tập của giáo viên và học
phần rèn luyện, phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh trong giờ đọc –
hiểu tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn bậc THPT, tôi chọn đề tài: Đọc
– hiểu văn bản Hai đứa trẻ theo hướng thi pháp học.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lý luận.
a. Thế nào là thi pháp học ?
Thi pháp học là bộ môn khoa học cũ mà mới. Cũ là bởi vì nó đã xuất hiện
ở Hy Lạp từ thời cổ đại với Nghệ thuật thi ca của Aristote. Nhưng Thi pháp học
với tư cách là một bộ môn khoa học chỉ hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi
dịch chuyển sang Âu – Mỹ và phổ biến khắp thế giới. Ở Việt Nam trước 1975,
Thi pháp học đã thâm nhập vào miền Nam nhưng chưa có điều kiện phổ biến ở
miền Bắc. Mãi đến sau Đổi mới, nó mới được chú ý và nhanh chóng trở thành
“mốt” thời thượng được nhiều người vận dụng. Thi pháp học được dạy ở bậc
Cao học, Đại học và có trong sách bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học.
Tinh thần Thi pháp học đang thấm dần trong sách giáo khoa, trong giờ giảng
văn và trong bài làm văn học sinh. Thi pháp học đang thu hút sự quan tâm của
giới học đường.
Thi pháp học truyền thống giải thích văn học bằng các nguyên nhân làm ra
văn học ở bên ngoài. Đó là tự nhiên, hiện thực xã hội, trí tưởng tượng, tình cảm,
cá tính sáng tạo, thế giới quan Những nguyên nhân đó có vai trò không thể
thiếu của chúng song không phải đã là tất cả. Thi pháp học hiện đại muốn tìm
một con đường khác, thâm nhập vào bản thể văn học.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Nhưng trong nhà trường, nên
có một cách hiểu thống nhất vì tất cả học sinh phải học chung một sách giáo
khoa, thi chung một đề, một đáp án. Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân
tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm
ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật,
4
giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố
hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu –
niệm nghệ thuật về con người thì cần phải đặt nó thành mục riêng, như: Thơ
Nguyễn Công Trứ, truyện ngắn Nam Cao…
* “Hình tượng thế giới” không chỉ có nhân vật mà còn có không gian, thời
gian. Thi pháp học chỉ chú ý những chi tiết không gian, thời gian nào có ý nghĩa,
góp phần thể hiện cuộc sống con người, chúng vừa mang tính quan niệm lại vừa
như một thủ pháp nghệ thuật (lấy cảnh tả tình). Không gian và thời gian thường
5
gắn liền với nhau, chi phối, cộng hưởng lẫn nhau tạo ra một “thế giới mang tính
quan niệm”. Cần chú ý đặc điểm của chúng trong mỗi thể loại, mỗi giai đoạn
văn học, mỗi tác giả, tác phẩm. Nó có thể được phân tích ở tầm bao quát nhưng
cũng có thể được phân tích ở các chi tiết nhỏ.
* Trong văn học có nhiều loại kết cấu: không gian – thời gian – điểm
nhìn – nhân vật – chi tiết – ngôn từ… nhưng quan trọng hơn cả là kết cấu cốt
truyện. Lâu nay, trong giờ giảng văn, thầy và trò thường có thao tác tìm hiểu bố
cục tác phẩm để dễ phân tích. Nhiều truyện hiện đại thường theo lối trần thuật
phi tuyến tính, đa tuyến nên chia bố cục không dễ dàng. Chẳng hạn, truyện Chí
Phèo không thể chia đoạn theo thời gian trần thuật được mà phải chia theo hình
tượng nhân vật: Chí Phèo – Bá Kiến, rồi trong Chí Phèo lại chia theo thời gian
sự kiện: lúc còn lương thiện – lúc bị lưu manh hóa – lúc ý thức phục thiện.
Ngoài ra, cần phải cho thấy dụng ý của tác giả khi đảo lộn thứ tự sự kiện. Chú ý
khai thác các chi tiết đắt có vai trò quan trọng trong việc tạo tình huống truyện
như chi tiết bát cháo hành.
* Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng của Thi pháp học. Không phải ngẫu nhiên
mà những người khởi xướng Thi pháp học là những nhà ngôn ngữ học.
Ngôn ngữ văn học có tính tổ chức cao, giàu hình ảnh, đa nghĩa và mang
dấu ấn riêng của tác giả. Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần lưu ý nhạc điệu, các
phương tiện và biện pháp tu từ, cách dùng từ, giọng thơ, tứ thơ… Ngôn ngữ thơ
hiện đại mang tính tự do, không bị gò bó vào khuôn khổ nào, lời nhân vật trữ
tình cũng tự nhiên và mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Tác giả coi trọng cách diễn đạt
mới mẻ nên thường có nhiều cách kết hợp ngữ nghĩa lạ thường (Đây mùa thu
cần bám vào văn bản là chính. Ta có thể nghiên cứu phong cách của từng nhà
văn lớn, có đặc điểm riêng rõ nét như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…
2. Cơ sở thực tiễn
Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn và hoạt động dự giờ thao giảng trong
nhiều năm nay, tôi nhận thấy:
-Việc dạy học môn Ngữ văn đã có tình trạng “thế bản” lấn át, thay thế văn
bản của nhà văn. Văn bản quan trọng nhất mà học sinh phải/bị học không phải là
văn bản tác phẩm mà là bài giảng của giáo viên, là văn bản các bài phân tích,
bình giảng về tác phẩm văn học. Nghĩa là một số giáo viên áp đặt kiến thức đối
với người học.
-Điều đó dẫn đến việc học sinh xem nhẹ việc đọc văn bản tác phẩm, hạn
chế khả năng cảm thụ và sáng tạo nảy sinh từ văn bản của học sinh, khiến cho
học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản,
thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo. Vấn đề đặt ra ở đây là học sinh đọc trực
tiếp hay “đọc” qua người khác, đọc hiểu văn bản của nhà văn ở mức độ nào là
việc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với việc dạy học văn.
-Trong dạy học môn Ngữ văn, một số giáo viên chỉ chú ý làm rõ phương
diện nội dung, ít khai thác các yếu tố nghệ thuật được các nhà thơ, nhà văn sử
dụng trong tác phẩm. Điều này là một thiếu sót lớn, nếu không muốn nói rằng
7
giáo viên nhất là đối với các bài thơ trữ tình. Bởi khi tìm hiểu tác phẩm thơ, một
kỹ năng rất quan trọng mà người giáo viên phải dẫn dắt, khơi gợi cho các em đó
là khai thác từ nghệ thuật để lẩy ra nội dung.
-Có một thực tế là nhiều học sinh không biết kĩ năng phân tích, cảm nhận
nội dung tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thuật của tác phẩm đó. Phần
lớn các em chỉ “xăm xăm” tìm hiểu nội dung mà quên rằng nội dung nào cũng
được chứa đựng trong một hình thức thích hợp.
-Thực tế hiện nay, học sinh học môn Ngữ Văn một cách nghiêm túc rất ít,
các em hứng thú, say mê môn học lại càng hiếm. Hơn nữa, trong xã hội hiện đại,
C. CHUẨN BỊ GIÁO CỤ
1. GV: Đọc tài liệu, thiết kế giáo án.
2. HS: Đọc sgk, soạn bài.
D. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1. Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số
2. Kiểm tra bài cũ: Trình bày những thành tựu chủ yếu của VHVN từ đầu thế kỉ
XX đến cách mạng tháng Tám 1945?
3. Bài mới:
a. Đặt vấn đề: Thạch Lam là nhà văn xuất sắc của nhóm Tự lực văn đoàn. Người
đọc khi đến với ông sẽ tìm thấy toàn bộ bức tranh cuộc sống với sự hiện diện
đầy đủ mọi hạng người, đặc biệt là những người nghèo khổ sống lam lũ, tối tăm
bằng tình yêu thương nhẹ nhàng đằm thắm. Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" là một ví
dụ.
b. Triển khai bài:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ
TRÒ
NỘI DUNG KIẾN THỨC
Hoạt động 1: H/d hs tìm hiểu vài
nét về tác giả.
Đọc TD và cho biết vài nét về tác
giả?
Định hướng:
- Những yếu tố ảnh hưởng đến sự
nghiệp của TL.
- Điểm khác biệt của TL với các
nhà văn Tự lực văn đoàn.
I.TÁC GIẢ (1910- 1942)
- Tuổi thơ và tuổi trẻ sống ở phố huyện Cẩm
Giàng- Hải Dương: phố huyện nghèo có một
cái chợ, ga xép đêm đêm một chuyến tàu
truyện không có cốt truyện mà thiên về tâm
trạng, đem chất thơ đó vào văn xuôi. Nhân
vật của Thạch Lam là nhân vật của cảm xúc,
tâm trạng nhiều hơn là tư duy.
- Có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, lành
mạnh, đặc biệt là khẳng định chức năng cao
quý của văn chương đối với cuộc sống.
- Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị:
"Gió lạnh đầu mùa"; "Nắng trong vườn";
"Sợi tóc"; " Hà Nội 36 phố phường”; và là
cây bút phê bình văn học xuất sắc.
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Xuất xứ: Rút từ tập “Nắng trong vườn”
2. Đọc- cảm nhận chung
3. Phân tích.
a. Bức tranh phố huyện:
*Cảnh ngày tàn, chợ tàn:
- Tiếng trống thu không: thứ âm thanh chất
chứa nỗi niềm của con người -> tiếng trống
vang xa gọi chiều về và gợi cả nỗi niềm xao
xác -> điểm nhịp cho cuộc sống nặng nề
trôi.
-Làm nền cho tiếng trống là "bản nhạc dân
dã" quen thuộc, buồn bã, rên rĩ của côn
trùng, ếch nhái, muỗi, tiếng đàn bầu rời rạc
=> không đủ sức khuấy động không khí lặng
lẽ, tù đọng của phố huyện.
* Thời gian: "Chiều, chiều rồi. Một chiều
10
Khung cảnh của truyện được mở ra
đơn sơ, quán hàng lụp xụp-> yên tĩnh, tù
túng, chật hẹp.
Bóng tối Ánh sáng
- Tối hết cả:
đường phố, ngõ
con
- Trống cầm canh:
ngắn, khô khan,
chìm ngay vào
btối.
-> bóng tối đang
luồn lách, bám sát
vào mọi cảnh vật,
mọi hoạt động âm
thầm của sinh vật,
con người
khe ánh sáng, vệt
sáng, quầng sáng,
chấm lửa, hột
sáng, ngọn đèn
con của chị Tí(7
lần)
-> lẻ loi, hiếm
hoi, yếu ớt, không
đủ xé rách màn
đêm, làm cho đêm
tối mênh mông
hơn.
=> Tương phản: động- tĩnh; ánh sáng- bóng
tối, nhịp điệu câu văn chậm rãi -> Khung
=> Nhịp sống cứ lặp lại một cách đơn
điệu, quẩn quanh, tẻ nhạt, mỏi mòn, buồn
chán Tuy vậy, họ vẫn hi vọng- cho dù hi
vọng đó rất mơ hồ: “Chừng ấy người trong
bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho
sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.
Chính sự mong đợi mơ hồ này càng tô đậm
thêm tình cảnh tội nghiệp của những nhân
vật trong truyện.
=> Tất cả đều hiện ra trong cái nhìn xót xa,
thương cảm của TL, qua lời văn đều đều,
chậm buồn và những chi tiết dường như
khách quan.
4. Củng cố: Ý nghĩa biểu tượng: ngọn đèn con của chị Tí?
5. Dặn dò: Chuẩn bị: Hai đứa trẻ (Thạch Lam): Nhân vật Liên và cảnh đoàn tàu.
12
TIẾT 38 Đọc văn hai ®øa trÎ
(Thạch Lam)
A. MỤC TIÊU
1. Kiến thức: Giúp học sinh nắm được:
- Tấm lòng nhân ái sâu sắc của Thạch Lam đối với những kiếp người nghèo
khổ và sự cảm thông, trân trọng của nhà văn trước mong ước của họ về cuộc
sống tươi sáng hơn.
- Nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam.
2.Về kĩ năng: phân tích truyện ngắn trữ tình.
3. Về thái độ: biết cảm thông, yêu thương con người.
B. PHƯƠNG PHÁP: phát vấn, giảng bình.
C. CHUẨN BỊ GIÁO CỤ
1. GV: Đọc tài liệu, thiết kế giáo án.
2. HS: Đọc sgk, soạn bài.
+ Đối với những đứa trẻ nghèo nhặt rác
"Liên động lònh thương nhưng chính chị
cũng không có tiền mà cho chúng".
+ Đối với mọi người: luôn quan tâm, luôn
13
- Là đứa trẻ giàu tình thương.
- Là đứa trẻ hiếu thảo, đảm đang.
- Là đứa trẻ có tâm hồn và biết ước
mơ.
*GV: bình chi tiết đôi mắt Liên:
không đặc tả kỷ nhưng cho thấy tâm
trạng lắng đọng sâu xa. Chính đôi
mắt ấy đã nhìn, thấu hiểu và cảm
nhận "mùi riêng của đất" -> trữ tình
hoá qua h/a đôi mắt.
Trong số các nhân vật của phố
huyện, ai là người đau khổ nhất?>
-HS:Nhận định có thể không giống
nhau, nhưng sẽ có ý kiến cho Liên là
người đau khổ nhất.
+ Trường hợp HS nêu không trúng
vấn đề thì GV gợi ý: Vì sao có
người cho rằng Liên là người đau
khổ nhất trong các nhân vật?
Tìm những chi tiết chứng minh rằng
TL tập trung bút lực miêu tả một
cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự
thời gian, qua tâm trạng chờ kong
của Liên và An?
Đối với cuộc sống phố huyện, hình
+ Nó như con thoi ánh sáng xuyên thủng
màn đêm phố huyện, đem lại ánh sáng xa
lạ, rực rỡ chốn thị thành, át đi ánh sáng
mờ ảo, yếu ớt của phố huyện.
+ Âm thanh của còi tàu, bánh xe rít trên
đường ray và tiếng ồn ào của hành khách
át đi buồn tẻ, đơn điệu phố huyện.
+ Nó là thói quen, là niềm vui, là sự chờ
đợi -> trở thành nhu cầu thiết yếu như
cơm ơn, nước uống hàng ngày cho đời
sống tinh thần người dân phố huyện
- Chị em Liên đợi tàu không phải vì mục
14
Vì sao chị em Liên đợi tàu và điều
đó có ý nghĩa gì?.
-HS: thảo luận và lí giải:
-Nhìn thấy thế giới rực sáng, náo
nhiệt khác hẵn phố huyện.
- Gợi lại kỷ niệm về Hà Nội, mơ
ước về Hà Nội sáng trưng, vui vẻ,
huyên náo -> thoã mãn nỗi ước ao,
khao khát.
GV: Hai đứa trẻ- bài ca về thiên
nhiên, đất nước. Chứng minh?
Hoạt động 2: H/d hs tổng kết.
Trình bày những nét đặc sắc về
nghệ thuật? Ý nghĩa của truyện?.
đích tầm thường là có khách mua hàng
mà vì:
+ Nhìn thấy cái gì đó khác cuộc sống
-Miêu tả tâm lí đặc sắc.
Nội dung: TL thể hiện một cách nhẹ
nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối
15
với những kiếp người sống cơ cực, quẩn
quanh, bế tắc ở phố huyện nghèo trước
CM. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân
trọng đối với những mong ước tuy còn
mơ hồn của họ.
4. Củng cố: Gía trị nhân đạo của truyện?
5. Dặn dò: Chuẩn bị: Ngữ cảnh
Rõ ràng, dựa vào các thao tác phân tích các bước đi của hình tượng thời gian
– không gian (1. Cảnh phố huyện lúc chiều tối, 2. Cảnh phố huyện ban đêm, 3.
Cảnh phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua), học sinh hoàn toàn có thể biết,
hiếu, cảm nhận được diễn biến tâm trạng của hai nhân vật chính Liên và An.
Đồng thời, không – thời gian phố huyện còn làm nền để hình ảnh đoàn tàu đêm
xuất hiện với rất nhiều ý nghĩa. Từ đó, giúp học sinh hiểu được ý nghĩa văn bản:
Truyện ngắn hai đứa trẻ thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam
đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mòn, tăm tối, quẩn
quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ
bé, tha thiết mà bình dị của họ.
4. Kết quả.
- Giờ dạy học văn trở nên sinh động hơn, học sinh hứng thú, sôi nổi phát
biểu xây dựng bài.
- Học sinh được tiếp cận với sự đổi mới về phương pháp dạy học hướng
đến sự hình thành năng lực tự học, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo cũng như
tính tích cực, chủ động của các em.
- Khơi dậy ở học sinh niềm yêu thích, say mê học Văn, từ đó các em đi sâu
khám phá thế giới hình tượng, các tầng lớp nghĩa được nhà văn, nhà thơ gửi gắm
đến người đọc thông qua văn bản.
17
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HĐKH TRƯỜNG THPT GIA HỘI
TP Huế, ngày tháng năm 2013
HIỆU TRƯỞNG
(Chủ tịch Hội đồng)
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SKKN SỞ
TP Huế, ngày tháng năm 2013
(Chủ tịch Hội đồng)
18