Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa kinh tế
Đinh Thị Hồng Duyên Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt nam Luận văn thạc sỹ kinh tế
1
Mục lục
Trang
Phần mở đầu
1
1. Tính cấp thiết của đề tài.
2
2. Tình hình nghiên cứu.
2
3. Mục đích nghiên cứu.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3
5. Phương pháp nghiên cứu.
3
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn.
3
7. Bố cục của luận văn.
3
Chương 1. Công nghệ thông tin và vai trò của nó trong nền kinh
tế hiện đại
4
1.1. Khái luận về Công nghệ thông tin
4
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
4
1.1.1.1 Một vài khái niệm
4
45
Chương 2. Thực trạng phát triển Công nghệ thông tin ở Việt
nam
47
2
2.1. Môi trường phát triển CNTT ở Việt nam
48
2.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định
48
2.1.2. Thị trường nội địa rộng lớn, giàu tiềm năng.
51
2.1.3. Chính sách và phương hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước.
52
2.1.4. Cơ sở hạ tầng ban đầu trong lĩnh vực viễn thông của Việt nam tiên
tiến, hiện đại
57
2.2. Thực trạng CNTT Việt nam
64
2.2.1. Vị trí của Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới.
64
2.2.1.1. Chỉ số xã hội thông tin
65
2.2.1.2. Chỉ số vi phạm bản quyền.
65
2.2.1.3. Chỉ số sẵn sàng kết nối.
66
2.2.1.4. Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử.
2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại và vấn đề đặt ra
99
Chương 3. Những quan điểm định hướng và một số giải pháp
chiến lược cho phát triển CNTT Việt nam
104
3.1. Những khó khăn, thuận lợi cho CNTT Việt nam trong thời gian
tới và quan điểm định hướng cho Việt Nam
104
3.1.1. Những thuận lợi và khó khăn cho CNTT Việt nam trong thời
104
3
gian tới.
3.1.1.1.Những thuận lợi
105
3.1.1.2. Những khó khăn
108
3.1.2. Những quan điểm định hướng cho Việt Nam
112
3.2. Một số giải pháp chiến lược cho phát triển CNTT Việt nam
124
3.2.1. Giải pháp phát triển sản phẩm CNTT Việt nam
124
3.2.2. Giải pháp phát triển thị trường.
126
3.2.3. Giải pháp phát triển sản xuất
nhất thế giới thì việc tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học, công
nghệ và đặc biệt là CNTT nhằm tạo cơ hội đi tắt, đón đầu, phát huy lợi thế
cạnh tranh, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá, quá trình hội
nhập là một việc cần được đặc biệt coi trọng.
Trong những năm vừa qua, chính phủ cũng đã thấy rõ ý nghĩa chiến lược
và vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Từ năm 1975,
ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ đã hai lần ra các nghị quyết về
tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý Nhà nước
(Nghị quyết số 173-CP/1975) và tăng cường quản lý và sử dụng máy tính
điện tử trong cả nước (Nghị quyết số 245-CP/1976). Rồi Nghị quyết số 37-
NQ/TW năm 1981, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/3/1991 ,Nghị quyết
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII , Nghị quyết 49/CP và Kế
hoạch Tổng thể về phát triển CNTT ở nước ta đến năm 2000, đều nhấn mạnh
đến việc xây dựng và phát triển ngành CNTT Việt nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã thông qua phương
hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2001 -
2005, trong đó nhấn mạnh đến ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hoá các ngành
và phát triển CNpCNTT. Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ra Nghị quyết số
07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển CNpPM giai đoạn 2001-2005 và
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg phê duyệt
2
Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về
đẩy mạnh và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại
hoá giai đoạn 2001 - 2005.
Có thể nói hơn 15 năm đổi mới kinh tế, CNTT Việt nam đã có những
bước phát triển vượt bậc và đến nay đã phần nào thể hiện được vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, để góp phần nghiên cứu, đề xuất
những chiến lược thích hợp cho sự phát triển của ngành CNTT VN phù hợp
với tình hình phát triển CNTT của thế giới cũng như tình hình phát triển kinh
quản lý của nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tiến trình phát
triển CNTT trong 10 năm qua và trong mối liên hệ với CNTT thế giới để đề
ra các giải pháp thích hợp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành
nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng những phương
pháp chung trong nghiên cứu kinh tế chính trị: lấy phương pháp của chủ
nghĩa biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản.
Luận văn đặc biệt chú ý tới phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương
pháp so sánh, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp…
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn.
- Phân tích và làm rõ một số kinh nghiệm quốc tế, khả năng ứng dụng các
kinh nghiệm đó tại Việt nam.
- Đánh giá thực trạng phát triển CNTT của Việt nam, chỉ ra những bất cập
còn tồn tại và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số định hướng để phát triển CNTT của Việt Nam và các giải
pháp chiến lược để thực hiện
7. Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba
chương:
4
Chương 1.
CNTT và vai trò của nó trong nền kinh tế hiện đại
Chương 2.
Thực trạng phát triển CNTT ở Việt Nam
Chương 3.
Những quan điểm định hướng và một số giải pháp chiến lược
cho phát triển CNTT Việt nam
loài người. Hoạt động chủ yếu của điều khiển (hay còn gọi cách khác là quản
6
lý) là tạo ra các thông tin điều khiển và tác động của nó sẽ đem lại trật tự
mong muốn cho các đối tượng bị điều khiển.
Để tạo ra được thông tin điều khiển, các cơ quan điều khiển phải thu
nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tiến hành quá trình xử lý tuân
theo những quy luật vận hành của đối tượng và các mục tiêu điều khiển.
Tổng quát hoá có thể nói hoạt động quản lý hay điều khiển bao gồm các khâu
sau: thu thập, sắp xếp, lưu trữ, xử lý và phản hồi lại thông tin, gọi chung là
quá trình xử lý thông tin. Ngày nay khi mà xã hội và kinh tế đang phát triển
rất mạnh thì nhu cầu xử lý thông tin trong quản lý và điều khiển cũng tăng
mạnh, và nhu cầu đó đã tăng lên với tốc độ bùng nổ cả về mặt số lượng lẫn
nội dung.
Thông tin có nhiều loại khác nhau khác nhau có thông tin là các số
liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát được gọi là các thông tin nguyên liệu.
Từ đó qua phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn
được gọi thông tin quyết định dùng trong quản lý và điều khiển. Kết quả của
những qúa trình xử lý đòi hỏi nhiều năng lực và kinh nghiệm thông tin chứa
đựng trong các quy luật khoa học - kết quả của nhiều công phu tìm kiếm,
sáng tạo, suy luận, thử nghiệm.
Internet và thương mại điện tử
Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính
toàn cầu - mạng của các mạng - giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính
nào cũng có thể truy cập tới thông tin tại các máy tính khác và có thể đối
thoại trực tiếp với người sử dụng trên đó. Tên gọi Internet được Cơ quan
nghiên cứu dựa án cao cấp ARPA của Mỹ đưa ra năm 1960. Ban đầu, người
ta biết đến nó qua ARPANet - mạng cơ quan nghiên cứu dự án cao cấp. Mục
tiêu ban đầu là thiết lập mạng cho phép các chuyên gia nghiên cứu ở một
trường đại học có thể kết nối với máy tính ở các trường đại học khác bằng
chương trình trao đổi dữ liệu điện tử, trao đổi dữ liệu kinh doanh qua thư điện
tử và fax được dùng làm môi trường để tiếp cận và thiết lập quan hệ các
khách hàng. Là nơi bán hàng trực tuyến 24/24 giờ trên quy mô toàn cầu với
khả năng trao đổi thông tin và đặt hàng trực tiếp, trang Web đã trở thành nơi
kinh doanh có doanh thu hàng tỉ đô la của các doanh nghiệp trên thế giới.
8
Ngoài ra việc sử dụng Internet còn có thể nghiên cứu được thị trường.
Đầu năm 1999, nhờ khả năng kết nối rộng rãi của mạng Internet các công ty
đã tập hợp được rất nhiều số liệu khách hàng bằng cách đăng ký, đặt câu hỏi
và đặt hàng qua mạng. Tuy nhiên cách nghiên cứu này đang được làm rõ về
mặt pháp luật vì nó xâm phạm đến các thông tin cá nhân của người sử dụng.
Lợi ích to lớn nhất mà thương mại điện tử mang lại là thời gian giao
dịch rất nhanh với chi phí thấp. Thương mại điện tử được thực hiện qua các
hình thức kết nối điện tử như thư điện tử, Fax và điện thoại Internet. Trong
các giao dịch trực tiếp, các công ty thường sử dụng thư điện tử và Fax để
quảng cáo về công ty và sản phẩm của mình tới khách hàng và các doanh
nghiệp khác. Ngày càng xuất hiện nhiều trang Web kinh doanh chuyển các
bức thư quảng cáo điện tử tới những người nối mạng. Một xu hướng mới là
dịch vụ thư điện tử opt-in, người sử dụng mạng có thể tự nguyện đăng ký để
nhận thư điện tử có nội dung quảng cáo về những danh mục sản phẩm hay
những tiêu chí khác mà họ quan tâm.
Với những tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật điện tử, tin học và viễn
thông trong những thập niên vừa qua máy tính đang được sử dụng khắp mọi
nơi và được liên kết lại với nhau thành mạng quốc gia, khu vực và Internet.
Trong tương lai các siêu xa lộ thông tin sẽ phủ khắp mọi nơi trong nước và
trên thế giới. Nhờ vậy, CNTT ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong mọi
ngành kinh tế và hoạt động xã hội. Yếu tố thông tin ngày càng chiếm vị trí
quan trọng trong nền kinh tế và hoạt động xã hội. Dưới những ảnh hưởng đó,
kinh tế công nghiệp đang chuyển dần thành kinh tế thông tin và xã hội cũng
được người dùng đưa vào để điều khiển cỗ máy đó thông qua các lệnh. Tập
hợp các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần
mềm của máy tính. Đây là phần linh hoạt nhất của máy tính, nó tuỳ biến theo
mục đich của người dùng và là phần mang nhiều dấu ấn đặc trưng nhất của
con người. Tuỳ nhu cầu xử lý khác nhau người ta chia phần mềm ra làm
nhiều loại như phần mềm hệ thống, phần mền tiện ích và phần mềm ứng
dụng.
Có thể thấy MTĐT và việc xử lý thông tin bằng MTĐT là thành phần
cốt lõi của CNTT. Tuy nhiên theo nghĩa rộng CNTT là một thuật ngữ dùng
để chỉ ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá
10
trình xử lý thông tin. Theo cách nhìn đó, CNTT bao gồm các luận cứ
khoa học, các phương tiện và giải pháp kỹ thuật để xử lý thông tin. Công
nghệ này đòi hỏi phải có phương tiện là máy tính và mạng truyền thông;
nguyên liệu là nội dung thông tin để tổ chức, lưu trữ, xử lý và khai thác.
1.1.1.2. Những đặc điểm chính
CNTT là một công nghệ mũi nhọn:
Mũi nhọn ở đây có nghĩa là chóp của một kim tự tháp, được xây dựng
trên thành quả của nhiều khoa học và công nghệ khác. Ví dụ như việc tự sản
xuất các bản mạch bìa in (printed board) hay “Bản in mặt hậu” (Back panel)
là một bước tiến rất lớn trong công nghệ vì nó giúp việc sản xuất các thiết bị
điện tử được thuận lợi hơn, giá rẻ hơn và đặc biệt độ là ổn định cao hơn hẳn
các loại mạch cũ. Nhưng hiện nay để có thể gắn các mạch tổng hợp vào bản
in, người ta phải in được trên bìa những đường dây rộng khoảng 0,10 mm,
cách nhau cũng cỡ đó, đục lỗ xuyên bìa và hàn cũng với đường kính đó với
độ chính xác tương ứng. Phải nắm vững kỹ thuật tráng nhựa Epoxy nhiều lớp
trong một nhà máy rất sạch mới có thể thực hiện được. Mặc khác việc vẽ
những mạch in trên bìa cũng cần những chương trình “tìm đường” (routing)
Có thể phân chia thành những tầng lớp sau trong CNTT, mỗi tầng lớp được
xây dựng trên các tầng lớp phía dưới :
Các chương trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp, đó có
thể là thành lập từ một ngôn ngữ lập trình ít hay nhiều cao cấp, dựa
trên những hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Tầng lớp trên cùng này thường
được viết tại chỗ hoặc thiết kế tại chỗ và đặt gia công bên ngoài.
Phần ở giữa các chương trình ứng dụng và hệ mềm cơ bản. Phần này là
chỗ phức tạp nhất và giàu có nhất. Nói chung ở đây là sản phẩm của
các công ty chuyên sản xuất phần mềm, trong đó kỹ nghệ phần mềm
của Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối, trừ một vài ngoại lệ ở châu Âu có kết
quả tốt, như robotics trong lĩnh vực công nghiệp, ngôn ngữ lập trình
Ada, Prolog Nhật gần như không bán ra bên ngoài những chương
12
trình gì đáng kể, có lẽ vì hàng rào ngôn ngữ . Có thể tạm chia làm bốn
lĩnh vực khác nhau :
- Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn
bản, tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học (ngôn ngữ lập trình
cao cấp như Mathematica, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu ). Người
dùng cuối cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử
dụng thẳng mà không cần viết chương trình gì thêm.
- Các chương trình gọi là "middleware", cho phép các chương trình ứng
dụng phân tán (có thể tổng quát hay không) sử dụng tới mạng thông tin
ở mức dễ dàng và trừu tượng, thông qua hệ điều hành mạng Về mặt
ứng dụng trong quản lý đây là lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay.
- Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó
(embedded systems), với những giao diện sử dụng đặc biệt thẳng với
người dùng, như ở trong máy giặt, máy hát, máy bay, trò chơi Thật ra
loại chương trình này có thể thấy ở khắp các lĩnh vực, chỗ nào có bộ vi
xử lý mà không phải là một máy tính đều có nó. Nhưng đặc điểm của
bìa in trong đó có gắn các linh kiện điện tử; rồi lắp ráp với phần điện, cơ
khí, các thiết bị ngoại vi để trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một
bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng. Khâu
đoạn này chủ yếu là dùng nhân công rẻ nên đó là thế mạnh của Châu á
ngoài Nhật, đặc biệt Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapoe. Đài
Loan sản xuất được các 'bìa mẹ' (mother board) cho PC và các máy PC
hoàn chỉnh, hiện 80% bìa mẹ dùng cho PC trên thế giới được sản xuất tại
Đài Loan. Singapoe rất mạnh về các thiết bị ngoại vi.
Tầng lớp cuối cùng là việc sản xuất các linh kiện điện tử. Hiện nay chỉ có
Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn chỉnh làm các mạch tổng hợp.
Sau giai đoạn sản xuất wafers và in mạch tổng hợp trên wafers, cần các
nhà máy siêu sạch và siêu chính xác rất tối tân, công việc còn lại là đặt và
hàn những mạch in trần đó vào hộp thành linh kiện, cần nhiều nhân công
rẻ, thường được các công ty quốc tế làm tại các chi nhánh ở châu á như
Malaysia, Singapore Nhưng những linh kiện sản xuất đại trà (bộ nhớ là
chủ yếu) đã được sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, kể cả
giai đoạn làm wafers trong các nhà máy mua của Mỹ hay Nhật.
14
Có một điều rất quan trọng là một nền công nghệ có nhiều tầng lớp như
trên, và lại trải ra khắp hoàn cầu, vẫn luôn luôn tiến bộ được nhịp nhàng ? vì
không phải mỗi lúc, mỗi tháng hay mỗi năm mà có thể thay đổi tất cả các
công đoạn để thành một bước nhảy vọt mới trong công nghệ, phần cứng cũng
như phần mềm. Đó chính là khía cạnh chuẩn trong giao diện của những
tầng lớp nói trên (thương lượng trong các tổ chức nghề nghiệp, hay do một
công ty áp đặt qua vị trí thượng phong của họ). Những giao diện này được
nghiên cứu rất kỹ để tồn tại lâu hơn các sản phẩm trong mỗi công đoạn, và
khi thay đổi nhanh và mạnh hơn trước thì vẫn giữ được tương thích với quá
khứ gần, tuy phải trả cái giá là có thể không khai thác được 100% công xuất
mà kỹ thuật mới có thể đem lại. Tuy nhiên sự tương thích này vẫn cần những
Linux.
- Các mạng cục bộ cực nhanh (100 - 1000 megabít/g) dùng trong các cơ
quan, mạng đường dài bằng cáp quang, kỹ thuật ADSL cho phép tăng vận
tốc thông tin đến từng nhà riêng vài chục lần mà không cần thay giây
đồng hiện có.
- Chuẩn CORBA, cho phép các chương trình tin học phân tán cộng tác
được với nhau.
- Chuẩn XML, xác định ngôn ngữ giao diện (interface) cho mạng Internet,
tổng quát hơn ngôn ngữ HTML.
- Thiết kế xử lý song song ở mạng tầm rộng (WAN), vừa (LAN) và hẹp
(cụm máy tính, cluster) dựa trên các linh kiện hay/và thành phẩm đã có
sẵn và được sản xuất đại trà.
- Công nghệ tác tử (agent), công nghệ để thực hiện trong tương lai những
ứng dụng di động và thông minh. Đó là những chương trình có thể tự
động di chuyển trong mạng viễn thông đến các nơi để hoạt động với một
mục đích nào đó.
Có thể tiên đoán trong vòng vài năm nữa những công nghệ này sẽ lần lượt
chín muồi và kết hợp được với nhau để hình thành một bước phát triển mới
của CNTT, rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, và khả năng phục vụ cao hơn hiện
nay. Khi đó sẽ cần rất nhiều chuyên gia trong các ngành nghề và chuyên gia
16
CNTT cộng tác với nhau để thực hiện những phần mềm ứng dụng dựa trên
các thành quả nghiên cứu này.
Một công nghệ mà sở hữu trí tuệ đóng vai trò tối quan trọng trong việc
phát triển.
Là một công nghệ mũi nhọn có hàm lượng tri thức cao nên vấn đền
bảo vệ tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong chính sách phát triển CNTT
của các quốc gia. Các sản phẩm CNTT đặc biệt là các sản phẩm phần mềm
các loại sản phẩm có hàm lương tri thức cao phục vụ từng nhu cầu khó tính
của mọi khách hàng đang phát triển rộng rãi và thu được nhiều lợi nhuận hơn
hẳn so với sản xuất khối lượng lớn. Bởi vì đây là một loại hình sản xuất kinh
doanh mà sản xuất kinh doanh mà sản phẩm của nó khó bắt trước và cũng
không cần số lượng thật lớn.
Như vậy có thể thấy CNTT là một cơ sở quan trọng làm biến đổi tính chất
và phương thức sản xuất - kinh doanh. Quan trọng hơn là nó đem đến những
cái lợi thu được không phải là từ đất đai, sức lao động hay tư bản mà chính là
từ tri thức loài người, nói cách khác tri thức đã trở thành một yếu tố sản xuất
trực tiếp và là “tiêu chuẩn vàng” của thời đại hiện nay.
Nếu như trong nền kinh tế cũ, mục tiêu quan trọng nhất là tối ưu hoá tiến
trình sản xuất đại quy mô; do đó đòi hỏi phải có một tổ chức có đẳng cấp và
kỷ luật công nghiệp, thì nay trong nền kinh tế mới, điều quan trọng là phát
minh khoa học, kỹ thuật và khả năng phát hiện các công nghệ mới. Tổ chức
doanh nghiệp vì thế phải mỏng, nhẹ nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thích
nghi với điều kiện kinh doanh thay đổi nhanh chóng. Thử thánh lớn nhất hiện
nay cho giới lãnh đạo doanh nghiệp là quản lý kiến thức (knowledge
management), chứ không phải là quản lý sản xuất hay quản lý tài chính nữa.
Trong nền kinh tế mới, đại đa số người lao động làm việc bằng trí óc để
xử lý thông tin, chứ không phải làm việc bằng chân tay để chế biến hàng hoá
vật chất. Hiện nay ở Mỹ, hơn 75% lực lượng lao động làm công việc xử lý
thông tin, chứ không phải xử lý vật chất. Thông tin có thể được số thức hóa
dễ dàng, vì vậy càng thích hợp với nền kinh tế Internet.
18
Quá trình hình thành nền kinh tế mới cũng thay đổi cung cách lao động.
Trong trường hợp của Mỹ, mô hình lao động đã biến dạng rất nhiều so với
mô hình cổ điển. Khi đó công nhân viên làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ
chiều tại các xí nghiệp, văn phòng. Nhân viên trong các doanh nghiệp được
tổ chức thành đẳng cấp, ngạch thật rõ ràng. Nhưng hiện nay, khoảng 10% lực
nhanh chóng và đã ảnh hưởng đến phần thế giới còn lại.
Mạng lưới viễn thông cũ và mới cũng rất khác nhau. Mạng cũ chủ yếu
dùng tính tương tự (analog) và chuyển mạch (circuit-switched); mạng mới
dùng số thức, IP (Internet Protocol; Giao thức Internet) và chuyển gói
(packet-switched). Chi phí trong hệ thống cũ tính trên phút, dựa trên thời gian
và khoảng cách gọi. Trong hệ thống mới, phí tính trên megabyte truyền, vì
thế không phụ thuộc vào thời gian và khoảng cách nối mạng; làng toàn địa
cầu đã trở thành hiện thực. Sau cùng, trong mạng cũ, hệ thống viễn thông do
nhà nước sở hữu và điều hành, nhưng trong mạng mới, hệ thống viễn thông
được tư nhân hóa và tự do hóa rất nhiều. Đặc biệt mạng Internet toàn cầu
chịu rất ít luật lệ trói buộc và hiện nay các hoạt động thương mại điện tử
không bị đánh thuế.
Rõ ràng CNTT là một lực lượng quan trọng bởi vì nó trở thành một
công cụ “khuếch đại sức mạnh của não giống như các công nghệ của cuộc
cách mạng công nghiệp khuếch đại sức mạnh của cơ bắp”.
1.1.2.2. CNTT tạo nên một nền tảng văn hoá xã hội mới, nền văn hoá tri
thức với xu hướng đổi mới không ngừng.
Với sự phát triển CNTT người ta đã thấy tồn tại một nền văn hoá tri
thức mới với tinh thần chịu mạo hiểm sáng tạo tri thức mới, của cái mới.
Chính phủ nhận thức được vai trò của mình trong giáo dục, trong việc
khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro mà hoạt động kinh doanh, văn hoá
đòi hỏi, trong việc định ra những thể chế tạo thuận lợi cho việc biến những ý
tưởng thành hiện thực. Bên cạnh đó tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền
kinh tế. Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu thường coi lao động và vốn là hai
yếu tố chủ chốt của sản xuất, còn tri thức, giáo dục, công nghệ là các yếu tố
bên ngoài của sản xuất tuy có ảnh hưởng nhất định tới sản xuất. Tri thức khác
20