Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất muốn bán nhanh hàng hoá và
chuyển giao luôn cả một số hoạt động dịch vụ cho doanh nghiệp kinh doanh thương
mại. Dịch vụ thương mại được phát triển tỉ lệ thuận với sự phát triển sản xuất kinh doanh.
Dịch vụ nói chung và dịch vụ thương mại nói riêng có vai trò vô cùng to lớn, nó giúp cho
doanh nghiệp bán được nhiều hàng, thu được nhiều lợi nhuận, rút ngắn thời gian ra quyết
định mua hàng của người tiêu dùng, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá; tiền tệ. Ở các
nước phát triển, dịch vụ chiếm 50-60% lực lượng lao động, chi cho hoạt động dịch vụ
chiếm 60-65% thu nhập của cá nhân. Ở các nước đang phát triển thì dịch vụ cũng ở trình
độ thấp hơn. Do đó, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động dịch vụ, kinh doanh dịch
vụ, đây là yếu tố nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ
chức, quốc gia. Logistics nói chung và hoạt động kinh doanh dịch vụ kho bãi nói riêng là
hoạt động dịch vụ đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nền kinh tế hiện nay. Nó
tồn tại tất yếu khách quan như sự tồn tại tất yếu khách quan của dự trữ và kho hàng. Vì
vậy nhóm 10 lựa chọn đề tài : “Phân tích mối quan hệ giữa các hoạt động logistics hỗ
trợ và các hoạt động logistics cơ bản. Trình bày ảnh hưởng của Quản trị mua hàng
và Quản trị kho đến hiệu quả Quản trị dự trữ của công ty TNHH Tiếp Vận
VINAFCO”
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
1
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Một số vấn đề về logistics.
1. Một số khái niệm về logistics
Cho đến nay, thuật ngữ Logistics khá xa lạ và mới với nhiều người. Chỉ mới gần
đây thôi, từ Logistics mới được thu nhập vào Việt Nam như: khu Logistics, cảng
Logistics, kho Logistics. Nhưng thực chất Logistics là gì? Nó đã được áp dụng rất nhiều
ở các nước phát triển để phát triển và phục vụ các hoạt động dịch vụ hàng hoá cũng như
sản xuất.
“Logistics” đang được sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistics” trong tiếng
chưa về?. Tóm lại, để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng với
chi phí thấp nhất, điều đó chỉ có thể giải quyết được là nhờ Logistics.
2.1. Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau và có tác
động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy Logistics là mối liên kết
kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá.
Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định. Một
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
3
Nguyên vật liệu
Phụ tùng
Máy móc, thiết
bị
Bán thành phẩm
Dịch vụ
Quá
trình
sản
xuất
và
lắp
ráp
Đón
g gói
Kho
lưu
trữ
thành
phẩm
T.T
Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động Logistics
đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do
có những quyết định sai lầm trong hoạt động Logistics, ví dụ: chọn sai vị trí, chọn nguồn
tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả…
Ngày nay, để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia,
các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn
nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh
doanh…tốt nhất và thế là Logistics toàn cầu hình thành và phát triển.
Ngoài ra, Logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, chính Logistics
đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng đúng thời
gian và địa điểm thích hợp. Sản phẩm, dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn khách hàng và có
giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định.
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
4
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
Mục tiêu của Logistics là cung cấp hàng hoá dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ
nhất.
Tổng
chi phí
=
chi phí
vận tải
+
chi phí
lưu kho,
lưu bãi
+
chi phí giải
quyết đơn hàng
và cung cấp
Dự trữ là yếu tố khách quan, nhờ có dự trữ mà cuộc sống nói chung và hoạt động
Logistics nói riêng, mới có thể diễn ra nhưng nói như vậy không có nghĩa là dự trữ càng
nhiều càng tốt. Dự trữ là một sự đầu tư vốn cần thiết, tốn kém và có liên quan mật thiết
đến mức độ dịch vụ khách hàng. Nếu dự trữ được quản lý tốt, công ty sẽ đẩy nhanh vòng
vốn, sớm thu hồi được vốn đầu tư, có điều kiện phục vụ khách hàng tốt. Ngược lại, nếu
quản lý dự trữ kém, sẽ làm cho lượng tồn kho lớn, quay vòng vốn chậm, vốn bị ứ đọng,
lợi nhuận suy giảm và kém hiệu quả.
Vậy, chi phí dự trữ có tác động trực tiếp đến nhiều hoạt động Logistics nên cần có
sự cân đối giữa chi phí dự trữ và các khoản chi phí Logistics
khác. Quản trị dự trữ là khâu quan trọng trong toàn bộ hệ thống Logistics.
- Các hoạt động Logisitcs hỗ trợ:
Hệ thống thông tin
Thực tế đã chứng minh: máy vi tính và những thành tựu của công nghệ thông tin đã
có những đóng góp quan trọng quyết định sự lớn mạnh nhanh chóng và không ngừng của
Logistics.
Hệ thống thông tin Logistics bao gồm thông tin trong nội bộ từng tổ chức (doanh
nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng của doanh nghiệp), thông tin trong từng bộ phận chức
năng (kỹ thuật, marketing, kế toán, tài chính…) thông tin ở từng khâu trong dây chuyền
cung ứng (kho hàng, bến bãi, vận tải…) và sự kết nối thông tin giữa các tổ chức, bộ phận,
công đoạn nêu trên. Do đó nếu thông tin trao đổi chậm chạp, sai sót sẽ phát sinh tăng chi
phí lưu kho, lưu bãi, vận tải, giao hàng không đúng thời hạn dẫn đến mất khách hàng, và
nghiêm trọng hơn nếu thông tin không chính xác có thể đẩy doanh nghiệp đến thua lỗ và
phá sản.
Công nghệ thông tin ngày càng phát triển tinh vi, hiện đại, nó thực sự là vũ khí cạnh
tranh lợi hại, giúp những ai biết sử dụng dành chiến thắng, lĩnh vực Logistics không phải
là ngoại lệ.
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
6
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
Hoạt động vật tư và mua hàng hoá:
+ Chức năng logistics (bao bì công nghiệp/bao bì bên ngoài): Bao bì gắn liền với
toàn bộ quá trình logistics trong hệ thống kênh phân phối và trong hệ thống logistics
doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản sản
phẩm, nguyên liệu, hàng hoá.
Bao bì xuất hiện trước tiên và ở dạng cơ bản nhất với tư cách là đồ vật để chứa
đựng, bọc giữ hàng hoá đóng gói bên trong chống hư hỏng mất mát. Vì vậy, chức năng
bảo quản, bảo vệ hàng hoá của bao bì là chức năng quan trọng đầu tiên vẫn giữ nguyên ý
nghĩa và giá trị của nó.
Các yêu cầu đối với bao bì:
- Giữ gìn nguyên vẹn về số lượng và chất lượng sản phẩm
- Tạo điều kiện cho việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, tiêu dùng sản phẩm.
- Tạo điều kiện để sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho.
- Tạo điều kiện để đảm bảo an toàn lao động.
- Đảm bảo chi phí hợp lý.
Hoạt động kho
Kho bãi là một bộ phận của hệ thống Logistics, nó có vai trò rất quan trọng. Quản trị
kho và lưu kho có quan hệ mật thiết với vận chuyển. Cả hai cùng đóng góp giá trị gia
tăng về thời gian và địa điểm cho sản phẩm. Quản trị kho tốt sẽ nâng chất lượng dịch vụ
khách hàng với chi phí thấp nhất.
Chính vì vậy mà dịch vụ kho hàng cần được chú ý, quan tâm và hoàn thiện. Thực
hiện tốt công tác này không những giảm chi phí cho doanh nghiệp, cho khách hàng mà
còn là yếu tố tác động đến tâm lý của khách hàng, lôi kéo khách hàng đến với doanh
nghiệp. Vậy kho hàng là gì? Vai trò của kho hàng thế nào? chúng ta sẽ nghiên cứu trong
phần sau đây.
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
8
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
3. Mối quan hệ giữa các hoạt động Logistics cơ bản và hoạt động Logistics hỗ trợ.
Quan điểm quản trị logistics tích hợp đề cập đến việc quản lý nhiều hoạt động như
1 hệ thống hợp nhất được áp dụng trong nhiều công ty kinh doanh hiện đại, họ nhận ra
khách hàng, trình độ dịch vụ khách hàng cao nghĩa là thời gian của 1 chu kì đặt hàng phải
ngắn, ổn định. Do đó để thời gian giữa các lần đặt hàng ngắn hơn thì phải tổ chức được
phương thức vận chuyển phù hợp nhằm đáp ứng được đơn đặt hàng nhanh nhất. Trong
quản trị vận tải và mua hàng hóa, nguồn hàng thường chịu trách nhiệm vận chuyển hàng
hóa khi bán hàng, bởi nó có thể tiết kiệm được chi phí cho cả người mua và người bán.
Nhưng trong 1 số trường hợp nhất định, doanh nghiệp phải tự mình vận chuyển hàng hóa
mua về cơ sở logistics của mình ( do đặc điểm hàng hóa phải có phương tiện vận tải
chuyên dụng hoặc nguồn hàng không có khả năng tổ chức vận chuyển ). Khi đó doanh
nghiệp phải có phương án vận chuyển thích hợp, đảm bảo chi phí thấp nhất.
Bao bì và dòng logistics ngược cũng tác động đến toàn bộ các hoạt động logistics
trong doanh nghiệp. Bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình logistics trong hệ thống kênh
phân phối và tỏng hệ thống logistics của doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua,
bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản sản phẩm, nguyên liệu, hàng hóa. Khi hàng hóa đi từ
sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, chúng chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau,
hàng loạt bất lợi có thể xảy ra cho hàng hóa trong quá trình bốc dỡ, chuyên chở, lưu
kho Với vai trò bảo vệ, bao bì hạn chế tối đa các tác động bất lợi từ môi trường vào hàng
hóa và ngược lại.
Logistics ngược là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế phẩm, các yếu tố ảnh
hưởng đến Môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để
tái chế hoặc xử lý bằng các giải pháp phù hợp. Để đạt được hiệu quả trong quản trị dòng
logistics thuận, cần kết hợp thực hiện các hoạt động logisitcs ngược này nhằm tiết kiệm
chi phí và tạo sự thông suốt cho dòng thuận.
Mối liên hệ giữa kho với vận chuyển: Nhờ cả hai hệ thống kho ở đầu vào và đầu
ra của quá trình sản xuất, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí vận tải. Người ta có
thể lập những kho thu gom, tổng hợp hàng hóa gần nguồn cung cấp, để tiết kiệm chi phí
vận chuyển vật tư phục vụ đầu vào. Cụ thể, vật tư từ các nhà cung cấp, với từng lô hàng
nhỏ sẽ được vận chuyển bằng phương tiện vận tải nhỏ đến tập trung ở kho. Tại đó sẽ tiến
hành gom thành các lô lớn, rồi dùng phương tiện đủ lớn thích hợp để vận chuyển. Tương
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
10
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
11
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
Bản chất: đáp ứng nhu cầu của thị truờng
Vị trí: Là khâu nghiệp vụ dầu tiên trong chuỗi các hoạt dộng
logistics tại doanh nghiệp
Vai trò:
– Tạo nguồn lực ban dầu dể triển khai toàn bộ hệ thống logistics liên tục và hiệu quả.
– Tạo diều kiện dể giảm chi phí, tang lợi nhuận.
* Quản trị kho
Kho bãi là loại hình cơ sở logistics thực hiện việc dự trữ, bỏa quản và chuẩn bị hàng hóa
nhằm cung ứng hàng hóa cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp
nhất, kho hàng
*Quản trị dự trữ
Dự trữ là các hình thái kinh tế của sự vận động các sản phẩm hữu hình – vật tư, nguyên
liệu, bán thành phẩm, sản phẩm,… trong hệ thống logistics nhằm thỏa mãn nhu cầu của
sản xuất và tiêu dùng với chi phí thấp nhất
Chức năng
Cân dốicung – cầu
Ðiều hòa biếndộng
Giảm chi phí
4.2 Ảnh hưởng của Quản trị mua hàng và quản trị kho đến hiệu quả Quản trị dự
trữ.
* Ảnh hưởng của quản trị mua hàng đến quản trị dự trữ:
- Ảnh hưởng của quản trị mua hàng đến trình độ dịch vụ khách hàng:
Mua hàng là hành vi thương mại, đồng thời cũng là các hoạt động nhằm tạo nguồn
lực đầu vào, thực hiện các quyết định dự trữ, đảm bảo vật tư, nguyên liệu, hàng hóa…cho
sản xuất, cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Ở phạm vi rộng mua bao gồm toàn bộ các
hoạt động cần thiết để có được những hàng hóa và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của
người sử dụng, trong phạm vi hẹp mua bao gồm việc mua hàng và dịch vụ cho doanh
m
: Chi phí giá trị sản phẩm mua
F
d
: Chi phí dự trữ
F
v
: Chi phí vận chuyển
F
dh
: Chi phí đặt hàng
Các loại chi phí này đều liên quan đến một thông số của dự trữ, đó là qui mô lô
hàng mua. Khi thay đổi qui mô lô hàng mua, các loại chi phí này biến đổi theo chiều
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
13
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
hướng ngược chiều nhau, cụ thể chi phí dự trữ biến đổi ngược chiều với các chi phí: giá
trị sản phẩm mua, chi phí vận chuyển, chi phí đặt hàng. Do đó, trong quản trị dự trữ dự
trữ, phải xác định qui mô lô hàng sao cho:
dhvdm
FFFFF +++=
∑
→ min
trong quản trị dự trữ dự trữ, phải xác định qui mô lô hàng sao cho tổng chi phí là thấp
nhất.
Như vậy, để giảm chi phí dự trữ, phải giảm được các yếu tố chi phí cấu thành nên
chi phí bình quân cho một đơn vị dự trữ; đồng thời phải tính toán qui mô dự trữ bảo hiểm
thích hợp để giảm dự trữ bình quân.
* Ảnh hưởng của quản trị kho đến quản trị dự trữ:
- Ảnh hưởng của quản trị kho đến trình độ dịch vụ khách hàng:
định số lượng kho, bố trí mạng lưới kho sao cho phục vụ khách hàng được tốt nhất với
tổng chi phí logistics thấp nhất.
Việc bố trí kho và số lượng kho sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới chi phí dự trữ nhưng sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí vận chuyển và sẽ ảnh hưởng tới tổng chi phí logistics mà
doanh nghiệp phải bỏ ra. Doanh nghiệp có số lượng kho hợp với quy mô phù hợp với khả
năng tài chính và phù hợp với thị trường tiêu thụ thì doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí
dự trữ, và chi phí vận chuyển. Doanh nghiệp có thể đảm bảo một mức độ sẵn có cao với
lượng dự trữ tại kho thấp nhất.
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
15
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN TRỊ LOGISTICS
CÔNG TY TNHH TIẾP VẬN VINAFCO
I. Thực trạng về các hoạt động Logistics tại công ty.
1. Giới thiệu chung về công ty
Vài nét về Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO
Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO tiền thân là Xí nghiệp Đại lí vận tải-vật tư kĩ
thuật của Công ty dịch vụ vận tải Trung ương-thuộc Bộ Giao thông vận tải. Xí nghiệp
được thành lập vào ngày 19/11/1990 với nhiệm vụ: làm đại lí vận tải, liên hiệp vận
chuyển hàng hoá từ kho đến kho, tổ chức cung ứng vật tư kỹ thuật cho các tổ chức kinh
tế trong và ngoài ngành giao thông vận tải.
Đến năm 2001 Công ty dịch vụ vận tải Trung ương chuyển đổi thành Công ty cổ
phần VINAFCO theo quyết định số 211/2001/QĐ/BGTVT của Bộ Giao thông vận tải.
Ngày 03/07/2003 Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO (VINAFCO Logistics
Co.,Lcd) đã được thành lập theo quyết định số 118/HĐQT của HĐQT Công ty Cổ phần
VINAFCO, hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên với chủ sở hữu duy
nhất là Công ty Cổ phần VINAFCO .
Chức năng
Chức năng của Công ty từ khi thành lập cho đến nay là thực hiện các dịch vụ lưu
trữ, bảo quản bốc xếp, vận tải phân phối hàng hoá đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của
lượng dịch vụ, đổi mới công nghệ, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật.Liên tục mở rộng
phạm vi kinh doanh, phát triển khách hàng, củng cố mạng lưới nhà thầu phụ và các đại
diện.
Hiện nay kinh doanh dịch vụ kho hàng đang là một hướng tập trung phát triển
mạnh của Công ty. Hoạt động cho thuê kho và các hoạt động dịch
vụ xung quanh kho đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho Công ty.
2. Thực trạng về hoạt động kinh doanh của VINAFCO
Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty một vài năm qua
Thời gian qua là một thời gian với nhiều biến động đối với Công ty TNHH Tiếp vận
VINAFCO, xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế và thế giới của đất nước diễn ra mạnh
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
17
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
mẽ, kinh tế nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài vì thế mà tăng
mạnh. Đây là một thuận lợi nhưng đồng thời cũng là một khó khăn và đầy thử thách đối
với VINAFCO nói riêng và các công ty nói chung do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
hơn bao giờ hết. Đứng trước thách thức đó, với sự khuyến khích của Nhà nước và bộ ban
ngành, cuối năm 2003, Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO chuyển đổi cơ chế quản lý
và tổ chức hoạt động từ một xí nghiệp hoạch toán phụ thuộc chuyển sang mô hình công
ty hạch toán độc lập. Với sự quan tâm đúng mức của HĐQT, ban Tổng giám đốc Công
ty, sự tận tình giúp đỡ của các phòng ban tham mưu cấp tổng Công ty, các đơn vị trong
ngành cộng với sự quyết tâm phấn đấu thực hiện hoàn thành kế hoạch được giao của tập
thể CBCNV Công ty đã đạt được kết quả nhất định.
Bảng 2.1. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty qua các năm
Đơn vị: Triệu đồng
STT Các chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004
1 Tổng doanh thu 14258.2 15987.3 23285.1 28513.1 57464.7
2 Chi phí trực tiếp 8560.5 9875.4 15554.3 18492.8 26351.9
3
Doanh thu dịch
thu năm 2000 chỉ là 14258,2 triệu đồng nhưng đến năm 2002 đã tăng gần gấp đôi lên
23285,1 triệu đồng. Doanh thu liên tục tăng đặc biệt là năm 2002 công ty do chú trọng
đầu tư máy móc thiết bị, chú trọng tới việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và
thu hút được một khối lượng lớn khách hàng. Lợi nhuận cũng tăng đáng kể năm 2000 là
624,3 triệu đồng, năm 2001 là 860,7 triệu đồng, tăng 37,86%, năm 2002 tăng so với năm
2001 là gần 3 tỷ đồng. Do lợi nhuận trước thuế tăng nên dẫn đến lợi nhuận sau thuế cũng
tăng theo và mức lợi nhuận đóng góp cho công ty cũng tăng lên. Những kết quả này cho
thấy khả năng thực tế của công ty trong lĩnh vực kinh doanh của mình và có thể khẳng
định rằng hoạt động kinh doanh của công ty là có hiệu quả.
Sự thành công không chỉ mang đến khởi đầu tốt đẹp cho hoạt động kinh doanh của
Công ty mà còn là sự khẳng định đường lối đúng đắn của HĐQT khi quyết định hướng
hoạt động của VINAFCO theo mô hình công mẹ công ty con, có lẽ chính vì sự động viên
và quyết định kịp thời của ban cán bộ Công ty, tổng doanh thu của năm 2004 là 57464,7
triệu đồng tăng so với năm 2003 là 2.015 lần, kéo theo đó lợi nhuận sau thuế của Công ty
năm 2004 đã đạt mức 2730,6 triệu đồng, tổng mức lợi nhuận nộp cho chủ sở hữu là 1,5
tỷ đạt 100% kế hoạch đặt ra. Trong đó các loại hình dịch vụ của Công ty đang có xu
hướng đem lại doanh thu và lợi nhuận cao phải kể đến dịch vụ vận tải, phân phối hàng
hoá, dịch vụ cho thuê kho và các hoạt động dịch vụ xung quanh kho.
2. Đánh giá về các hoạt động Logistics hiện có tại công ty.
Cùng với sự kết hợp với các hãng vận tải biển và các công ty vận tải đường sắt,
VINAFCO cũng cung cấp các dịch vụ vận tải đa phương thức nội địa từ kho đến kho như
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
19
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
vận tải từ kho-ga/cảng- ga/cảng- kho đối với những hàng hoá vận chuyển với số lượng,
trọng lượng lớn vừa đảm bảo thuận tiện và chi phí thấp nhất cho khách hàng.
Dịch vụ vận tải không phương tiện: Đây là loại hình dịch vụ truyền thống của công ty với
nhiệm vụ khai thác, khớp nối, thông quan hải quan,tổ chức dịch vụ vận tải hàng hóa trong
nước từ kho đến kho bằng các phương thức vận tải, vận chuyển hàng quá cảnh sang
Trung Quốc, Campuchia, Lào và 1 số nước trong khu vực.
trường này. Đây cũng là lĩnh vực quan trọng nhất trong bức tranh logistics của Việt Nam
với hơn 3000 km đường biển. Hoạt động kinh doanh vận tải Biển đem lại tỷ trọng doanh
thu và lợi nhuận lớn do vậy Ban lãnh đạo Công ty luôn chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt
động trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải. Bên cạnh đội tàu hiện
có, VINAFCO đã được Bộ Giao thông Vận tải cấp giấy phép cho thuê chỗ trên tàu Noble
River, trọng tải 14000DWT/969Teu và Công ty cũng đang liên kết với MASAN
Logistics Co.,LTd để khai thác kết hợp tàu GAMZA TSADASA (12430DWT, 612Teu)
tuyến Hải Phòng - TP HCM với tần suất 3 tuần/chuyến. Kinh doanh không vốn và đầu tư
dựa trên lợi thế và đầu vào của các đơn vị thành viên của VINAFCO. Phương tiện hầu
hết đi thuê nên chịu tác động của các yếu tố thị trường làm ảnh hưởng đến kế hoạch và
tiến độ làm hàng. Bên cạnh đó các đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều và khốc liệt, các
công ty forwarder lớn có ưu thế về phương tiện, công nghệ, kinh nghiệm, các công ty vận
tải mới cạnh tranh về giá bán Tuy nhiên với uy tín được khẳng định trong nhiều năm
qua, trung tâm đã được nhiều khách hàng trong nước và nước ngoài biết đến.
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÁC HOẠT ĐỘNG
LOGISTICS
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
21
Đề tài thảo luận môn quản trị logistics
Một vài giải pháp góp phần đẩy mạnh hiệu quả các hoạt động Logistics tại công ty cổ
phần VINAFCO.
Giải pháp 1: Phương pháp chuyên gia.
- Thành lập các trung tâm tư vấn về Logistics hoạt động độc lập (tương tự như các
trung tâm tư vấn về quản trị hệ thống chất lượng ISO)
- Thuê các chuyên gia không chỉ trong nước mà cả chuyên gia quốc tế để cố vấn cho
công ty trong việc tổ chức hoạt động Logistics.
- Cần có những chương trình đào tạo, nâng cao nghiệp vụ trong hoạt động Logistics
cho các nhân viên trong công ty. Để phát triển lâu dài có thể cử một vài nhân viên đi học
về Logistics ở nước ngoài.
Giải pháp 2: Tổ chức để thay đổi hoạt động của công ty theo yêu cầu hoạt động
EDI). Hệ thống này cho phép trao đổi thông tin dữ liệu từ máy tính qua máy tính của các
bộ phận trong hệ thống với nhau. EDI đầu tư khá tốn kém tuy nhiên rất tiện ích và đạt độ
an toàn cao. EDI thực sự hữu ích cho những khách hàng lớn của công ty và trao đổi dữ
liệu giữa các chi nhánh, đại lý trong hệ thống Logistics toàn cầu.
Giải pháp 4: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động Logistics.
Nhất thiết cần đầu tư để đào tạo, đào tạo lại, nâng cao năng lực của nhân viên và thu
hút nhân tài từ xã hội. Phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cao là nhân
tố quan trọng quyết định sự sống còn và thành công trong hoạt động Logistics – một hoạt
động mang tính chất toàn cầu.
Giải pháp 5: Mở rộng và củng cố hệ thống đại lý, xây dựng các đại lý độc quyền, tiến tới
đặt văn phòng đại diện và chi nhánh ở các nước.
Giải pháp 6: Xây dựng các trung tâm phân phối hiện đại.
- Đa dạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động kho CFS và kho ngoại quan.
- Xây dựng các trung tâm phân phối (DC – Distribution Center) của riêng các công ty
giao nhận, hoặc những trung tâm phân phối, kho đa năng (Cross – docking) hiện đại để
kinh doanh cho thuê.
- Hướng tới việc xây dựng các trung tâm phân phối và kho đa năng tại thị trường nước
ngoài.
Nhóm 10_HQ1A Trường ĐH Thương Mại
23