Sự phát triển của thị trường tài chính ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Vũ Đức Thanh
Hà nội - 2004


2.2.1.1 Thị trường Nội tệ liên ngân hàng - 48 -
2.2.1.2 Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng - 50 -
2.2.1.3 Thị trường tín phiếu kho bạc - 54 -
2.2.1.4 Nghiệp vụ thị trường mở - 55 -
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 2 -
2.2.1.5 Thị trường mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn khác - 57 -
2.2.2 Thị trƣờng vốn - 58 -
2.2.2.1 Thị trường cổ phiếu - 58 -
2.2.2.2.Thị trường cổ phiếu phi chính thức - 63 -
2.2.2.3 Thị trường tín dụng ngân hàng - 71 -
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TTTC VIỆT NAM - 85 -
2.3.1 Thị trƣờng tài chính Việt Nam đã hình thành, đang phát triển và
bƣớc đầu đƣợc vận hành có hiệu quả - 85 -
2.3.2 Một số hạn chế của TTTC Việt Nam - 91 -
2.3.3 Những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển của
TTTC - 101 -
C h ư ơ n g 3 ĐỊNH HƢỚNG CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN TTTC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI - 110 -
3.1. BỐI CẢNH KINH TẾ VÀ ĐỊNH HƢỚNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN
TTTC VIỆT NAM - 110 -
3.1.1 Bối cảnh kinh tế hiện nay - 110 -
3.1.2 Định hƣớng cơ bản cho sự phát triển TTTC trong giai đoạn mới -
113 -
3.2 CÁC GIẢI CƠ BẢN NHẰM PHÁP PHÁT TRIỂN TTTC VIỆT NAM -
121 -
3.2.1. Xây dựng kết cấu hạ tầng cho TTTC - 121 -
3.2.2 Tăng cƣờng hoạt động thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng - 130 -
3.2.3 Tiếp tục phát triển các thị trƣờng cấu thành TTTC - 132 -
3.2.4 Có chiến lƣợc đầu tƣ hợp lý cho phát triển và đào tạo nguồn nhân

NHTMQD
Ngân hàng Thƣơng mại quốc doanh
TPCP
Trái phiếu Chính phủ
TPCT
Trái phiếu Công ty
TTGDCK
Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTCK
Thị trƣờng chứng khoán
TTTC
Thị trƣờng tài chính
UBCKNN
Uỷ ban chứng khoán Nhà nƣớc

Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 4 -
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đã hơn một thập kỷ qua Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện hệ thống
kinh tế, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, có thể khẳng định rằng thành
tựu của quá trình đổi mới là hết sức lớn lao và không thể đảo ngƣợc. Đồng
thời, quá trình đổi mới cũng đã tạo ra một hệ thống các thị trƣờng trong đó có
thị trƣờng tài chính.
Thị trƣờng tài chính nƣớc ta hiện nay tuy còn non trẻ, song đã có cấu
trúc tƣơng đối hoàn chỉnh. Thị trƣờng tiền tệ đã bƣớc đầu tạo cơ sở cho
NHNN thực thi linh hoạt hơn CSTT. Thị trƣờng chứng khoán ra đời mở ra
cho nền kinh tế một kênh huy động vốn mới tiềm tàng bên cạnh nguồn tín
dụng truyền thống của hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Tuy nhiên, về cơ bản

- Tô Kim Ngọc, Thực trạng hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng
ở Việt Nam thời gian qua, Tạp chí Ngân hàng, số 1 năm 2001.
- Vũ Đồng Tiến, Một số vấn đề về vai trò điều tiết thị trường tiền tệ của
NHNN Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, số 11/2001.
Các công trình và bài viết nói trên là những biểu hiện tiêu biểu về
những cách tiếp cận khác nhau, trong các thời điểm và hoàn cảnh khác nhau
đối với thị trƣờng tài chính. Mặc dù vậy, chƣa có tài liệu nào đề cập một cách
hệ thống về các giải pháp thúc đẩy sự phát triển thị trƣờng tài chính Việt Nam
nhƣ một chỉnh thể. Bởi vậy, nghiên cứu một cách có hệ thống về thị trƣờng
tài chính, đánh giá thực trạng thị trƣờng tài chính ở Việt Nam và tìm kiếm
những giải pháp để hoàn thiện nó là một yêu cầu bức thiết nhằm góp phần
phát huy tác dụng của thị trƣờng tài chính trong nền kinh tế thị trƣờng.
3. Mục đích nghiên cứu
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 6 -
Trên cơ sở phân tích thực trạng của thị trƣờng tài chính, luận văn làm
rõ những vấn đề đặt ra trong việc phát triển thị trƣờng tài chính ở nƣớc ta. Từ
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trƣờng tài chính ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Dƣới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu thị trƣờng tài chính
nhƣ là một bộ phận của thị trƣờng xã hội, nơi diễn ra giao dịch của các tác
nhân trong nền kinh tế về một thứ hàng hoá đặc biệt - tiền tệ, chứng khoán và
giấy tờ có giá.
Về mặt lý luận, có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với thị trƣờng tài
chính. Tuy nhiên, khi phân tích thị trƣờng tài chính Việt Nam, luận văn chủ
yếu dựa trên cách tiếp cận về thời hạn của hàng hoá giao dịch trên thị trƣờng.
Nói cụ thể, luận văn nghiên cứu thị trƣờng tài chính nhƣ một hệ thống cấu
thành bởi hai bộ phận - Thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vốn (bao gồm thị
trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu và tín dụng ngân hàng).
Mặt khác, thị trƣờng tài chính ở Việt Nam chỉ bắt đầu hình thành từ khi

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN TTTC
1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG TÀI CHÍNH

1.1.1 Những khái niệm cơ bản và cấu thành của thị trường tài chính

Hệ thống tài chính là một tổ hợp của TTTC, các định chế tài chính, các
“luật chơi” và các kỹ thuật giao dịch trên thị trƣờng. TTTC là nơi trao đổi,
giao dịch các loại "hàng hoá" của thị trƣờng - tức là các quyền đòi nợ tài
chính (financial claims).
1.1.1.1 Các thị trường cấu thành của thị trường tài chính
TTTC đƣợc cấu thành bởi những thị trƣờng bộ phận, tuỳ theo những
cách thức phân chia khác nhau. Theo thời gian đáo hạn của các công cụ tài
chính, TTTC đƣợc phân thành thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vốn. Theo cách
thức huy động vốn, TTTC đƣợc phân thành thị trƣờng nợ và thị trƣờng cổ
phiếu. Theo thời điểm các công cụ tài chính đƣợc đƣa ra thị trƣờng, TTTC lại
bao gồm thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Dƣới đây sẽ làm rõ các loại
hình thị trƣờng cấu thành của TTTC theo các cách phân loại vừa nêu.
 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ là thị trƣờng phát hành và mua bán lại các công cụ tài
chính ngắn hạn (kỳ hạn dƣới 1 năm). Thị trƣờng tiền tệ (thƣờng) bao gồm thị
trƣờng nội tệ liên ngân hàng, thị trƣờng ngoại tệ liên ngân hàng và thị trƣờng
đấu thầu tín phiếu kho bạc. Các chủ thể tham gia thị trƣờng tiền tệ bao gồm
NHTW, các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, Chính phủ, các
doanh nghiệp, các cá nhân và các nhà môi giới tiền tệ.
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 9 -
Các công cụ của thị trƣờng tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, chứng
chỉ tiền gửi, thƣơng phiếu, chấp phiếu của ngân hàng, thoả thuận mua lại, tín
phiếu NHTW. Đặc điểm của các công cụ này là có độ rủi ro thấp và có tính
thanh khoản cao.

cuối cùng đƣợc thực hiện. Kỳ hạn thanh toán của một công cụ nợ là thời gian
tính tới ngày kết thúc của công cụ vay nợ. Công cụ vay nợ có thể có kỳ hạn
thanh toán ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Công cụ nợ ngắn hạn có thời
gian đáo hạn từ 1 năm trở xuống; công cụ nợ trung hạn có thời gian đáo hạn
từ 1 năm tới 10 năm; và công cụ nợ dài hạn có thời gian đáo hạn trên 10 năm.
Thị trường cổ phiếu là thị trƣờng trong đó ngƣời cần vốn huy động vốn
bằng cách phát hành các cổ phiếu. Các cổ phần là quyền đƣợc chia phần trên
lãi ròng (sau khi trừ chi phí và thuế) và tài sản của các công ty phát hành cổ
phiếu. Ngƣời nắm giữ cổ phiếu đƣợc gọi là cổ đông. Các cổ đông thƣờng
đƣợc thanh toán cổ tức theo định kỳ. Các cổ phiếu không có thời gian đáo hạn
và đƣợc coi là các chứng khoán dài hạn.
 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán lần đầu các
công cụ tài chính - các chứng khoán. Thị trƣờng này thu hút các khoản tiết
kiệm của các hộ gia đình và các khoản vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và
của Chính phủ thành các khoản đầu tƣ vốn. Điều này có nghĩa là các chủ thể
phát hành thu đƣợc tiền từ việc bán các công cụ tài chính để tài trợ cho việc
đầu tƣ ngắn hạn hoặc dài hạn.
Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các chứng
khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Khác với thị trƣờng sơ cấp,
khoản tiền thu từ bán chứng khoán trên thị trƣờng thứ cấp thuộc về các nhà
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 11 -
đầu tƣ, các nhà kinh doanh chứng khoán/tự doanh chứng khoán (dealer) chứ
không thuộc về các chủ thể phát hành chứng khoán.
1.1.1.2 Các loại hình định chế tài chính
Các chủ thể tham gia trên TTTC bao gồm các doanh nghiệp, các nhà
đầu tƣ, cá nhân, Chính phủ và các định chế tài chính trung gian. Trong đó, các
định chế tài chính trung gian là các chủ thể quan trọng nhất tham gia thị
trƣờng.

dùng để cho vay thế chấp. Ngày nay, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay đƣợc
phép phát hành các tài khoản séc, thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng và
thực hiện nhiều hoạt động trƣớc đây chỉ dành cho các NHTM. Tƣơng tự nhƣ
các NHTM, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay cũng đƣợc yêu cầu gửi tiền tại
NHTW.
Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ. Hoạt động của các ngân hàng tiết kiệm
tƣơng hỗ tƣơng đối giống với các quỹ tiết kiệm và cho vay. Họ nhận các
khoản tiền gửi và dùng chúng trƣớc hết là để cho vay thế chấp. Cấu trúc tổ
chức của các ngân hàng tiết kiệm tƣơng hỗ hơi khác các quỹ tiết kiệm và cho
vay ở chỗ họ luôn đƣợc tổ chức nhƣ có sự “tƣơng trợ” lẫn nhau, tức là họ hoạt
động nhƣ một “hợp tác xã” trong đó những ngƣời sở hữu tiền gửi lại là các
chủ sở hữu ngân hàng. Ngày nay, các ngân hàng tiết kiệm tƣơng hỗ cũng có
thể phát hành séc và thực hiện các khoản cho vay khác với các khoản cho vay
thế chấp.
Liên hiệp tín dụng. Các liên hiệp tín dụng là các tổ chức cho vay rất
nhỏ có tính chất nhƣ các hợp tác xã đƣợc tổ chức xung quanh một nhóm xã
hội đặc biệt. Các thành viên của quỹ tín dụng là những ngƣời lao động của
một công ty nào đó. Họ thu nhận vốn từ các khoản tiền gửi và trƣớc hết là
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 13 -
thực hiện các khoản cho vay. Các quỹ tín dụng cũng đƣợc phép phát hành các
khoản tiền gửi có thể chuyển thành séc và có thể thực hiện các khoản cho vay
tiêu dùng.
 Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng
Các định chế chức tiết kiệm theo hợp đồng là những định chế tài chính
nhận vốn theo định kỳ trên cơ sở các hợp đồng. Do có thể dự tính đƣợc những
khoản phải thanh toán trong tƣơng lai, các định chế tiết kiệm này không phải
lo lắng nhiều về việc thiếu hụt vốn nhƣ các định chế tài chính nhận tiền gửi.
Do vậy, tính thanh khoản không phải là một yêu cầu cấp bách nhƣ các định
chế tài chính nhận tiền gửi. Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng có xu hƣớng

động vốn bằng hình thức hùn vốn đầu tƣ (investment pool) thông qua việc
phát hành các cổ phiếu hoặc các chứng chỉ hƣởng lợi. Việc hùn vốn đảm bảo
cho các thành viên của quỹ mua đƣợc cổ phiếu và trái phiếu với chi phí giao
dịch thấp. Các cổ đông cũng có thể bán cổ phiếu của mình có trong Quỹ vào
bất kỳ lúc nào với giá trị của các cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào giá trị của các cổ
phiếu hay chứng khoán mà Quỹ đã đầu tƣ tại thời điểm đó.
Các quỹ đầu tƣ thực hiện các hoạt động đầu tƣ vốn bằng hai cách: trực
tiếp (tức là tham gia vào một công ty với tƣ cách là một cổ đông) và gián tiếp
(tham gia TTCK, hoặc cho thực hiện các khoản cho vay có thể chuyển đổi
thành cổ phần)
Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ. Các quỹ tƣơng hỗ thị trƣờng tiền tệ
phát hành các cổ phiếu để thu hút vốn, sau đó vốn này đƣợc dùng để mua các
công cụ tài chính trên thị trƣờng tiền tệ. Lãi suất thu đƣợc từ các công cụ tài
chính đƣợc đem thanh toán cho các cổ đông. Các cổ đông của quỹ có thể phát
hành séc ứng với giá trị phần tài sản cổ phần của họ trong quỹ. Tuy vậy, quỹ
này cũng có những hạn chế đối với việc sử dụng đặc quyền phát séc. Séc
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 15 -
thƣờng không đƣợc phát hành với một tổng giá trị nhỏ hơn mức tối thiểu đã
định.
Ngân hàng đầu tư. Ngân hàng đầu tƣ thƣờng tiến hành các hoạt động
sau: (i) Hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn trên TTCK nhƣ tƣ vấn phát
hành cổ phiếu, trái phiếu và bảo lãnh phát hành; (ii) Kinh doanh chứng khoán
nhƣ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, và quản lý quỹ đầu tƣ
chứng khoán; và (iii) Tƣ vấn về việc sát nhập và mua lại công ty.
Ngày nay, các ngân hàng đầu tƣ có xu hƣớng mở rộng hoạt động sang
lĩnh vực hoạt động của các NHTM. Các ngân hàng đầu tƣ cũng nhận tiền gửi
và cho vay. Điều này tạo áp lực cạnh tranh lớn lên các NHTM.
1.1.1.3 Các loại hình công cụ tài chính
Các công cụ tài chính đƣợc hiểu là những quyền đòi nợ tài chính nhƣ

phiếu; nếu công ty không làm đƣợc nhƣ vậy, thì sự bảo đảm của ngân hàng có
nghĩa là ngân hàng buộc phải bồi hoàn số tiền của hối phiếu. Lợi ích cho công
ty này là ở chỗ hối phiếu đó có thêm khả năng đƣợc chấp nhận khi mua hàng
hoá ở nƣớc ngoài vì nhà xuất khẩu ngoại quốc biết rằng ngay cả trƣờng hợp
công ty mua hàng hoá đã phá sản thì hối phiếu ngân hàng vẫn đƣợc thanh
toán đủ. Chấp phiếu thƣờng đƣợc bán lại trên thị trƣờng thứ cấp với giá thấp
hơn, và nhƣ vậy, có tác dụng tƣơng tự nhƣ tín phiếu kho bạc.
Thoả thuận mua lại (Repo) là những khoản vay ngắn hạn (thƣờng với
kỳ hạn thanh toán ngắn hơn 2 tuần), trong đó các tín phiếu kho bạc đƣợc dùng
làm tài sản bảo đảm mà ngƣời cho vay nhận đƣợc nếu ngƣời đi vay không
thanh toán đƣợc nợ. Thoả thuận mua lại đƣợc tạo ra nhƣ sau: Một công ty lớn
có một số vốn nhàn rỗi trong tài khoản ngân hàng và công ty này muốn đem
cho vay ngắn hạn (chẳng hạn 1 tuần). Công ty này dùng số tiền nói trên để
mua tín phiếu kho bạc ở một ngân hàng đồng ý sẽ mua lại sau 1 tuần với giá
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 17 -
cao hơn một chút so với giá mà công ty đã mua. Tác dụng của sự thoả thuận
này là ở chỗ công ty cho ngân hàng vay số tiền trên để thanh toán hết món nợ.
Thoả thuận mua lại là một nguồn vốn quan trọng đối với các ngân hàng và
ngƣời cho vay quan trọng nhất ở thị trƣờng này là các công ty lớn.
Thương phiếu
1
là công cụ vay nợ ngắn hạn do các ngân hàng, các
CtyTC hay các công ty lớn phát hành thƣờng dùng để đáp ứng các giao dịch
vãng lai cũng nhƣ thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Thƣơng phiếu chủ yếu
đƣợc giao dịch trên thị trƣờng sơ cấp. Tuy nhiên, cơ hội bán lại (tính thanh
khoản) của thƣơng phiếu đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.
Thƣơng phiếu thực sự là một trong các công cụ thị trƣờng tiền tệ phát triển
nhanh nhất.
Chứng chỉ tiền gửi (CD) là một công cụ vay nợ do ngân hàng bán cho

mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành, và thời gian đáo hạn của trái
phiếu. Trái phiếu bao gồm: (i) TPCP (do Chính phủ phát hành nhằm bù đắp
thâm hụt ngân sách; tài trợ cho các công trình công ích; hoặc làm công cụ điều
tiết tiền tệ); (ii) trái phiếu công trình (do Chính phủ hoặc chính quyền địa
phƣơng phát hành nhằm huy động vốn cho những mục đích cụ thể); và (iii)
TPCty (do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn tài trợ cho các hoạt động
kinh doanh)
Khế ước thế chấp (mortgage) là một thoả thuận về khoản tiền mà các
cá nhân hay các công ty kinh doanh vay để mua nhà, đất, hoặc những công
trình kiến trúc khác, trong đó các công trình kiến trúc và đất đƣợc dùng làm
vật thế chấp cho món vay. Những hiệp hội tiết kiệm và cho vay và những
ngân hàng tiết kiệm tƣơng hỗ là những ngƣời cho vay hàng đầu trong thị
trƣờng cho vay thế chấp nhà ở; tuy nhiên, các NHTM cũng đã bắt đầu tham
gia tích cực hơn vào thị trƣờng này. Đa số những món cho vay thế chấp
thƣơng mại và nông trại do các NHTM và các CtyBH thực hiện.
Những khoản vay thương mại và vay tiêu dùng là những khoản vay
dành cho ngƣời tiêu dùng và cho những công ty kinh doanh. Các khoản vay
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 19 -
này có thể đƣợc các ngân hàng hoặc các CtyTC cấp. Thƣờng không có thị
trƣờng thứ cấp để mua bán lại những món vay này và do đó, chúng đƣợc coi
là có tính thanh khoản thấp nhất trong các công cụ của thị trƣờng vốn.
 Các công cụ tài chính phái sinh (derivative instruments)
Công cụ tài chính phái sinh là một tài sản tài chính có giá trị trong
tƣơng lai phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản tài chính tài sản cơ
sở (underlying assets) tại thời điểm hợp đồng đƣợc ký kết. Chúng gồm các
loại sau:
Hợp đồng kỳ hạn (forwards) là một thoả thuận, trong đó một ngƣời
mua và một ngƣời bán chấp thuận thực hiện một giao dịch với khối lƣợng xác
định tại một thời điểm xác định trong tƣơng lai với một mức giá đƣợc ấn định

Chứng quyền (warrants) là quyền cho phép các cổ đông mua một số cổ
phần nhất định theo một mức giá xác định trong một thời hạn tƣơng đối lâu
(hàng năm). Chứng quyền tƣơng tự quyền chọn mua, song thời hạn của chứng
quyền dài hơn nhiều (hàng năm) trong khi thời hạn của quyền mua trƣớc ngắn
hơn (hàng tháng). Hơn nữa, chứng quyền đƣợc phát hành và bảo đảm bởi một
công ty trong khi quyền mua trƣớc chỉ là một công cụ tài chính và không
đƣợc các công ty phát hành
2
.
Mặc dù có vai trò quyết định trong phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài
chính, TTTC vẫn ẩn chứa trong nó những vấn đề cố hữu và rủi ro có thể phát
sinh. Đó là chi phí giao dịch cao, sự bất đối xứng về thông tin, những bất ổn
mang tính hệ thống và các rủi ro liên quan đến tự do hoá tài chính và bùng
phát khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
2
Theo Từ điển Baystreet CA
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 21 -
1.1.2 Vai trò của thị trường tài chính

1.1.2.1 Vai trò của thị trường tài chính ở cấp độ vĩ mô
Ở cấp độ vĩ mô, TTTC đóng vai trò là:
- Kênh huy động và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả
Chức năng này thƣờng đƣợc coi là quan trọng nhất của TTTC. Thông
qua các giao dịch tài chính, TTTC có chức năng cân đối nhu cầu về vốn của
các nhà phát hành các thoả thuận tài chính và những ngƣời nắm giữ các thoả
thuận tài chính. Thông qua lợi thế kinh tế nhờ qui mô và việc giảm thiểu các

ngân hàng. Ngoài ra, khi TTTC phát triển thì các đòi hỏi về minh bạch và
công khai hóa thông tin, về chuẩn mực kế toán, kiểm toán, và giám sát sẽ
ngày càng cao; điều này tạo điều kiện cho Chính phủ tăng hiệu quả và hiệu
lực quản lý hệ thống tài chính nói chung và TTTC nói riêng, góp phần giảm
thiểu và ngăn ngừa khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng phát.
1.1.2.2 Vai trò của thị trường tài chính ở cấp độ vi mô
Ở cấp độ vi mô, TTTC có vai trò:
- Góp phần cải thiện và nâng cao năng lực quản trị và sự năng động của các
công ty
Để vay đƣợc vốn từ các định chế tài chính, các công ty buộc phải nỗ
lực nâng cao năng lực quản trị, tính năng động trong điều hành sản xuất kinh
doanh và luôn tìm kiếm các cơ hội đầu tƣ. Thậm chí, ngay cả khi vốn đã đƣợc
giải ngân, các định chế tài chính, với chức năng giám sát các khoản cho vay,
vẫn yêu cầu các công ty vẫn phải đảm bảo đƣợc các điều kiện trên.
- Đa dạng hoá kênh huy động và đầu tư 3
Sai lệch kép” trong bảng cân đối tài sản của một tổ chức (nhƣ ngân hàng, doanh nghiệp) là tình trạng vừa có
sai lệch về cơ cấu thời hạn (các nguồn vốn ngắn hạn đƣợc sử dụng cho dài hạn), vừa có sai lệch về cơ cấu
đồng tiền (có sự khác nhau trong cấu thành đồng nội tệ và ngọai tệ giữa tài sản có và tài sản nợ trong bảng
cân đối tài sản).
Nguyễn Thị Hồng Hải Luận văn thạc sĩ
- 23 -
TTTC càng phát triển với nhiều loại hình định chế tài chính và công cụ
tài chính, thì các doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ càng có nhiều kênh huy động
vốn (nhƣ bằng cách phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu hay việc vay từ
các định chế tài chính hoặc nhận đầu tƣ từ các quỹ đầu tƣ mạo hiểm ) và đầu
tƣ (nhƣ cho vay lại hoặc đầu tƣ chứng khoán ).
- Chia sẻ, phân tán rủi ro

Kết cấu hạ tầng pháp luật
Kết cấu hạ tầng luật pháp là một bộ phận cấu thành quan trọng trong
kết cấu hạ tầng TTTC. Đây là nhân tố hàng đầu nhằm duy trì “luật chơi” và
bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tác nhân tham gia thị trƣờng.
Tại các nƣớc Châu Á, kết cấu hạ tầng luật pháp đƣợc hình thành trong
thời gian tƣơng đối dài và đang đƣợc “cải tổ” mạnh mẽ trong những năm gần
đây. Trong số này, đáng chú ý nhất là hầu hết các nƣớc đều tập trung vào việc
sửa đổi Luật phá sản ngân hàng.
Luật phá sản ngân hàng đƣợc sửa đổi để cho phép những con nợ phá
sản nhanh hơn và tài sản của họ sẽ đƣợc các chủ nợ nắm giữ. Tại Inđônêxia,
luật phá sản ngân hàng là di sản của hệ thống thuộc địa Hà Lan, tác dụng rất
thấp vì sự kéo dài, tốn kém của nó, và đôi khi cả những thủ tục bất công. Các
chủ nợ sẽ thƣờng rất khó khăn để bù đắp các khoản vay khi các con nợ không
thể trả nợ. Luật phá sản ngân hàng sửa đổi lấy mẫu từ Chƣơng 11 Luật phá
sản ngân hàng Mỹ, đã có hiệu lực vào tháng 8 năm 1998, và một toà án
thƣơng mại để giải quyết các vụ về tịch thu tài sản để thế nợ đƣợc thành lập
sau đó không lâu.
Tại Pakistan, một hệ thống toà án ngân hàng thống nhất đã đƣợc thiết
lập sau đạo luật Banking Companies Act năm 1997. Nó đã thay thế hệ thống

Trích đoạn Tự do hoỏ tài chớnh theo một lộ trỡnh thớch hợp 3 6- Thị trường Nội tệ liờn ngõn hàng 48 Thị trường tớn phiếu kho bạc 5 4- Nghiệp vụ thị trường mở 5 5-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status