ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
• • ■ *
ỉ(c $ Ý
SHIÊN CỨU HIỆU CHỈNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC MỒ HÌNH
TÍNH TOÁN v Á DựBÁO s ự LAN TRUYÊN CHẤT ô NHIỄM
TRONG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở HẢ NÔI
MÃ SỐ: QT-05-
CHỦ TR Ì ĐỀ T À I: PGS. TS v ũ QUYẾT THÁNG
CÁC CÁN B ộ THAM GIA: THS. PHẠM THỊ VIỆT ANH
THS. PHẠM VAN QUÂN
CN. PHẠM THỊ VIỆT MAI
ĐA' HOC QL'OC GIA HÀ ('•ÒL
TRUNG TÂK THONG TỊT ÌH ĩ V ỆN
T>T / '■ ,M
HÀ NỘI - 2006
1. BÁO CÁO TÓM TẮT
a. Tên đề tài: Nghiên cíai hiệu chỉnh mối quan hệ giữa các mô hình tính toán và dự báo
sự lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường không khí ở Hà Nôi
Mã số: QT - 05 - ậ-ặ
b. Chủ trì đề tài: PGS.TS. Vũ Quyết Thắng
c. Các cán bộ tham gia:
ThS. Phạm Thị Việt Anh
ThS. Phạm Văn Quân
CN. Phạm Thị Việt Mai
d. M ục tiêu và nội dung nghiên cứu.
♦ Mục tiêu:
- Việc sử dụng các mô hình toán học để đánh giá, dự báo sự lan truyền chất ô nhiễm
trong môi trường không khí đã được sử dụng phổ biến ờ các nước trên Thế giới và ở
nước ta. Kết quả tính toán nhìn chung cho thấy có sự phù hợp giữa các mô hình, tuy
nhiên các kết quả này chưa hoàn toàn đồng nhất về mặt giá trị cũng như phạm vi
This will be a scientific basic for homogenizing series of data in assessment of
environmental quality. The results calculated from the above models can be exchanged
each other for use according to concrete goals through coưective formulas. This will
contribute to optimize models in order to apply in solving the practical matters
effectively and to reduce expense.
- Content
s Assessing the suitability between Berliand and Sutton models by calculating
concentration and frequency of the days in which concentration exceeds the
permissible standards for waste eases created from the industrial sources
✓ Applying the Sutton and Berliand models for calculating the concentration of air
pollutants released from 22 industrial sources in Hanoi, corresponding to the various
atmospheric layer classification state.
s Study on and establish the equations expressing the relation between the
concentration calculated with 2 above models in the form: y=ax + b or Cs=aCB + b, in
which c s, CB is concentration o f air pollutants calculated with Sutton and Berliand
models; a & b are coefficients of the equation.
✓ Based on the obtained results from the above models, the transformable coefficients
corresponding to the various atmospheric states were brought out (for suspended dust,
CO, C02, S02). The general coefficients for these gases were also presented.
f. Obtained results
s Having assessed the suitability between Berliand and Sutton models
s Having calculated the concentration of suspended dust. CO. C 0 2, S 0 2 released from
22 industrial sources in Hanoi, corresponding to the various atmospheric layer
classification states.
s Having brought out the transformable coefficients and the equations for the relation
between the concentration calculated with Sutton and Berliand models in the form:
Cs=aCe + b.
- Đánh gía mức độ phù hợp của hai mô hình Sutton và Berliand thông qua viêc tính
toán sự phân bô nồng độ chất thải khí và tần suất xuất hiện nồng độ vượt tiêu chuấn
cho phép ( tần suất vượt chuẩn) từ nguồn thải công nghiệp (trường hợp nghiên cứu
MSc. Pham Van Quan
BSc. Pham Viet Mai
e. Objectives and content
- Objectives
The project aims at determining the ralation between Berliand and Sutton models.
This will be a scientific basic for homogenizing series o f data in assessment of
environmental quality. The results calculated from the above models can be exchanged
each other for use according to concrete goals through corrective formulas. This will
contribute to optimize models in order to apply in solving the practical matters
effectively and to reduce expense.
- Content
s Assessing the suitability between Berliand and Sutton models by calculating
concentration and frequency of the days in which concentration exceeds the
permissible standards for waste eases created from the industrial sources
s Applying the Sutton and Berliand models for calculating the concentration of air
pollutants released from 22 industrial sources in Hanoi, corresponding to the various
atmospheric layer classification state.
s Study on and establish the equations expressing the relation between the
concentration calculated with 2 above models in the form: y=ax + b or Cs=aCB + b, in
which c s, Cb is concentration of air pollutants calculated with Sutton and Berliand
models; a & b are coefficients of the equation.
s Based on the obtained results from the above models, the transformable coefficients
corresponding to the various atmospheric states were brought out (for suspended dust,
CO, C02, S02). The general coefficients for these gases were also presented.
f. Obtained results
s Having assessed the suitability between Berliand and Sutton models
s Having calculated the concentration of suspended dust. CO. CƠ2, S 0 2 released from
22 industrial sources in Hanoi, corresponding to the various atmospheric layer
classification states.
s Having brought out the transformable coefficients and the equations for the relation
.
°
3
1.2.ì M ô hình khuếch tán rối của Berliand
3
1.2.2. Mô hình lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường không khí của Sutton
1.3. Ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình lan truyền các chất ô nhiễm trong
khí quyển 12
1.4. Các hướng nghiên cứu mô hình hoá trong đánh giá và dự báo ô nhiễm
mòi trường không khí hiện nay
.
14
Chuơng 2. Đ ối tượng và phương pháp nghiên cứ u
.
14
2.1. Đỏi tượng nghiên cứu
.
J4
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.3. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
.
!.4. Các nguồn thải công nghiệp ở Hà Nòi
thường cho thấy phạm vi ô nhiễm gần nguồn hơn và hẹp hơn, trong khi kết quả tính toán
theo mồ hình Sutton sẽ cho vùng ô nhiễm kéo dài và xa nguồn hơn. Các nghiên cứu trước
đây cũng cho thấy rằng, đối với các nguồn điểm thấp nên sử dụng mô hình Sutton, còn các
nguồn điểm cao nên sử dụng mô hình Berliand. Tuy nhiên, cho đến nay điều này vẫn
chưa được kiểm chứng một cách chính xác và cụ thể. Vì vậy, khi sử dụng các số liệu tính
toán từ các mô hình để đánh giá chất lượng môi trường không khí sẽ dẫn đến những điều
bất cập nếu chuỗi số liệu không đồng nhất và có độ chính xác khác nhau.
Do vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc xây dựng một phương pháp
để tìm ra phương trình chuyển hoá cho các sô' liệu được tính toán theo hai mô hình ‘Jerliand
và Sutton- hai mô hình đại diện cho hai hướng nghiên cứu chủ yếu trên Thế giới về đánh
giá và dự báo ô nhiễm không khí được sử dụng phổ biến hiện nay - ý nghĩa thực tế của việc
làm này là cung cấp một phương pháp đơn giản để hỗ trợ cho công tác quản lý môi tnrờng
trong việc đồng nhất các số liệu sao cho có thể xem xét đánh giá chất lượng mồi 'rường mộỉ
cách chính xác và hiệu quả nhất.
Để giải quyết vấn đề đặt ra, đề tài sử dụng hai mô hình Sutton và Berliand để tính toán
nồng độ của các khí thải khác nhau thải ra từ 22 nhà máy xí nghiệp có lượng thải ".ương đối
lớn nằm rải rác trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả cuối cùng được đưa ra là các phương
trình mô tả mối quan hệ giữa hai mô hình trên tương ứng với từng loại khí thải.
1
CHƯƠNG 1. Sự LAN TRUYỀN CỦA CHẤT Ô NHIỄM
TRONG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
1.1. Sự phân bó chất ô nhiêm và phương trình vi phán cơ bản
Khi mô tả quá trình khuếch tán chất ô nhiễm trong không khí bằng các mô hình toán
học thì mức ô nhiễm không khí thường được đặc trưng bởi trị số trung bình nồng độ chất ô
nhiễm phân bố theo không gian và thời gian. Dưới tác dụng cùa gió các luồng khí , bụi
phụt lên từ miệng ống khói sẽ bị uốn cong theo chiều gió thổi. Chất ô nhiễm dần dần bị
khuếch tán rộng ra tạo thành vệt khói. Kết quả khảo sát cho thấy các chất khí thải và bụi lơ
lửng lan truyền chù yếu theo vệt khói trong phạm vi góc cung hẹp chỉ từ 10-20°. Một số
hạt bị nặng sẽ tách khỏi vệt khói và rơi xuống mặt đất ở gần ống khói. Nếu coi góc mở của
vệt khói không đổi theo khoảng cách thì diện tích do vệt khói gây ô nhiễm sẽ tăng tỷ lệ với
hướng trục Ox theo chiều gió thổi thì Vy = 0, nên:
O . k - 0
Sy
- Thực nghiệm và lí thuyết đã chứng tỏ rằng sự khuếch tán các chất ô nhiễm theo
phương vuông góc với hướng gió lớn hơn rất nhiều lần cường độ khuếch tán theo hướng
giò. VI vậy Sô- hạng: S(KxSC)
Ổx
được bỏ qua so với các số hạng khác trong phương trình ( 1)
- Giả thiết không có quá trình liên kết và biến đổi chất nên a = /? = 0. Việc xem
a = p = 0 chỉ có thể thực hiện được nếu thời tiết khô ráo.
1.2. Mỏ hình hoá quá trình lan truyền chất ò nhiễm trong mói trường không
1.2.1. Mò hình khuếch tán rối của Berliand
Berliand đã tiến hành nghiên cứu về sự khuếch tán chất ô nhiễm trong mô trường
không khí theo phương pháp thuỷ động lực học thống kê. Trên cơ sở đó ông đã th7\ ia òược
công thức xác định nồng độ trung bình chất ô nhiễm tại điểm có toạ độ ( X, y )trên mặt
phẳng gần mặt đất (z=l-2m) đối với nguồn điểm. Xuất phát từ phương trình (1) 3erliand
giả thiết quá trình khuếch tán rối là dừng, trục Ox hướng theo chiều gió thổi có vận tốc
trung bình là Ư, bỏ qua sự xâm nhập và biến đổi hoá học kết hợp với các điểu kiện gần
đúng nêu trên. Khi đó phương trình Berliand có dạng:
Dựa vào phương trình (2) Berliand đã tiến hành thiết lập các điều kiện ban đầu và
điều kiện biên để giải bài toán nguồn điểm phát thải liên tục có côns suất M=const.
Bước 1: Thiết lập điều kiện ban đầu
Berliand thiết lập điều kiện ban đầu dựa trên định luật bảo toàn vật chất. Tại thời
điểm: t=to
ta có: X = 0, y = 0, z = H
\i.C=U .Ô{y).õ{z-H) (3)
Trong đó:
- H: Độ cao hiệu dụng của nguồn phát thải
- U: Tốc độ gió trung bình (m/s).
- M: Công suất của nguồn thải (mg/s).
Khi hướng trục Ox theo chiều gió thì:
U=ƯX
Và sự biến đổi của ư theo độ cao z sẽ có dạng:
U(z)=U(Z|).(z/Z|)n (7)
Trong đó:
- U(z) là tốc độ gió tại độ cao z.
- U(Z|) là tốc độ gió tại độ cao Zị.
n là chỉ số liên quan đến tầng kết nhiệt của khí quyến.
- n=0.14: Tầng kết nhiệt bất ổn định.
- n=0,20: Tầng kết nhiệt ổn định.
- n=0,17: Tầng kết nhiệt cân bằng phiếm định
Kz=KzJ.(z/z1)m(8)
Trong đó:
- Kz: Hệ số khuếch tán rối tại độ cao z
- KiỊ Hệ số khuếch tán rối tại độ cao Z|
- m: Chỉ sô' có liên quan đến tầng kết nhiệt.
5
Trong mô hỉnh của Berliand cho z=lm . khi đó m -0 . Để xét Ky Berliand đưa ra khái
niộm kích thước khuếch tán rối ngang Ko-
Xét Vz (Tốc độ thẳng đứng) với Vz = -W.
Trong đó: w là tốc độ rơi cùa hạt.
Dựa vào việc tham số hoá các đại lượng trên, Berliand đã giải phương trình (2) để
tìm ra nghiệm c với các điều kiện phụ đã thiết lập. Berliand chia bài toán ra làm hai trường
- Trường hợp 1: Bụi trọng lượng (kích thước hạt lớn không tổn tại lâu trong khí
quyển), gây ổ nhiễm mạt đệm (đất, nước, hệ sinh thái )
- Trường hợp 2: Bụi lơ lửng và khí độc, gây ỏ nhiễm môi trường không khí, ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.
6
Phương pháp giải: Berliand dùng phương pháp phân li biến số:
c = C(x,y,z) = P(z).Q(x,y)
1.5 Irt* I I
(11)
Bước 4: Kiểm tra thực tế đánh giá độ chính xác của mô hình
7
Để thuận lợi cho việc đánh giá độ chính xác cũa mỏ hình người ta tiến hành các phép đo
thực nghiệm taị một điểm N có toạ độ (x,y), sau đó đối chứng với việc tính toán từ mỏ hình
theo còng thức (10) để rút ra kẽt luận về độ chính xác của mô hình. Để đảm bảo độ thống
kê việc đo đạc phải tiến hành ít nhất ba lần tại một điểm cho trước. Độ chính xác được tính
như sau:
£ =
( c - c y
( O 2
Trong đó:
- C: Nồng độ chất ô nhiễm tính theo lí thuyết.
- c*: Nồng độ thực tế của chất ô nhiễm theo số liệu đo đạc thực nehiệm.
Bước 5: Tham số hoá các yếu tô' tính toán phù hợp với khu vực nghiên cứu.
- uI được tính theo số liệu khí tượng khu vực nghiên cứu thõng qua U|() dựa vào công
thức: Ị Ị
u.=¥u-
1 10"
- Kị: Dựa vào kết quả tính toán tại khu vực nghiên cứu.
AH được tính theo công thức của Berliand dựa vào các tham số của khu vực nghiên
cứu:
AH =
l,5.W„-*0
u '
2,5 +
3, 3.g./y A T
V
(12)
- C(x,y,z): Nồng độ chất ô nhiễm (m g/rrò
- CyQ: Các hệ số khuếch tán rối suy rộng của Sutton
- N: Chỉ số liẻn quan tới tầng kết nhiệt
c(x,y,x) =
2M
nuC c.x
2 - II
7 exP
y
Đối với nguồn điểm liên tục trên cao có độ cao hiệu dụng H đặt tại gốc toạ độ , mô
hình Sutton có dạng:
A/exp
c(x,y,z) =
-y'
n- -n
C;.x-
7TCC.UX2-"
> 7
í
1
N
1
1
(z+ //): T
Ịexp
C:x2'n
+ exp
c : v' '
(14)
u: Tốc độ gió trung bình tại độ cao hiệu dụng cùa nguồn
10
Khi đó (14) có dạng:
c(x,y,z) =
M
lĩĩuơ ơ.
exp
exp
-U-H)
2 a :
2 \ r
+ exp
2ơ:
(20)
Trong đó:
U: Tốc độ gió trung bình tại chiều cao hiệu dụng H của ống khói
Đặt z=0 trong công thức (20) ta có công thức xác định nồng độ chất ô nhiễm ở gần
mặt đất như sau:
r-Hi\
c(x,y, 0) =
M
nuaơ.
-exp
.exp
'-ơ:
(21)
Các công thức (20), (21) là dạng cải tiến của Sutton và Pasquill thường quen gọi là
các công thức của mô hình Gauss.
1.3. Ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình lan truyền các chất ô nhiễm trong
khí quyển
s Ảnh hưởng của gió
nhiễm môi trường không khí hiện nay.
Để đánh giá hiện trạng và dự báo ô nhiễm môi trường không khí tại mọi khu vực,
trên thế giới cũng như ở VN hiện nay thường sử dụng hai phương pháp sau:
❖ Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp đo đạc khảo sát tại nhiều điểm trên
hiện trường của một vùng và bằng phương pháp thống kê để phân tích, đánh giá
chất lượng không khí vùng đó
❖ Phương pháp mô hình hoá:
Dùng các mô hình toán học và dự báo lan truyền các chất ô nhiễm theo không gian
và thời gian, sau đó kết hợp với các số liệu đo đạc thực nghiệm để kiểm chứng độ chính
xác của mô hình, trên cơ sở đó xây dựng các phần mềm tối ưu và thương mại hoá.
Theo tài liệu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và chương trình môi trường
liên hợp quốc (UNEP) thì hiện nay trên thế giới có hơn 20 dạng mô hình tính toán và dự
báo ô nhiễm môi trường không khí, chủ yếu tập trung theo ba hướng chính sau:
+ Hướng 1: Mô hình thống kê kinh nghiệm dựa trên cơ sở lý thuyết của Gauss với
giả thiết phân bố nồng độ chất ô nhiễm tuân theo quy luật phân bố chuẩn. Các nhà khoa
học đầu tiên áp dụng và cải tiến theo hướng này là Tunner và Sutton vì thế thường được
gọi là mô hình Sutton.
12
+ Hướng 2:Mô hình thống kê thuỷ động lực học sử dụng lý thuyết khuếch tán rối
trong điểu kiện khí quyển có phân tầng kết nhiệt. Mô hình này được Berliand hoàn thiện
và áp dụng thành công ở Nga nên còn được gọi là mô hình Berliand. Mô hình này đã được
GS Nguyễn Cung áp dụng để phân tích nồng độ chất ô nhiễm độc hại cho phương án dự
kiến xây dựng nhà máy lọc dầu tại thành Tuy Hạ. (Phạm Ngọc Đãng, 2000)
+ Hướng 3: Mỏ hình dựa trên việc giải hệ phựơng trình đầy đủ của nhiệt động lực
học khí quyển bằng phương pháp số. Hiện nay hướng này còn gặp khó khãn trong lý
thuyết động lực-học vùng vĩ độ thấp, vì vậy khả nãng ứng dụng vào điều kiện nước ta còn
hạn chế.
Hai mô hình Berliand và Sutton (dạng cải tiến mô hình Gauss) hiện nay được sử
dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam để đánh giá, dự báo các chất ô nhiễm không khí
thải ra từ các nguồn thải công nghiệp, đô thị và khai khoáng. Một điều cần lưu ý là các mô
s Trung tâm Nghiên cứu quan trắc và mô hình hoá môi trường ( CEMM),
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. ĐHQGHN.
s Đài khí tượng Láng-Hà Nội
• Khảo sát điều tra thực địa: Khảo sát cập nhật thông tin về các nguồn thải công nghiệp
• ứng dụng mô hình tính toán sự phân bô' nồng độ chất ô nhiễm từ các nguồn í nải công
nơhiệp theo mô hình Berliand và Sutton : Sử dụng phần mềm do Trung tâm quan trắc
15
và mô hình hoá môi trường, Khoa Môi tnrờng. Trường Đại học Khoa học tự nhiên xây
dựng
• Sử dụng phuơng pháp tính tần suất vượt chuẩn [ ]: để so sánh mức độ ô nhiễm của hai
mô hình
• Sử dụng phần mềm Excel để vẽ đồ thị và xây dựng hệ sò' chuyển hoá giữa hai mô hình.
2.3. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Quá trình lan truyền và khuếch tán chất ô nhiễm trong khí quyển chịu ảnh hường
nhất định của các yếu tố tự nhiên và khí hậu của khu vực. Các nhà máy trong các khu công
nghiệp nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội đều có chung những điều kiện khí hậu đạc
trưng. Hà Nội thuộc trung tâm của vùng Bắc Bộ có toạ độ địa lý:
20°53 -21°23 vĩ độ Bắc
104°44 -106°22 kinh độ Đông
Đại bộ phận Hà Nội thuộc đồng bàng sông Hồng có độ cao 5-20m so với mực nước
biển, trừ khu vực Sóc Sơn, Tam Đảo có độ cao từ 20-40m. Địa hình Hà Nội thấp dần từ
Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây (nghiêng theo hướng Tâv Bắc. Đông Nam). Hà Nội nằm
trong khu vực nhiệt đới gió mùa, quanh năm nhận được lượng bức xạ dồi dào. Tổng lượng
bức xạ trung bình hàng năm là 120Kcal/km2. Nhiệt độ trung bình năm là 23-24°, độ ẩm
trung bình 80-82%. Lượng mưa trung bình hàng năm 1660mm/nãm. Đặc điểm khí hậu rõ
nét nhất là sự thay đổi khác biệt giữa hai mùa, mùa nóng và mùa lạnh. Từ tháng 5 đến
tháng 9 thời tiết nóng và mưa, nhưng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa lạnh và khô.
Giữa hai mùa có một thời kì chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10. Có thể phân chia khí
hậu Hà Nội thành bốn mùa tương đối rõ rệt: Mùa xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4;
Mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 8; Mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11; Mùa đông từ tháng 19.
Độ ẩm (%) 83
88 (III)
81 (XI)
Lượng mưa (mm) 1680
323 (VII!)
KI)
Sô' ngày mưa 142 16
6 (XI, XII)
Lượng mây
7,6 9,2 (III)
6,3 (XI)
Số giờ nắng
1640
197 (VII)
43(111)
Số ngày dông
94
19 (VII)
—
Bảng 2.2 : Chế độ gió khu vực Hà Nội
STT
Hướng gió
Tòc độ gió trung bình năm Tần suất gió
1
Lặng gió
0.00 18.09
2
Bắc
1.95 22.64
3
1.09
12
Tây Nam
1.64
3.01
13
Tây Tây Nam
1.00
0.27
14
Tây
1.45 7.38
15
Tây Tây Bắc
2.60 1.37
16
Tây Bắc
1.91 14.21
17 Bắc Tây Bắc 2.00 1.91
Nguồn [ ]
2.4. Các nguồn thải công nghiệp ở Hà Nội
Hiện nay ở Hà Nội có khoảng 318 cơ sỡ sán xuất quòc doanh thuộc Trung ương và
địa phương quản lý, các liên doanh và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài dang hoạt động tại 9
khu công nghiệp chính:
1. Khu công nghiệp Minh khai - Vĩnh Tuy
2. Khu công nghiệp Thượng Đình
3. Khu công nghiệp Đông Anh
4. Khu công nghiệp Trương Định - Đuôi Cá
5. Khu công nghiệp Văn Điển - Pháp Vân
6. Khu công nghiệp Cầu Diễn - Nghĩa Đô
TRƯỜNG KHÔNG KHÍ ở HÀ NỘI
3.1. Đánh giá mức độ phù hợp của các mỏ hình
Như đã trình bày trong phần tổng quan, các mô hình đánh giá và dự báo ô nhiễm môi
lờng không khí được chia thành 3 hướng chính là mô hình thống kê kinh nghiệm dựa trên
I sở lý thuyết bán kinh nghiệm của Gauss, Mô hình thống kê thuỷ động lực học sử dụng lý
uyết khuếch tán rối trong điều kiện khí quyển có phân tầng kết nhiệt và mô hình số trị.
Hai hướng nghiên cứu đầu tiên hiện đang được sử dụng rộng rãi và ngày càng phát
ển ở Việt Nam cũng như trên Thế giới. Các mô hình đại diện cho các hướng này là mô
nh Gauss và các dạng cải tiến của nó ( mô hình Sutton) và mô hình Berliand. Mô hình
ỉrliand được sử dụng nhiều ở Liên xô cũ và các nước Đông Âu truớc đảy. Nồng độ trung
nh tại mặt đất được tính qua công thức 10 chương 1
Mô hình Sutton - Một dạng cái tiến của mô hình Gauss, được sử dụng nhiều ở các nước
tương Tây, nồng độ chất ô nhiễm được tính như công thức 18 chương 1
Để đánh giá mức độ phù hợp của các mô hình, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi
a chọn 2 mô hình Sutton và Berliand (đại diện cho hai hướng nghiên cứu nói trên) để
ih toán khả năng lan truyền chất ô nhiễm từ nguồn thải công nghiệp, qua việc sử dụng
ng một thông số nguồn thải để tính toán ( sô' liệu được chọn để tính toán là nhà máy 8/3
1 Nội). Kết quả tính toán được thể hiện theo hai dạng: tính nồng độ và tính tần suất
ợt chuẩn [1,2]. Phương pháp Tần suất vượt chuẩn cũng được sử dụng để tính toán sự lan
lyền chất ô nhiễm không khí do nhiều nguồn thải công nghiệp ở Hà Nội gây ra (phụ
: 1)
♦ Kết quả tính nồng độ
Kết quả biểu diễn sự phân bô' nồng độ chất ô nhiễm ( chất ỏ nhiễm được lựa chọn ở
y là S 0 2 ) theo khoảng cách tính từ nguồn, tính theo mỏ hình Berliand và mỏ hình Stuton
ợc thể hiện ở hình 3.1. Nhìn chung, có sự phù hợp giữa hai mô hình, biểu hiện ở một số
ỉm sau:
Hình dáng và dạng đồ thị của hai mô hình tương đối giống nhau
Gần neuổn nhìn chung nồng độ chất thải rất thấp không đáng kể
Giá trị nổnp độ chất ô nhiễm tính được theo mô hình Berliand và Sutton có sự sai khác
nhưng không đáng kể.