NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN - Pdf 25

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN
1
Chủ nhiệm đề tài: Ths Hán Thị Thu HiềnPHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một bộ phận quan trọng, văn học Trung đại đã có rất nhiều đóng góp
cho nền văn học dân tộc. Một trong những đóng góp ấy thể hiện qua mảng
Truyện nôm - thể loại ghi dấu ấn rõ nét dấu ấn sáng tạo, sức sống nội sinh mạnh
mẽ của văn học nước nhà trên hành trình dân tộc hóa nền văn học.
Truyện nôm đạt được rất nhiều thành tựu với số lượng tác phẩm đồ sộ, nội
dung phản ánh phong phú, đa dạng, đạt được nhiều thành công mới mẻ, đặc sắc
về nghệ thuật. Tác phẩm đỉnh cao của của văn học Việt Nam cũng chính là một
tác phẩm thuộc thể loại Truyện nôm, đó là Truyện Kiều (Nguyễn Du). Mảng
Truyện nôm phân thành hai bộ phận tiêu biểu là Truyện nôm bác học và Truyện
nôm bình dân. Nhóm Truyện nôm bác học được nghiên cứu khá công phu trong
khi nhóm Truyện nôm bình dân vẫn chưa được tìm hiểu cặn kẽ, đầy đủ.
Một trong những đặc điểm quan trọng của văn học Trung đại là lấy văn học
dân gian làm nền tảng, kế thừa, tiếp thu, sáng tạo những tinh hoa của văn học
dân gian. Có thể tìm thấy mối quan hệ gắn bó giữa văn học Trung đại với văn
học dân gian qua rất nhiều tác phẩm. Trong đó, các tác phẩm thuộc bộ phận
Truyện nôm được coi là thể hiện rất rõ mối quan hệ qua lại gắn bó sâu sắc giữa
văn học dân gian và văn học viết nói chung, văn học Trung đại nói riêng.
Mảng Truyện nôm bình dân cũng là mảng được chú trọng giảng dạy trong
học phần về văn học Trung đại ở ngành Ngữ Văn và Việt Nam Học và cũng có
tác phẩm được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình văn học ở nhà trường
phổ thông.
Với những lý do trên đây, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu
Những ảnh hưởng của văn học dân gian trong một số Truyện nôm bình
dân. Hướng nghiên cứu này sẽ góp thêm cái nhìn toàn diện trong việc đánh giá
thành tựu của Truyện nôm bình dân nói riêng, Truyện nôm nói chung. Thực hiện
đề tài nghiên cứu này chúng tôi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc

Truyện nôm bình dân mà chỉ thừa nhận khái niệm Truyện nôm khuyết danh. Tuy
3
nhiên, cách gọi Truyện nôm vô danh hay khuyết danh phát sinh rất nhiều vấn đề
cần xem xét lại. Nhiều nhà nghiên cứu đã nghiêng về cách sử dụng thuật ngữ
Truyện nôm bình dân. Kiều Thu Hoạch trong công trình Truyện nôm, lịch sử
phát triển và thi pháp thể loại đã có một tổng kết khá chi tiết về cách sử dụng
thuật ngữ này. Theo đó, người sử dụng đầu tiên là Dương Quảng Hàm trong Việt
Nam văn học sử yếu. Tiếp theo đó, lần lượt là các nhà nghiên cứu như Đinh Gia
Khánh trong Văn học dân gian, Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học
dân gian Việt Nam. Tới Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế
kỷ XIX Nguyễn Lộc đã dành hẳn một chương Truyện nôm bình dân và thể hiện
quan niệm rõ ràng những truyện kiểu như Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân –
Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công, Hoàng Trừu…có thể gọi là Truyện nôm bình
dân. Kế thừa những thành tựu của người đi trước, các nhà nghiên cứu phê bình
về mảng Truyện nôm sau này như Đặng Thanh Lê, Kiều Thu Hoạch, Đinh Thị
Khang, Nguyễn Thị Nhàn đều thống nhất quan điểm dựa vào sự khác biệt về chủ
đề, nghệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, kết cấu…giữa các tác
phẩm Truyện nôm để phân một số Truyện nôm thành nhóm có tên gọi là Truyện
nôm bình dân.
Vấn đề thứ hai cũng rất được quan tâm khi tìm hiểu về Truyện nôm bình
dân đó là về nội dung cốt truyện của những tác phẩm thuộc loại này. Giáo sư
Đặng Thanh Lê trong Truyện Kiều và thể loại Truyện nôm nhấn mạnh nội dung
về đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội trong Truyện nôm bình dân. Giáo sư đặc
biệt lưu ý nội dung chủ đề về vận mệnh, cuộc sống người phụ nữ dưới chế độ
phong kiến: “Cùng với hình tượng người nông dân trong văn học dân gian, hình
tượng người phụ nữ trong Truyện nôm là một biểu hiện của yếu tố dân chủ, của
tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hóa, lịch sử văn
học dân tộc” [21, 86].
Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ
XIX) đã viết khá sâu sắc về nội dung xã hội của Truyện nôm bình dân. Ngoài

Nghệ thuật của Truyện nôm bình dân cũng là vấn đề được các nhà nghiên
cứu quan tâm, đặc biệt trên một số phương diện như kết cấu, cốt truyện, nghệ
thuật xây dựng nhân vật…Nguyễn Lộc đã chỉ ra một số đặc điểm về cốt truyện
5
và nhân vật của Truyện nôm bình dân như sau: “ Cốt truyện của Truyện nôm
bình dân có hai đặc điểm đáng chú ý. Một là những tình tiết, những sự kiện
không có ý nghĩa khách quan chân thực của nó mà chỉ có tác dụng soi sáng hay
tô đậm cho đặc điểm của tính cách nhân vật…một đặc điểm nữa là kết thúc của
loại truyện này bao giờ cũng có hậu [25, 490].… “Về tính cách của nhân vật
trong Truyện nôm bình dân, nét nổi bật là tính chất đơn giản, một chiều và bất
biến” [25, 491].Tìm hiểu về ngôn ngữ đối thoại trong Truyện nôm bình dân,
Đinh Thị Khang cho rằng: “Truyện nôm bình dân đã xây dựng hàng loạt tính
cách nhân vật với ý nghĩa là sự thể hiện những phẩm chất xã hội, đạo đức con
người qua một hình tượng cụ thể” [33, 123] Bên cạnh những bài viết trên chúng
tôi còn khảo sát được một công trình biệt lập nghiên cứu về nghệ thuật đó là
luận văn của Phạm Thị Liên Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ
trong một số Truyện nôm bình dân, Luận văn thạc sỹ ĐHPHN, Hà Nội. Trong
công trình này, tác giả đã nghiên cứu khá kĩ lưỡng về nghệ thuật xây dựng nhân
vật người phụ nữ của Truyện nôm bình dân trên các phương diện như cử chỉ,
hành động, ngôn ngữ, các yếu tố thần kỳ…
2.2. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và Truyện nôm
bình dân
Vấn đề về mối quan hệ giữa văn học dân gian và Truyện nôm bình dân đã
được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi xin khái quát trên một số
khía cạnh như sau:
- Về nội dung cốt truyện: Kiều Thu Hoạch đã tiến hành so sánh ba tác phẩm
Truyện nôm là Tống Trân Cúc Hoa, Mộng Hiền truyện, Chàng Chuối với các
truyện cổ lần lượt là truyện Trạng Gầu, truyện cổ tích anh chàng họ Đào và
truyện cổ tích chàng Chuối và từ đó khẳng định tác giả “Nội dung Truyện nôm
đã bắt nguồn từ các truyện cũ, tích cũ” [7, 158]. Ông còn dẫn lại ý của những

những nhân vật chính trong những Truyện nôm bình dân là những người nông
dân nghèo khổ, hiền lành, chất phác, hoặc là những “con gái phú ông” nhưng
đồng cảm sâu sắc với người nghèo, bản thân đã trải qua những ngày nghèo nàn,
thống khổ, đã vượt biết bao thử thách, khó khăn. Tình yêu ở đây cũng là tình
7
yêu của những người nông dân: hồn nhiên, chất phác nhưng hết sức thủy chung”
[5, 110]. Về mặt nghệ thuật, tác giả cũng khẳng định: “Nói tóm lại, nếu so sánh
với một số tính chất của văn học dân gian như tính truyền miệng, tính tập thể,
tính dị bản, tính diễn xướng thì rõ ràng những Truyện nôm bình dân này đã
mang đầy đủ tính chất của văn học dân gian” [5, 112]. Trong bài viết Tìm hiểu
thêm về Truyện nôm dân gian và mối quan hệ của nó với thể loại vè, Vũ Tố Hảo
lại một lần nữa khẳng định thêm ba vấn đề: 1. Truyện nôm bình dân thực chất là
truyện thơ dân gian thuộc lĩnh vực văn học dân gian. 2. Quần chúng lao động
chính là người sáng tác, thưởng thức, lưu truyền tác phẩm của mình. 3. Nó có
mối quan hệ mật thiết với thể loại vè, là sự kế thừa, phát triển của thể loại vè
Việt Nam”. Đỗ Hồng Kỳ trong bài viết Tính hiện thực và tính lý tưởng trong
Truyện nôm bình dân cũng cho rằng: “Truyện nôm bình dân đã đưa ta vào cái
thế giới kỳ lạ của những truyền thuyết và những truyện cổ tích xa xưa” [16, 52]
Chúng tôi nhận thấy vấn đề về những ảnh hưởng của văn học dân gian tới
Truyện nôm bình dân đã được quan tâm nghiên cứu nhưng chưa có công trình
nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về nội dung này. Kế thừa những
thành tựu của người đi trước, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài: Những ảnh
hưởng của văn học dân gian trong một số Truyện nôm bình dân.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu: Nghiên cứu và làm rõ được ảnh hưởng của văn học dân gian tới
Truyện nôm bình dân trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.
3.2 Nhiệm vụ
- Tìm hiểu những vấn đế chung về văn học dân gian và Truyện nôm bình dân.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của văn học dân gian tới Truyện nôm bình dân trên
phương diện nội dung và nghệ thuật.

Trước khi nghiên cứu những ảnh hưởng của văn học dân gian tới Truyện
Nôm bình dân, trong phần nội dung của chương 1 chúng tôi trình bày một vài
nét khái quát về văn học dân gian, mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học viết cũng như khái quát một vài nét về Truyện Nôm nói chung, Truyện Nôm
bình dân nói riêng.
1.1 Khái quát về Văn học dân gian
1.1.1 Văn học dân gian
Là một trong hai bộ phận của văn học dân tộc, văn học dân gian Việt Nam
giống như một bông hoa rực rỡ sắc màu, lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc. Thuật ngữ văn học dân gian được hiểu là những
sáng tác nghệ thuật ngôn từ, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, phản
ánh đời sống sinh hoạt, kinh nghiệm, tâm tư, nguyện vọng, ước mơ, tình cảm…
của nhân dân từ xưa đến nay. Có thể tìm thấy ở đây rất nhiều nét độc đáo, đặc
sắc từ ngàn đời mà cha ông truyền lại. Văn học dân gian còn được gọi bằng rất
nhiều cách khác nhau như văn chương bình dân, văn chương truyền miệng hay
văn chương dân gian. Mỗi cách gọi đều gắn với một ý nghĩa và đặc trưng nhất
định. Tuy nhiên, cách gọi văn học dân gian là thuật ngữ quen thuộc và bao quát
được những nét cơ bản về bộ phận văn học này.
Văn học dân gian có những đặc trưng riêng biệt, làm nên nét độc đáo của
riêng mình, trong đó có những đặc trưng cơ bản cần kể đến là tính nguyên hợp,
tính tập thể, tính truyền miệng. Nguyên hợp về khái niệm từ gốc nguyên được
hiểu là sự kết hợp ngay từ nguồn gốc các yếu tố khác nhau trong một chỉnh thể.
Tính nguyên hợp của văn học dân gian được thể hiện trên cả phương diện nội
dung và nghệ thuật. Về mặt nội dung, văn học dân gian giống như một bộ bách
10
khoa toàn thư của dân tộc. Trong một tác phẩm văn học dân gian có thể tìm thấy
các kiến thức về địa lý, lịch sử, tôn giáo, triết học….Như vậy mỗi tác phẩm vãn
học dân gian phản ánh nhiều mặt, nhiều phýõng diện khác nhau của ðời sống vật
chất và ðời sống tinh thần của xã hội. Tác phẩm vừa thực hiện chức nãng sử học,
vừa thực hiện chức nãng dân tộc học, vừa thực hiện chức nãng triết học, tâm lí

những sáng tác đó. Tính tập thể của văn học dân gian còn thể hiện đặc trưng về
không gian sáng tác của văn học dân gian. Không gian sáng tác rất đa dạng,
phong phú trong lúc lao động như chèo đò, kéo gỗ, giã gạo, cấy lúa ,kéo lưới
hoặc những lúc ca hát, hội hè, giải trí…Có thể mọi người cùng nhau ngồi sáng
tác, ca hát hoặc có thể một người hát lên một câu, những người khác thêm vào
những câu khác để cuối cùng thành một bài ca hoàn chỉnh. Nếu sáng tác đó hay,
nó được mỗi người trong tập thể nhớ và truyền lại cho những người khác khi
sinh hoạt tập thể. Nói đến tính tập thể cũng không có nghĩa là phủ nhận vai trò
cá nhân. Cũng có nhiều tác phẩm do cá nhân sáng tác, với những cảm xúc riêng
tư nhưng do phù hợp với đời sống tâm tư, tình cảm của đông đảo quần chúng
nhân dân nên được nhiều người ưa thích, lưu truyền qua lại lẫn nhau và dần dần
trở thành tài sản chung của cả một tập thể.
Ngoài đặc trưng về tính nguyên hợp và tính tập thể, tính truyền miệng cũng
là một đặc trưng quan trọng của văn học dân gian. Tính truyền miệng thể hiện
đặc trưng về phương thức sáng tác và phương thức lưu truyền của văn học dân
gian. Thời đại bộ phận văn học này ra đời, chưa có chữ viết cũng như công nghệ
khắc in chính vì vậy, nó được sáng tác bằng miệng, thông qua những hoạt động
sinh hoạt tập thể và cứ thế các tác phẩm văn học dân gian được lưu truyền từ đời
này sang đời khác. Hệ quả của tính tập thể và tính truyền miệng chính là tính dị
bản. Một tác phẩm văn học dân gian có thể có nhiều bản khác nhau, có khi sự
khác nhau chỉ là một số từ, ngữ, hình ảnh hay một vài chi tiết trong tác phẩm.
Trong quá trình sưu tầm, các nhà nghiên cứu thấy bản nào được sử dụng nhiều,
thường xuyên, đồng nhất ở nhiều vùng miền thì bản đó được coi là bản chính.
Ngoài ra sẽ có thêm những bản khảo dị, khác bản chính ở một số điểm và cũng
xuất hiện ở một số địa phương nhất định.
12
Trên đây là những đặc trưng rất cơ bản của văn học dân gian. Nó làm nên
nét riêng, sự độc đáo và đặc sắc của bộ phận văn học này. Đồng thời những đặc
điểm này cũng tạo nên mối quan hệ cũng như những ảnh hưởng sâu sắc của văn
học dân gian tới bộ phận văn học viết.

Ngược lại, văn học viết có tên tác giả nên mang tính cá nhân, cá thể, có bản in,
được lưu truyền bằng văn bản cụ thể không hoặc có những rất ít tính dị bản,
ngôn ngữ trau chuốt và mang nét riêng của người sáng tác. Hình tượng trong
văn học viết có tính điển hình hóa, không phải là những hình tượng chung
chung. Nếu như văn học dân gian tác động một cách trực tiếp đến thực tiễn thì
văn học viết lại tác động một cách gián tiếp thông qua nhận thức và thái độ của
người đọc. Có nhiều người cho rằng văn học dân gian nếu tách rời khỏi môi
trường diễn xướng của mình thì nó chỉ là một cái xác không hồn. Mỗi tác phẩm
văn học dân gian gắn chặt với môi trường diễn xướng như những lúc hát ru cho
em bé ngủ, khi chèo đò, kéo lưới, cấy hái trên đồng ruộng, chăn tằm, dệt vải…
Văn học viết thì khác, những tác động của nó mang tính cá nhân và là khác nhau
với các đối tượng thưởng thức.
Bên cạnh những tương đồng và khác biệt, không thể phủ nhận một điều
là văn học dân gian và văn học viết có một mối quan hệ gắn bó qua lại rất
khăng khít. Văn học dân gian là chặng đầu của nền văn học viết, là nền tảng
của văn học viết, nuôi dưỡng nền văn học viết, cung cấp cho văn học viết rất
nhiều tư liệu trên các phương diện khác nhau từ thể loại, ngôn từ, hình ảnh,
biểu tượng, hình tượng…Rất nhiều tác giả văn học viết nhờ được hấp thụ bầu
sữa mẹ văn học dân gian mà thành công. Kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào
Nguyễn Du cũng được sáng tác bằng thể thơ 6/8. Tố Hữu vẫn luôn luôn nhắc
về câu chuyện thủa nhỏ, ngày nào vào khoảng bốn giờ sáng, ông nội cũng gọi
dậy nhờ chép lại những bài ca dao và có lẽ cũng nhờ vậy mà ông đã có rất
nhiều bài thơ lục bát sâu sắc, xúc động…Văn học Việt Nam hiện đại còn ghi
nhận tên tuổi của rất nhiều nhà thơ với những sáng tác mang âm hưởng văn
học dân gian như Nguyễn Bính, Nguyễn Duy…Khi tìm hiểu sáng tác của các
nhà thơ, nhà văn, một trong những yếu tố nội dung thường hay được khai thác
đó chính là cách cảm, cách nghĩ với những suy ngẫm, triết lý dân gian được
14
thể hiện như thế nào. Âm hưởng dân gian thể hiện thông qua việc sử dụng thể
loại, hình tượng, ngôn từ, các môtip cũng được quan tâm tìm hiểu. Có thể

sáng tác từ dân gian. Bản thân thể loại Truyện nôm đã là thể loại thuần túy dân
tộc khi sử dụng thể thơ lục bát trong sáng tác. Mặt khác, sự tiếp thu trọn vẹn
rất nhiều yếu tố dân gian đã làm cho bộ phận Truyện nôm bình dân nhiều thời
kỳ được coi là những sáng tác dân gian hoặc đơn thuần coi là những sáng tác
dân gian được viết lại dưới dạng thơ lục bát.
1.2 Khái quát về Truyện nôm và Truyện nôm bình dân
1.2.1 Truyện nôm
Truyện nôm là một thành tựu đặc sắc của văn học Việt Nam Trung đại. Về
thuật ngữ Truyện nôm, có nhiều cách diễn đạt khác nhau khi nói về thể loại này.
Tuy nhiên, có thể hiểu một cách ngắn gọn trên ba ý chính: Truyện nôm là những
tác phẩm tự sự, viết bằng chữ Nôm, sử dụng thể thơ lục bát. Những Truyện nôm
đầu tiên ra đời từ khoảng thế kỷ XVI – XVII là những Truyện nôm Đường luật
như Tô Công phụng sứ, Chiêu Quân cống Hồ, Lâm tuyền kỳ ngộ… Một tác
phẩm Truyện nôm Đường luật bao gồm rất nhiều bài thơ lẻ tẻ khác nhau, được
cố gắng sắp xếp theo một trật tự nhất định để kể lại câu chuyện một cách hoàn
chỉnh. Tuy nhiên, những hạn chế của thể loại thơ Đường luật như tính hàm xúc,
chặt chẽ đã không giúp cho việc diễn tả cốt truyện được liên tục. Phải đến khi sử
dụng thể thơ lục bát, thể thơ thuần túy dân tộc, Truyện nôm mới thực sự tìm
được chỗ đứng của mình. Đến khoảng thế kỷ XVIII – ½ thế kỷ XIX, Truyện
nôm đạt được những thành tựu rực rỡ với những tác phẩm tiêu biểu như Hoa
Tiên (Nguyễn Huy Tự), Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào)… và đỉnh cao là Truyện
Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, sự phát triển
của thể loại này có chậm lại, nhường chỗ cho những tác phẩm văn học viết bằng
chữ quốc ngữ. Tuy nhiên vẫn xuất hiện một số tác phẩm tiêu biểu như Lục Vân
Tiên của Nguyễn Đỉnh Chiểu. Hiện nay, đã sưu tầm được khoảng gần 100
Truyện nôm , trong đó có khoảng 50 tác phẩm đã được phiên âm và giới thiệu.
Các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục quá trình sưu tầm những tác phẩm thuộc
thể loại này.
16
Thể loại Truyện nôm có những đặc điểm rất riêng về nội dung và nghệ

định của thể loại này vừa phù hợp với đặc trưng chung của các tác phẩm văn học
Trung đại vừa là phương diện cơ bản để xác định nội dung cơ bản của tác phẩm.
Nhân vật cũng là một đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Truyện nôm. Sau thể
truyền kỳ thì đây là thể loại xây dựng được một hệ thống nhân vật đa dạng,
phong phú. Đặng Thanh Lê đã rất tinh tế khi khẳng định rằng chính vì phạm vi
phản ánh rộng lớn làm cho Truyện nôm bắt buộc phải xây dựng một thế giới
nhiều nhân vật. Nhiều nhân vật, nhiều tính cách, nhiều kiểu người cùng những
mối quan hệ đan xen, chằng chịt mới phản ánh cho được thật sâu, thật rõ hiện
thực xã hội. Nhìn qua bảng thống kê của Đinh Thị Khang có thể thấy số lượng
nhân vật trong những tác phẩm Truyện nôm rất khác nhau. Một số truyện có rất ít
nhân vật như Bích câu kỳ ngộ, Trương Chi (03 nhân vật), Trinh thử (04 nhân vật)
đến những tác phẩm số lượng nhân vật nhiều hơn như Song Tinh (16 nhân vật),
Phương hoa (17 nhân vật), Hoàng Trừu (18 nhân vật), một số tác phẩm số lượng
nhân vật đông đảo hơn hẳn như Truyện Kiều (30 nhân vật), Phạm Công Cúc Hoa
(49 nhân vật)… [33, 57]. Hệ thống nhân vật trong Truyện nôm cũng rất đa dạng
với những nhân vật chính, phụ, trung tâm. Trong đó, nhân vật trung tâm trong hầu
hết các Truyện nôm, đặc biệt trong Truyện nôm bình dân là người phụ nữ với
những phẩm hạnh tốt đẹp, với khát khao hạnh phúc mãnh liệt và một ý chí, nghị
lực phi thường. Nhân vật phụ khá đa dạng, một số nhân vật tuy là phụ nhưng lại
có vai trò rất quan trọng. Cũng với mục đích phản ánh cho được thật đầy đủ hiện
thực phức tạp của cuộc sống, loại hình nhân vật trong Truyện nôm còn rất đa
dạng, phong phú với những nhân vật chính diện, phản diện được phân biệt một
cách rõ nét. Nhân vật chính diện thường là một nữ tiểu thư khuê các, một chàng
nho sinh nghèo khổ, một người dân thường lương thiện… Nhân vật phản diện đặc
trưng hơn, đó thường là các bậc vua chúa hay quan lại đại diện cho chế độ phong
kiến thối nát, bất công. Đây là những thế lực đen tối, bạo tàn, là nguyên nhân gây
ra đau khổ, bi kịch cho những người lương thiện. Đến với thế giới nhân vật đa
dạng trong Truyện nôm, chúng ta còn có thể nhận thấy sự trưởng thành của các
tác giả trong việc xây dựng, khắc họa nhân vật so với nhân vật trong truyện cổ
tích hay truyện truyền kỳ. Nhân vật trong Truyện nôm có nhiều nét tương đồng

Truyện nôm khuyết danh và Truyện nôm hữu danh. Cách phân loại này đã phổ biến
19
trong một thời gian khá dài và tỏ ra hữu dụng khi các tiêu chí của sự phân loại rõ
ràng, khoa học. Tuy nhiên, sau đó, một số Truyện nôm tưởng rằng không có tên tác
giả, trong quá trình nghiên cứu lại phát hiện tác phẩm đó có người sáng tác. Vì vậy,
cách phân loại này không còn phát huy tác dụng. Cách phân loại thứ hai là dựa theo
nguồn gốc, đề tài, chia Truyện nôm thành ba loại: Loại Truyện nôm dựa vào truyện
cổ tích, thần thoại hay sự tích thần phật (ví dụ: Tấm cám, Trương Chi, Thạch
Sanh….). Loại dựa vào các tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa như Truyện Kiều (Nguyễn
Du), Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự), Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào)….Thứ ba là loại
dựa vào thực tế để sáng tác kiểu như Sơ kính tân trang (Phạm Thái) hay Lục Vân
Tiên (Nguyễn Đình Chiểu). Tuy nhiên, cách phân loại phổ biến nhất là dựa vào các
yếu tố về thi pháp như đề tài, chủ đề, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ…từ đó phân
Truyện nôm thành hai nhóm là Truyện nôm bác học và Truyện nôm bình dân. Khái
niệm bác học hay bình dân không nhằm đánh giá về mức độ cao quý hay thấp hèn.
Mỗi nhóm đều có những đặc điểm riêng biệt cùng những nét đặc sắc khác nhau.
Truyện nôm bác học phần lớn đều có tên tác giả, thường là của các trí thức phong
kiến, sáng tác dựa theo cốt truyện của những tiểu thuyết tiếp thu từ Trung Hoa hoặc
dựa vào thực tế cuộc sống. Chủ đề của những Truyện nôm bác học là hướng tới khát
vọng tình yêu lứa đôi, hạnh phúc tuổi trẻ, sự chiến thắng của tình yêu tự do. Tiêu
biểu cho nội dung này là những tác phẩm Song Tinh, Hoa Tiên, Tây Sương, Truyện
Kiều … Bên cạnh đó, một số Truyện nôm bác học khác cũng có nội dung đề cao tình
nghĩa vợ chồng, sự chung thủy, đề cao nghĩa vụ, bổn phận của con người với gia
đình, xã hội như Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên
Truyện nôm bình dân phần lớn không có tên tác giả. Có nhiều ý kiến cho
rằng lực lượng sáng tác chính của những Truyện nôm này là các nho sĩ bình dân,
có đời sống, tư tưởng gần gũi với quần chúng nhân dân. Quan điểm này dựa trên
việc tìm hiểu hình tượng nhân vật nam chính trong truyện. Hầu hết, họ đều là
những nho sĩ nghèo, gia cảnh bất hạnh, mồ côi bố hoặc mồ côi mẹ, phải tự kiếm
sống để tiếp tục con đường học tập. Về mặt cốt truyện, các tác phẩm nhóm này

xây dựng hình tượng người phụ nữ. Họ thường là những người chủ động, mạnh
mẽ, dứt khoát trong việc hôn nhân của mình. Sau đó, dù phải trải qua nhiều khó
khăn, vất vả, thử thách, nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua tất cả, bất chấp hiểm
21
nguy và kiên quyết không đánh mất chính bản thân mình. Những thử thách đôi
khi được phóng đại để nhấn mạnh thêm phẩm giá, tiết hạnh của nhân vật. Với
chủ đề khát vọng gia đình, bảo vệ công lý, các tác phẩm Truyện nôm bình dân ở
góc độ nào đó đã thể hiện giá trị tố cáo hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.
Các nhân vật thể hiện tinh thần phản kháng, chống lại thế lực bạo tàn. Sự chiến
thắng của họ là sự chiến thắng của công lý. Các yếu tố thần kỳ có trợ giúp
nhưng cơ bản là tự các nhân vật luôn có ý thức vươn lên, đấu tranh với những
gian nan, thử thách. Chính điều này đã thể hiện được quan niệm dân gian kết
hợp với tín ngưỡng thiêng liêng và niềm tin: con người có phẩm chất tốt bao giờ
cũng được hạnh phúc.
Về số lượng tác phẩm, số lượng tác phẩm Truyện nôm nói chung hiện nay
khoảng hơn 100 truyện, ngoài ra, nhiều tác phẩm đang trong quá trình nghiên
cứu, sưu tầm. Trong số hơn 100 truyện này, số lượng tác phẩm Truyện nôm bình
dân chiếm ưu thế hơn so với mảng Truyện nôm bác học. Như vậy có thể thấy số
lượng tác phẩm là khá lớn. Trong đó có rất nhiều tác phẩm nổi bật, tiêu biểu như
Phạm Tải Ngọc Hoa, Lý Công, Thoại Khanh Châu Tuấn…Đó cũng là những
tác phẩm mà chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm hiểu trong đề tài này.
Trên đây là những khái lược cơ bản của chúng tôi về Truyện nôm bình
dân nhằm giúp người đọc có được cái nhìn khái quát nhất và cũng là cơ sở để
chúng tôi trình bày những vấn đề cụ thể, chuyên sâu trong những phần tiếp theo.
Tiểu kết
Là một bộ phận của nền văn học dân tộc, văn học dân gian thực sự trở
thành kho tàng quý báu với những tác phẩm đặc sắc, có giá trị. Không chỉ vậy,
những tinh túy của bộ phận văn học này còn ảnh hưởng một cách sâu sắc tới văn
học viết. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là mối quan hệ hai
chiều, gắn bó, khăng khít. Trong đó, những đóng góp mà văn học dân gian mang

khái niệm rộng bởi lẽ phạm vi hiện thực được phản ánh khá đa dạng. Các nhà lý
luận văn học thường phân chia thành một số giới hạn cụ thể. Đó có thể là giới
hạn bề ngoài như đề tài loài vật, công nhân, tiểu tư sản…hoặc các phương diện
bên trong hay chính là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả và thể hiện
trong tác phẩm văn học. Cách nhận biết đề tài đó là xem xét trực tiếp từ nội
24
dung tác phẩm. Tác phẩm đó phản ánh những mảng hiện thực nào thì đó chính
là đề tài mà nhà văn muốn khai thác, khám phá. Tuy nhiên, một tác phẩm văn
học là một chỉnh thể nghệ thuật, kết quả của quá trình quan sát, nghiền ngẫm,
thai nghén của nhà văn nên hiện thực phản ánh trong đó là vô cùng phong phú.
Chính vì thế, một tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm lớn thường không
đơn thuần chỉ có một đề tài mà có rất nhiều đề tài khác nhau, thường được gọi là
hệ thống đề tài. Các đề tài này không tách rời nhau mà gắn bó, bổ sung lẫn nhau.
Đề tài trong một tác phẩm văn học bắt nguồn và phản ánh lịch sử xã hội thời đại
nhà văn sống đồng thời thể hiện rõ lập trường tư tưởng của tác giả đó. Thông
qua để tài có thể biết được nhà văn quan tâm đến lĩnh vực nào, vốn sống, quan
điểm của người viết ra sao. Do vậy, đây cũng là yếu tố để đánh giá năng lực một
tác giả văn học. Đề tài có vai trò nhất định trong việc tìm hiểu giá trị nội dung
tác phẩm. “Tầm quan trọng của khái niệm đề tài là ở chỗ nếu chưa nhận ra đề tài
thì chưa bước vào tiếp nhận hình tượng” [30, 259] “Đề tài là cơ sở để nhà văn
khái quát những chủ đề và xây dựng những hình tượng, những tính cách điển
hình” [30, 262]. Chính vì vậy, khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, yếu tố đầu
tiên được xem xét đó là nhà văn lựa chọn đề tài gì để phản ánh và đề tài đó đã
được thể hiện như thế nào thông qua các hình tượng văn học, các điển hình văn
học.
Gắn liền với khái niệm đề tài là khái niệm chủ đề. “Chủ đề là vấn đề cơ
bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của để tài” (Lựu, 262). Chủ đề có
tầm quan trọng rất lớn, vừa là một yếu tố đánh giá tài năng của tác giả, vừa góp
phần tạo nên tầm ảnh hưởng sâu rộng của tác phẩm. Có thể cùng một đề tài
nhưng mỗi tác giả lại có sự lựa chọn chủ đề khác nhau, tùy thuộc vào kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status