1
TÓM LƯỢC
Thương mại điện tử xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu nhưng đã không ít doanh
nghiệp vận dụng và đạt được một số thành công nhất định. Không chỉ giới hạn trong
việc đặt hàng và thanh toán trực tiếp qua mạng, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng
Internet như một kênh truyền thông, quảng bá cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Nhận
thức được tầm quan trọng đó, Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Truyền Thông Và Công
Nghệ Nova đã ứng dụng các công cụ marketing điện tử vào hoạt động kinh doanh. Tuy
nhiên, sau một thời gian triển khai công ty đã gặp phải một số khó khăn trong việc tận
dụng các ưu thế của những công cụ này trong hoạt động truyền thông điện tử.
Sau thời gian thực tập tại công ty, trên cơ sở những kiến thức đã được học và qua
nghiên cứu tài liệu, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đa dạng hóa các công cụ
marketing điện tử trực tiếp tại Công ty Cổ phần NovaAds” cho khóa luận tốt nghiệp
của mình.
Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc đa dạng
hóa các công cụ marketing điện tử trực tiếp tại công ty.
Nội dung đề tài gồm 4 phần:
Phần mở đầu: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về truyền thông điện tử và marketing điện tử trực
tiếp
Chương 2 : Thực trạng triển khai và ứng dụng các công cụ marketing điện tử
trực tiếp tại công ty cổ phần NovaAds
Chương 3 : Các kết luận và đề xuất với vấn đề nghiên cứu
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và làm khóa luận tại Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn
Truyền Thông Và Công Nghệ Nova, Em xin chân thành cảm ơn, Khoa Thương Mại
Điện Tử, Trường Đại Học Thương Mại đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện đợt thực
tập này.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Cô Lê Thị Hoài đã quan tâm giúp đỡ, tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình thực tập cũng như trong thời gian hoàn thành
2010 - 2012
16
Biểu đồ
2.6
Chất lượng nguôn nhân lực công ty năm 2012 19
Biểu đồ
2.7
Tình hình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn
2010 - 2012
19
Bảng 2.1 Tình hình phát triển nhân sự công ty 18
Bảng 3.1 Các nguồn thu thập danh sách gửi tin 29
Bảng 3.2 Tổng hợp hoạt động triển khai gửi tin của NovaAds 31
Sơ đồ 3.1 Quy trình thực hiện chương trình Marketing qua Email
và SMS của NovaAds
28
Sơ đồ 3.2 Quy trình theo dõi và kiểm tra kế hoạch Marketing điện
tử trực tiếp của NovaAds
33s
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ Nghĩa Tiếng Việt
CNTT Công nghệ thông tin
NovaAds Công Ty Cổ Phần Tập
Đoàn Truyền Thông Và Công
Nghệ Nova
SEM Search Engine Marketing Marketing công cụ tìm
kiếm
SEO Search Engine
Optimization
ty. Do đó, vấn đề đặt ra hiện cho công ty chính là đẩy mạnh hoạt động truyền thông
điện tử trực tiếp dựa trên những thế mạnh sẵn có của công ty.
2. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu
Marketing điện tử (E-marketing) tuy không còn là lĩnh vực mới mẻ trên thế giới
và cũng đã có rất nhiều công trinh nghiên cứu về lĩnh vực này, nhưng với tính động
theo tự phát triển của công nghệ truyền thông cũng như sự ra đời của những xu hướng
marketing điện tử mới thì các tri thức E-marketing luôn cần phải được cập nhật và
phát triển. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về E-Marketing là:
• Trên thế giới
7
[1]. Strauss, El-Alssary &Frost (2003), E-Marketing; Prentice Hall Publishing.
[2]. Rob Stockes, Sarah Blake (2008), eMarrketing: The Esential Guide to Online
marketing, Quirk eMarketing (Pty) Ltd. xuất bản.
[3]. Marry Low Roberts (2002), Internet Marketing: intergrating online and offline
stragety, McGraw-Hill Publishing.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác, các nghiên cứu này đã đặt nền
tảng cho sự phát triên của marketing điện tử ngày nay.
• Trong nước:
Tại Việt Nam, hoạt động marketing trực tuyến ra đời cũng với sự phát triển của
Internet năm 1997. Cùng với đó, có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này,
trong đó có thể kể đến:
[1]. Nguyễn Bách Khoa (2003), Marketing Thương mại điện tử ; NXB Thống Kê
[2]. Bộ môn Quản trị tác nghiệp TMĐT, trường đại học Thương Mại (2012), Bài giảng
Marketing Thương mại điện tử
Ngoài các sách, giáo trình được phổ biến thì cũng có hàng loạt công trình nghiên
cứu cấp sinh viên về TMĐT, marketing điện tử, tuy nhiên vẫn chưa có một đề tài nào
nghiên cứu chuyên sâu về các cơ sở lý luận và phát triển các công cụ Marketing điện
tử trực tiếp trong ngành kinh doanh dịch vụ mà cụ thể là tại Công ty Cổ phần Tập đoàn
truyền thông và công nghệ Nova.
3. Đề xuất hướng đề tài
Nội dung: Tìm hiểu chuyên sâu hơn về quy trình hoạt động của công ty
NovaAds.
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Phương pháp phỏng vấn hay còn gọi là
phương pháp chuyên gia (mẫu phiếu phỏng vấn được đính kèm trong phần Phụ lục).
Cách thức tiến hành: Tiến hành xây dựng câu hỏi có liên quan sâu đến vấn đề
nghiên cứu. Những câu hỏi sử dụng phải đơn giản, dễ hiểu, đơn nghĩa. Sau đó tiến
hành phỏng vấn những người có chuyên môn cao trong công ty. Cuối cùng, phân tích,
chọn lọc và tổng hợp các câu trả lời.
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:
Cách thức tiến hành:
- Thu thập từ các báo cáo, các bài báo, tập san, các bái đánh giá về doanh nghiệp
- Sưu tầm thông tin từ Internet: thông tin doanh nghiệp, các công cụ marketing điện tử
• Phương pháp phân tích thông tin
Phân tích, tổng hợp các dữ liệu thu thập được thông qua các câu hỏi phỏng vấn
chuyên sâu.
7. Ý nghĩa đề tài
Đề tài này nghiên cứu mang ý nghĩa đưa ra các lý luận cơ bản về marketing điện
tử trực tiếp, đồng thời mang ý nghĩa ứng dụng trong quá trình kinh doanh của công ty
Cổ phần Truyền thông và Công nghệ Nova.
8. Kết cấu khóa luận
Ngoài các phần mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết
tắt, tài liệu tham khảo và các thành phần phụ lục khác, kết cấu đề tài nghiên cứu gồm 3
phần chính là:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về truyền thông điện tử và marketing điện tử
trực tiếp
9
Chương này chủ yếu đưa ra những khái niệm cơ bản về truyền thông điện tử và
marketing điện tử trực tiếp như: truyền thông, truyền thông điện tử, truyền thông điện
tử trực tiếp,…
Chương 2: Thực trạng triển khai và ứng dụng các công cụ marketing điện tử
lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được. Truyền thông bằng lời được thực hiện
khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu
tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất
định ví dụ như quốc huy của một quốc gia.
Truyền thông đa phương tiện là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc
sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác ứng dụng
trong các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo, giáo dục và giải trí
Một cách đơn giản đó là việc thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D
(three dimentional space – không gian ba chiều), thiết kế web, biên tập âm thanh, phim
ảnh… tất cả đều thực hiện trên máy tính. Hầu hết các sản phẩm truyền thông (quảng
cáo, truyền hình, Internet,…) và giải trí hiện đại (game, điện ảnh, hoạt hình,…) chúng
ta sử dụng ngày nay đều là sản phẩm của ngành truyền thông đa phương tiện.
Có thể nói, truyền thông đa phương tiện là sự kết hợp giữa công nghệ thông tin
và mỹ thuật, trong đó máy tính là công cụ chủ yếu cho việc sáng tạo, xây dựng các sản
11
phẩm truyền thông, giải trí,… và ứng dụng đồ họa cho tất cả các lĩnh vực khác của đời
sống xã hội.
Thực tiễn cho thấy các dịch vụ thông tin ngày nay không chỉ đơn thuần là cung
cấp dữ liệu, số liệu mà đòi hỏi sự trực quan và tương tác cao. Do đó, các hình thức,
loại hình, cũng như yêu cầu về chất lượng dịch vụ truyền thông đa phương tiện ngày
càng phong phú, đa dạng. Truyền thông đa phương tiện cũng là nền tảng quan trọng
cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội như: báo chí, truyền hình, quảng cáo, PR, xây
dựng nhãn hiệu, tiếp thị, giải trí, giáo dục, mỹ thuật đa phương tiện, đồ họa kiến trúc,
và các hoạt động truyền thông khác.
Truyền thông tiếp thị tích hợp (Integrated marketing communications – IMC) là
một cách tiếp cận truyền thông thương hiệu mà các chế độ khác nhau làm việc cùng
nhau để tạo ra một trải nghiệm liền mạch cho khách hàng và được trình bày với một
giọng điệu và phong cách tương tự củng cố thông điệp cốt lõi của thương hiệu. Mục
tiêu của nó là để làm cho tất cả các khía cạnh của truyền thông tiếp thị như quảng cáo,
khuyến mại, quan hệ công chúng tiếp thị trực tiếp, truyền thông trực tuyến và các
Ví dụ, nếu khách hàng là người mắc sỏi thận, và một ngày, khách hàng của bạn
nhận được một e-mail với dòng chữ “Làm thế nào để sống chung cùng sỏi thận” ở tiêu
đề. Họ sẽ mở thư? Tại sao không? Vì thông điệp phù hợp với một người đang mắc
bệnh. Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước đầu tiên. Nó đã khiến khách hàng đọc tiếp bức
thư. Tiếp tục đọc, và đối tượng thấy những biểu đồ, hình ảnh, số liệu chứng thực xác
đáng. Họ có vui mừng khi đọc thông tin này? Hiểu nhiên là có. Và hơn nữa, cuối lá
thư là danh sách các công ty khác cũng đang nghiên cứu bệnh này, nhưng chỉ có một
đơn vị duy nhất ( tác giả của bức thư) đã làm sáng tỏ được trình tự gen và nắm giữ
được chìa khóa để chữa bệnh. Người nhận sẽ gọi vào số điện thoại miễn phí của công
ty đó và nhận những báo cáo cũng miễn phí từ họ. Một thông điệp truyền thông hiệu
quả đã dẫn đến những hành động như mong muốn.
• Sử dụng tất cả các dạng thức (form) có thể liên hệ hoặc liên quan tới khách hàng hoặc
là điểm tiếp xúc với khách hàng (touch points) hay còn gọi là các công cụ marketing
truyền thông điện tử.
Các công cụ của truyền thông điện tử bao gồm: Quảng cáo trực tuyến, marketing
quan hệ công chúng điện tử, xúc tiến bán hàng điện tử và marketing điện tử trực tiếp.
• Thông điệp thống nhất (speak with single voice): dù sử dụng bất kỳ cách thức nào,
kênh truyền thông nào trong IMC (quảng cáo, điểm bán hàng, hoạt động xúc tiến bán,
khuyến mại…) đều cần có sự thống nhất/ nhất quán trong thông điệp truyền tải. Nói
cách khác, doanh nghiệp cần thiết phải bủa vây khách hàng bằng những thông điệp
thống nhất về hình ảnh và ngôn ngữ của mình.
13
• Xây dựng các mối quan hệ giữa thương hiệu với khách hàng/ người tiêu dùng: đây là
đặc điểm quan trọng trong hoạt động truyền thông marketing tích hợp. Doanh nghiệp
có thể sử dụng phần mềm quản lý quan hệ với khách hàng (CRM) để xây dựng và duy
trì mối quan hệ này nhằm tìm kiếm khách hàng mới và duy trì lòng trung thành của
khách hàng.
• Sử dụng các phương tiện điện tử và truyền thông kỹ thuật số để thực hiện hoạt động
truyền thông marketing điện tử: Email, Website; Tin tức, mạng xã hội, tìm kiếm thông
tin trực tuyến v.v… Những người làm marketing buộc phải sử dụng nhiều những công
1.2.1. Khái niệm
Marketing điện tử trực tiếp bao gồm tất cả các hoạt động truyền thông trực tiếp
đến người nhận là khách hàng của doanh nghiệp, được sử dụng để giúp doanh nghiệp
nhận được những phản ứng đáp lại dưới hình thức đơn đặt hàng, lời yêu cầ cung cấp
thêm thông tin, hay một cuộc đến thăm gian hàng của doanh nghiệp nhắm mục địch
mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
1.2.2. Đặc điểm của Marketing điện tử trực tiếp
• Không công khai: thông điệp thường được chuyển tới một người cụ thể, có thể không
đến với người khác hoặc cùng một thông điệp đến với nhiều người.
Sở dĩ có được ưu thế này là do Marketing trực tiếp chuyển thông điệp đến một
người cụ thể và không chuyển đến những người khác. Nếu với các công cụ mang tính
đại chúng của truyền thông là: quảng cáo và kích thích tiêu thụ, đối thủ cạnh tranh có
thể dễ dàng tiếp cận được chương trình Marketing của doanh nghiệp thì với Marketing
trực tiếp họ khó lòng làm được điều đó. Đơn giản là chỉ có đối tượng nhận tin mục tiêu
mới nhận được thông tin và khi phát hiện ra thì đã quá muộn để xoay chuyển tình thế.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực hiện các chương trình thử nghiệm
sản phẩm mới, thay đổi chính sách giá… nó dường như giúp doanh nghiệp “ Žauk
hình” trước các đối thủ cạnh tranh.
• Theo ý khách hàng: thông điệp có thể được soạn thảo theo ý muốn của khách
hàng để hấp dẫn cá nhân người nhân.
Với ưu điểm này của Marketing trực tiếp doanh nghiệp có thể chọn lọc khách
hàng triển vọng kỹ lưỡng hơn. Nhưng để tận dụng được ưu thế này đòi hỏi doanh
nghiệp phải chuyển tõ Marketing trực tiếp sang Marketing cơ sở dữ liệu.
Marketing cơ sở dữ liệu sử dụng công nghệ cơ sở dữ liệu và các phương pháp
phân tích tinh vi được kết hợp với các phương pháp Marketing trực tiếp để tạo ra mét
phản ứng đáp lại mong muốn đo được trong các nhóm mục tiêu và các cá nhân. Một
cơ sở dữ liệu Marketing chứa đựng những số liệu nhân khẩu học, tâm lí học, thói quen
sử dụng phương tiện truyền thông, mức tiêu thụ gần nhất… của từng khách hàng.
Chính từ những số liệu này những người làm Marketing trực tiếp mới có thể đưa ra
những thông điệp phù hợp, đúng với nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
Hạn chế của email marketing là: doanh nghiệp khó khan trong việc lập danh sách
email phù hợp và đặc biệc có thế gặp phản ứng tiêu cực từ khách hàng do spam.
• SMS marketing
SMS marketing (marketing qua dịch vụ tin nhắn ngắn) là hoạt động sử dụng
công cụ điện thoại, máy tính để gửi các thông điệp truyền thông dưới dạng SMS tới
tứng đối tượng khách hàng nhằm tạo ra sự phản hồi từ họ.
SMS marketing có tính tác động nhanh và mạnh đối với người nhận tin. Nhưng
hiện nay nó đang bị lạm dụng dưới hình thức spam, tin nhắn rác gây khó chịu cho đại
bộ phận người nhận. doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ càng và có kế hoạch cụ thể
tới từng tập khách hàng mục tiêu khi triển khai SMS marketing.
• Viral marketing
Viral marketing (marketing lan truyền) là một dạng marketing được hình thành từ
hình thức marketing truyền miệng, đề cập đến các kỹ thuật tiếp thị sử dụng các mạng
xã hội tồn tại từ trước và các công nghệ khác, được tăng cường bởi các hiệu ứng mạng
Internet và mạng di động, nhắm tới mục tiêu phổ biến một thông điệp hoặc để đạt
được các mục tiêu tiếp thị khác (chẳng hạn như doanh số bán sản phẩm) thông qua quá
trình virus tự nhân bản , tương tự như sự lây lan của virus hoặc virus máy
tính(x. memes internet và memetics ).
Đặc điểm của marketing lan truyền:
- Về khả năng tác động: có thể cũng cấp nhiều mối quan tâm, liên hệ từ phía khách hàng
điện tử tới chiến lược, chương trình kinh doanh hiện tại hoặc các chương trình sắp tới
của doanh nghiệp. Các thông điệp lan truyền có thể được định vị một cách chắc chắn
trong tâm trí khách hàng do khả năng thâm nhập tự nhiên của thông điệp
- Khó khăn trong đo lường nhận thức của khách hàng điện tử về thương hiệu.
Một số hình thức marketing lan truyền: gửi chuyển tiếp email, sử dụng các mạng
xã hội, các chủ để trực tuyến để hồi đạp trực tiếp với khách hàng, đưa các tập tin,
thông điệp có sự khác lạ, độc đáo lên các trang chia sẻ thông tin phổ biến…
17
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI VÀ ỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ
hành khảo sát với 3.405 người sử dụng Internet trong cả nước có độ tuổi từ 15 đến 64.
Kết quả cho thấy thời Žauk hiŽng bình truy cập Internet của mỗi người là 130 phút
mỗi ngày. Tỷ lệ người truy cập Internet hàng ngày là 68%, tỷ lệ truy cập vài lần một
tuần vào khoảng 24% và chỉ có 4% trong số người tham gia khảo sát trả lời có truy cập
Internet nhưng không thường xuyên.
Cũng theo kết quả điều tra của CIMIGO, hoạt động trực tuyến thường xuyên nhất
của người dân khi truy cập Internet là thu thập thông tin như đọc tin tức(95%) và sử
dụng các trang web tìm kiếm (94%). Điểm nổi bật trong kết quả điều tra đó là gần như
tất cả người sử dụng Internet tại Việt Nam đều có sử dụng công cụ tìm kiếm mà điển
hình là Google. Các hoạt động giải trí trực tuyến cũng chiếm tỷ lệ khá cao như nghe
nhạc, xem phim, truy cập trang mạng xã hội và diễn đàn.
• Khả năng ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam
99% doanh nghiệp tham gia khảo sát năm 2012 đã có kết nối Internet. Hình thức
kết nối phổ biến nhất là ADSL – chiếm 79%, tiếp đến là đường truyền riêng – chiếm
20%.
Biểu đồ 2.4: Hình thức kết nối Internet của doanh nghiệp năm 2012
Nguồn: Báo cáo TMĐT Việt Nam 2012
Hình 2.5: Tình hình sử dụng email cho mục đích kinh doanh của doanh
nghiệp Nguồn: Báo cáo TMĐT Việt Nam 2012
Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng email cho mục đích kinh doanh trong năm 2012 đạt
97%, tăng mạnh so với các năm trước (tỷ lệ tương ứng của 2011 là 83%). Việc các
doanh nghiệp tăng cường sử dụng Email đã cho thấy một cơ hôi tốt để tiến hành các
hoạt động truyền thông qua Email của doanh nghiệp.
Từ những số liệu trên, ta có thể thấy Việt Nam đang có những điều kiện rất phù
hợp để thực hiện hoạt động truyền thông điện tử, Internet dần trở thành một trong
những chiến lược quảng bá thương hiệu chủ yếu để các doanh nghiệp cạnh trành cùng
đối tác và thu hút khách hàng tiềm năng.
20
2.1.2. Sự phát triển của tryền thông điện tử trực tiếp
Marketing trực tiếp đã từng xuất hiện vào thế kỉ 15, khi máy in ra đời, Ben
thoại bàn, máy fax, két đựng tiền, máy điều hòa, bàn ghế, đèn thắp sáng, các dụng cụ
văn phòng, đồ dùng tiếp khách và phục vụ nhân viên…
Nằm trong lĩnh vực TMĐT, việc sử dụng phần mềm ứng dụng trong quá trình
kinh doanh và quản lý hoạt động của công ty là điều tất yếu. NOVA hiện đang sử dụng
gói phần mềm quản lý doanh nghiệp ERP dành cho công ty dịch vụ đầu tiên tại Việt
Nam. Ngoài ra, các phần mềm đang được sử dụng tại công ty bao gồm:
• Phần mềm quản lý dữ liệu.
• Phần mềm SEO, SEM, e-mail marketing
• Phần mềm kế toán: phần mềm FAST ACCOUNTING
2.1.4. Nguồn nhân lực trong công ty
Cùng với mục tiêu mở rộng hoạt động kinh doanh, lượng nhân sự của công ty đã
đạt mức tăng trưởng trung bình 85% trong 4 năm gần đây, cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Tình hình phát triển nhân sự công ty
Năm Nhân sự
2009 20
2010 30
2011 77
2012 150
(Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự
Trong đó, 86% thành viên đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế,
marketing, thương mại điện tử; hầu hết có hiểu biết rõ về công nghệ thông tin và
thương mại điện tử, trên 90% nhân viên có hiểu biết về các ứng dụng CNTT trong
công việc.
Biểu đồ 2.6: Chất lượng nguôn nhân lực công ty năm 2012
22
Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự
Biểu đồ 2.7: Tình hình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2010 – 2012
Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự
Qua biểu đồ phát triển nguồn nhân lực qua 3 năm từ 2010 đến 2012 ta thấy số
lượng nguồn nhân lực của Nova tăng trưởng khá đều qua các năm. Năm 2011 tăng
tính, mạng viễn thông, …
NovaAds đã và đang nỗ lực phát triển ứng dụng CNTT vào tất cả các bộ phận
phòng ban của mình, điển hình là Phòng tư vấn, phòng Business Solution và phòng
NovaNet, bằng cách đầu tư thêm phần mềm để tăng cường hiệu quả quản lý, sâu sát
hơn.
24
Công ty cũng đã và đang sử dụng bộ phần mềm quản lý doanh nghiệp ERP nhằm
đưa ra các giải pháp công nghệ thông tin về quản lý khách hàng, điều hành hoạt động,
khai thác TMĐT,
2.2.4. Các công cụ marketing điện tử trực tiếp đang được triển khai tại Công ty
NovaAds
Nhằm bổ sung vào chương trình truyền thông của công ty, bà Nguyễn Thị Hiên
– Chuyên viên Marketing, Phòng Marketing NovaAds – cho biết: Các công cụ đang
được Công ty sử dụng cho hoạt động marketing điện tử trực tiếp của mình bao gồm: e-
mail marketing và viral marketing (sử dụng Google+, Twitter, Facebook và YouTube)
Đồng thời, bà Nguyễn Thị Hiên cho biết thêm, hiện tại mục tiêu cơ bản cho
chương trình truyền thông mà công ty hướng đến trong giai đoạn tới là thu hút khách
hàng mới.
Việc công ty đặt mục tiêu chính là thu hút khách hàng mới cũng dễ hiểu và hợp
lý. Với thương hiệu của NovaAds trên thị trường hiện này, công ty không cần quá đầu
tư vào vấn đề tăng độ nhận biết thương hiệu. Tuy nhiên, công ty cần chú trọng vào
việc tăng số lần mua của khách hàng cũ. Vì đây là những khách hàng đã từng sử dụng
dịch vụ của công ty nên dễ dàng chấp nhận và sử dụng tiếp và hướng tới mục tiêu tăng
lượng khách hàng tìm đến dịch vụ của công ty từ những nguồn khác ngoài phòng Tư
vấn và phòng Business Solution.
E-mail marketing
NovaAds đã sử dụng e-mail marketing như một công cụ để gửi các chào bán,
thông báo, nhắc nhở khách hàng về các chương trình khuyến mãi và tư vấn kinh
doanh. Đây là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong hoạt động truyền thông điện
tử của công ty.