Chương VI: Kế toán quản trị cho việc ra quyết định
189
- Năm thứ 2: 80 triệu.
- Năm thứ 3: 90 triệu.
- Năm thứ 4: 100 triệu.
- Năm thứ 5: 100 triệu.
Công ty muốn chọn dự án xây dựng khách sạn khi dự án này có lợi hơn dự án xây dựng cửa
hàng ăn, vậy thu nhập tối thiểu của dự án khách sạn phải là bao nhiêu?
Ta tính giá trị hiện tại ròng của dự án xây dựng cửa hàng ăn uống.
= [(50x0,926)+(80x0,857)+(90x0,794)+(100x0,735)+(100x0,681)]-200
= (46,3 + 68,56 + 71,46 + 73,5 + 68,1)-200
= + 127,92
(Ghi chú: các hệ số giá trị hiện t
ại được tra ở bảng giá trị hiện tại dòng tiền đơn ở cột 8%
với các dòng 1, 2, 3, 4, 5 tương ứng).
Muốn dự án xây khách sạn cơ lợi hơn dự án xây dựng cửa hàng ăn uống thì giá trị hiện tại
ròng của dự án này phải lớn hơn giá trị hiện tại ròng của dự án xây dựng cửa hàng ăn (+127,92).
Ta tìm thu nhập tối thiểu hàng năm của dự án xây dựng khách sạ
n, gọi y là số cần tìm. Ta
có:
(y x 6,710) - 500 triệu = 127,92 triệu.
> y =
=
+
710,6
triÖu 127,92 triÖu 500
93,58 triệu.
Điều này có nghĩa là dự án xây dựng khách sạn chỉ có lợi hơn dự án xây dựng cửa hàng ăn
phải giải quyết.
7.1. KHÁI QUÁT VỀ DỰ TOÁN
7.1.1. Khái niệm
Dự toán là những dự kiến chi tiết chỉ rõ cách huy động và sử dụng vốn và các nguồn lực
khác theo từng định kỳ và được biểu diễn một cách có hệ thống dưới dạng số lượng và giá trị.
7.1.2. Tác dụng của dự toán
Tác dụng lớn nhất của dự toán đối với nhà quả trị là cung cấp phương tiện thông tin một
cách có hệ thống toàn bộ kế hoạ
ch của doanh nghiệp. Một khi dự toán đã được công bố thì không
còn sự nghi ngờ gì về mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt và đạt bằng cách nào. Ngoài ra dự toán
còn có những tác dụng sau:
- Xác định rõ các mục tiêu cụ thể làm căn cứ đánh giá thực hiện sau này.
- Lường trước những khó khăn khi chúng chưa xảy ra để có phương án đối phó kịp thời và
đúng đắn.
- Kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệ
p bằng các kế hoạch của từng bộ phận khác
nhau. Nhờ vậy, dự toán đảm bảo cho các kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung
của doanh nghiệp.
7.1.3. Kỳ dự toán
Dự toán về mua sắm tài sản cố định, đất đai, nhà xưởng nói chung cho những khoản mục
thuộc loại tài sản cố định thường được lập cho một kỳ thờ
i gian dài, có thể là 20 năm hoặc lâu
hơn. Thời gian kết thúc đảm bảo được nguồn vốn luôn sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài
sản cố định của doanh nghiệp.
- Dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm được lập cho kỳ một năm, phù hợp với
năm tài chính của doanh nghiệp để tiện cho việc so sánh đánh giá giữa kế hoạch và thực hiện.
Trong phạ
m vi chương này chúng ta chỉ nghiên cứu hệ thống các dự toán hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng năm.
- Dự toán hàng năm được chia thành 4 quí, sau đó quí một được chia theo từng tháng, các
cơ sở và có tính thống nhất cao.
Trình tự dự toán như trên có những ưu điểm sau:
- Mọi cấp quản lý của doanh nghiệp, từ thấp đến cao, đều có góp phần vào quá trình xây
dựng dự toán.
- Dự toán đượ
c lập từ cấp cơ sở nên có độ tin cậy và chính xác cao.
- Do được tham gia vào quá trình dự toán,và các chỉ tiêu được tự đề đạt nên quản trị cấp cơ
sở sẽ thực hiện kế hoạch một cách chủ động hơn, thoải mái hơn và khả năng hoàn thành kế hoạch
sẽ cao hơn. Ngược lại, nếu không hoàn thành kế hoạch thì trách nhiệm trước hết là ở cấp cơ sở.
7.1.5. H
ệ thống dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm
Hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm bao gồm nhưng bản dự toán riêng biệt
nhưng có quan hệ qua lại lẫn nhau như sau: Hội đồng quản trị
Quản trị cấp trung gian Quản trị cấp trung gian
Quản trị
cấp cơ sở
Quản trị
cấp cơ sở
Quản trị
cấp cơ sở
Quản trị
cấp cơ sở
Chương VII - Dự toán sản xuất kinh doanh và phân tích chi phí sản xuất. 192
Bảng 7.2
thụ.
7.2. XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH
7.2.1. Phân biệt định mức và dự toán
Dự toán được xây dựng căn cứ trên các định mức tiêu chuẩn. Có thể nói, định mức được lập
cho từng đơn vị còn dự toán được lập cho toàn bộ sản lượng.
Dự toán tiêu
thụ
Dự toán tồn
kho cuối kỳ
Dự toán sản
xuất
Dự toán phí
tổn lưu thông
và quản lý
Dự toán chi
phí lao động
trực tiếp
Dự toán chi
phí nguyên
liệu trực tiếp
Dự toán chi phí sản
xuất chung
Dự toán tiền
mặt
Dự toán báo cáo kết
quả hoạt động kinh
doanh
Dự toán cân đối
tài sản
Dự toán báo cáo lưu
Nếu lấy định mức lý tưởng làm cơ sở
để đánh giá biến động giữa thực tế so với định mức sẽ
không có ý nghĩa gì, vì đó chỉ là kết quả tất yếu xảy ra do những ý tưởng là những định mức mà
trên thực tế không bao giờ có thể đạt được chứ không phải là điều bất hợp lý đã phát sinh, đòi hỏi
nhà quản trị phải cô lập chúng để xem xét,tìm biện pháp khắc phục.
- Định m
ức thực tế
Định mức thực tế là những định mức được xây dựng chặt chẽ nhưng có khả năng đạt được
nếu cố gắng. Chúng cho phép có thời gian ngừng máy hợp lý, thời gian nghỉ ngơi của nhân viên.
Đồng thời, chúng cũng cho phép người lao động có trình độ lành nghề trung bình với ý thức trách
nhiệm đầy đủ cộng thêm nỗ lực của bản thân sẽ đạt và vượt các đị
nh mức này. Do vậy, định mức
thực tế, nếu được xây dựng đúng đắn và hợp lý sẽ có tác dụng động viên khuyến khích người lao
động.
Lấy định mức thực tế làm cơ sở để phân tích so sánh giữa thực hiện với định mức sẽ có
nhiều ý nghĩa đối với nhà quản trị vì kết quả tìm được phản ảnh những hiện tượng không bình
thường; nh
ững chỗ kém hiệu quả cần xem xét, tìm biện pháp khắc phục; hay những tiềm năng cần
tìm hiểu để có biện pháp phát huy. Định mức thực tế còn là cơ sở để các nhà quản trị tiên liệu, lập
kế hoạch dòng tiền và các kế hoạch tồn kho, nhưng đối với định mức lý tưởng thì không là được
những việc này vì tích chất không thực tế của chúng cho nên các con số kế hoạch dựa trên
đó chỉ
là những con số không tưởng.
Chương VII - Dự toán sản xuất kinh doanh và phân tích chi phí sản xuất. 194
7.2.4. Xây dựng các định mức chi phí sản xuất
a. Định mức chi phí nguyên liệu trực tiếp
- Định mức được xây dựng riêng biệt theo giá và lượng cho các yếu tố đầu vào. Định mức
2.000đ/kg x 2,5 kg/sản phẩm = 5.000đ/sản phẩm.
b. Định mức chi phí lao động trực tiếp
Định mức chi phí lao động tr
ực tiếp cũng bao gồm định mức về giá của 1 đơn vị thời gian
lao động trực tiếp với định mức lượng thời gian cần để hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm.
* Định mức giá của 1 giờ lao động trực tiếp bao gồm không chỉ mức lương căn bản mà còn
gồm cả các khoản phụ cấp lương, thuế lao động của lao động trực ti
ếp.
Thí dụ: Định mức giá của 1 giờ lao động trực tiếp ở 1 phân xưởng được tính như sau:
Mức lương căn bản của 1 giờ: 4.000đ
Thuế lao động (20% mức lương căn bản): 800đ
Phụ cấp lương (30% mức lương căn bản): 1.200đ
Chương VII - Dự toán sản xuất kinh doanh và phân tích chi phí sản xuất. 195
Định mức giá của 1 giờ lao động trực tiếp: 6.000đ
Định mức giá thường được lập một giá cho dù trong một phân xưởng, mức lương thực tế
của công nhân rất khác nhau. Điều này được chấp nhận để đơn giản hoá quá trình xây dựng định
mức và sử dụng định mức lao động trực tiếp, đồng thời nó cũng giúp nhà quản trị giám sát được
việc sự dụng lao
động trong các đơn vị.
* Định mức lương thời gian cho phép để hoàn tất 1 đơn vị sản phẩm là loại định mức khó
xác định nhất. Định mức này có thể được xác định bằng cách đem chia công việc hoàn thành theo
từng thao tác kỹ thuật, rồi kết hợp với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật này
để định thời gian tiêu chuẩn cho phép từng công việc, hoặc xác định bằng cách theo dõi b
ấm giờ.
Tuy nhiên, dù theo cách nào, nội dung của thời gian cho phép cho từng đơn vị sản phẩm cũng
phải có thêm thời gian nghỉ ngơi, thời gian giải quyết các nhu cầu cá nhân, thời gian lau chùi máy
(làm vệ sinh máy) và thời gian máy nghỉ.
* Định mức định phí sản xuất chung.
Định mức định phí sản xuất chung cũng được xây dựng tương tự như ở phần biến phí, sở dĩ
được tách riêng là nhằm giúp cho quá trình phân tích chi phí sản xuất chung sau này. do bản chất
tác động của chi phí khác nhau nên khi phân tích cũng khác nhau dù các phương pháp xác định
Chương VII - Dự toán sản xuất kinh doanh và phân tích chi phí sản xuất. 196
biến phí và định phí sản xuất chung tương tự như nhau, đều dựa trên đơn giá sản xuất chung phân
bổ và số giờ được chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản xuất.
Giả sử phần định phí trong đơn giá sản xuất chung phân bổ là 3.500đ/giờ và căn cứ chọn
phân bổ là số giờ lao đông trực tiếp, với 3 giờ/sản phẩm, thì phần định phí sản xuấ
t chung của một
sản phẩm Y sẽ là:
3.500đ/giờ x 3 giờ/sản phẩm = 10.500đ/sản phẩm.
Vậy, đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung là:
1.500đ + 3.500đ = 5.000đ/giờ
Chi phí sản xuất chung để sản xuất 1 sản phẩm Y là:
5.000đ/giờ x 3 giờ/sản phẩm = 15.000đ/sản phẩm.
d. Tổng hợp các định mức chi phí sản xuất
Sau khi xây dựng các định mức tiêu chu
ẩn cho từng loại chi phí, ta lập bảng tổng hợp các
định mức chi phí. Số liệu tổng hợp được là định mức tiêu chuẩn để sản xuất một sản phẩm Y, là
cơ sở của việc lập dự toán chi phí và là căn cứ để kiểm soát, điều hành và phân tích kết quả hoạt
động ở Nhà máy vật liệu Bưu điện
Bảng 7.3- Bảng tổng hợp đị
nh mức chi phí tiêu chuẩn
Khoản mục Số lượng
cho 1 SP
kế hoạch
+
Nhu cầu tồn kho
cuối kỳ
-
Tồn kho sản
phẩm đầu kỳ
Doanh nghiệp cần lập kế hoạch lượng sản phẩm tồn kho để chủ động và tránh tình trạng tồn
kho quá nhiều làm ứ đọng vốn và sẽ phát sinh những chi phí không cần thiết. Mặt khác, lập kế
hoạch tồn kho cũng để tránh tình trạng thiếu sản phẩm dẫn đến nhu cầu sản phẩm cần sản xuất
vào năm sau quá lớn, có thể vượt quá n
ăng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Thí dụ: Bảng dự toán sản xuất của Nhà máy vật liệu Bưu điện cho năm kết thúc ngày
3/12/2001 có dạng như trên bảng 7.4 dưới đây:
Bảng 7.4
Quí
I II III IV
Cả năm
Khối lượng tiêu thụ kế hoạch (bảng
7.1)
Cộng:
- Tồn kho cuối kỳ
(a)
- Tổng cộng nhu cầu
- Trừ:
Tồn kho đầu kỳ
15.000
3.000
153.000
3.000
Khối lượng cần sản xuất trong kỳ 21.000 48.000 54.000 27.000 150.000
(a) Nhu cầu tồn kho cuối kỳ là 20% nhu cầu tiêu thụ của quý sau.
(b) Lấy từ bảng tổng kết tài sản.
Dự toán hàng hoá mua vào ở doanh nghiệp thương mại:
Đối với doanh nghiệp thương mại, thay vì lập dự toán sản xuất, doanh nghiệp thương mại sẽ
lập dự toán hàng hoá mua vào. Về cơ bản, dự toán hàng hoá mua vào cũng được lập dựa trên cách
tính như ở dự toán sản xuất, như sau:
M
ức tiêu thụ kế hoạch: xxx
Cộng: Tồn kho đầu kỳ: xxx
Tổng cộng nhu cầu: xxx
Trừ: Hàng hoá tồn kho cuối kỳ: xxx
Nhu cầu mua vào trong kỳ: xxx
Chương VII - Dự toán sản xuất kinh doanh và phân tích chi phí sản xuất. 198
7.3.3. Dự toán nguyên liệu trực tiếp
Căn cứ vào nhu cầu sản xuất trong kỳ mà doanh nghiệp xây dựng dự toán về nguyên liệu
trực tiếp. Nhu cầu nguyên liệu trực tiếp phải thoả mãn nhu cầu nguyên liệu trực tiếp cho sản xuất
và nhu cầu nguyên liệu trực tiếp dự trữ (tồn kho). Như vậy, nhu cầu nguyên liệu trực tiếp được
xác định theo công thức sau:
Nhu cầu nguyên
liệ
Cả năm
Khối lượng cần sản xuất 21.000 48.000 54.000 27.000 150.000
Định mức lượng nguyên liệu của một sản phẩm Y x2,5 x2,5 x2,5 x2,5 x2,5
Khối lượng NL trực tiếp cần cho sản xuất (kg) 52.500 120.000 135.000 67.500 375.000
Cộng: NL tồn kho cuối kỳ (a) 6.000 6.750 3.375 3.000 3.000
Tổng cộng nhu cầu 58.500 126.750 138.375 70.500 378.000
Trừ: Nguyên liệu tồn kho đầu kỳ 2.625 6.000 6.750 3.375 2.625
Nguyên liệu mua vào (kg) 55.875 120.750 131 625 67.125
Định mức giá 2000đ/kg x 2 x 2 x 2 x 2 x 2
Tổng chi phí mua nguyên liệu trực tiếp 111.750 241.500 263.250 134.250 750.750