Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát (Holothuria scabra) trong ao ở quy mô sản xuất tại một số tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ - Pdf 25

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN III
********************** BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ NUÔI
THƯƠNG PHẨM HẢI SÂM CÁT HOLOTHURIA SCABRA
TRONG AO Ở QUY MÔ SẢN XUẤT TẠI MỘT SỐ TỈNH
DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Những người thực hiện:
1. Ks. Nguyễn Đình Quang Duy
2. Ks. Hà Văn Khô
3. Ks. Nguyễn Thị Hồng Tuyên
4. Ks. Hoàng Thị Châu Long
5. Ks. Vũ Đình Tý
6. Ths. Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn
7. Ths. Đinh Tấn Thiện
8. Nguyễn Ngọc Cường
9. Mai Nhật Trường Nha Trang, tháng 12 năm 2009

TÓM TẮT



MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Tình hình nghiên cứu về hải sâm trên thế giới 1
2. Tình hình nghiên cứu hải sâm ở Việt Nam 6
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 11
CÁCH TIẾP CẬN 12
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1. Vật liệu nghiên cứu 13
1.1. Đối tượng nghiên cứu 13
1.2 Địa điểm nghiên cứu 13
1.3 Thời gian nghiên cứu 13
2. Nội dung nghiên cứu 13
2.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi
thương phẩm H
ải sâm cát trong ao 13
2.2. Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát 13
trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80% 14
3. Phương pháp nghiên cứu 14
3.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ
nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao 14

Hình 5. Một số hình ảnh vi khuẩn nuôi cấy, phân lậ
p từ hải sâm bị
bệnh lở loét 34
Hình 6 . Kháng sinh đồ (KSĐ) của vi khuẩn phân lập từ hải sâm bị lở loét 35
Hình 7. Tốc độ tăng trưởng của hải sâm cát nuôi trong ao tại Phú Yên,
Khánh Hòa và Ninh Thuận 38
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm 22
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các chất đáy
khác nhau 22
Bảng 3:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về mật độ 25
Bảng 4. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các mật độ khác nhau 25
Bảng 5:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về thức ăn 27
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm cho ăn các loại thức
ăn khác nhau 27
Bảng 7. Mẫu hải sâm nghiên cứu ký sinh trùng 29
Bảng 8. Đặ
c điểm sinh hóa, hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập từ
hải sâm cát 30
Bảng 9. Tần số bắt gặp và tỷ lệ của tác nhân vi khuẩn phân lập được từ
mẫu hải sâm bị bệnh lở loét và hải sâm khỏe 31
Bảng 10. Đường kính vòng vô khuẩn của một số chủng vi khuẩn có tần số
bắt gặp cao đối với một số loại kháng sinh 32
Bảng 11. Các thông số về ao mô hình tại các địa điểm triển khai 34
Bảng 12. Tỉ lệ sống của hải sâm cát nuôi trong ao 35
Bảng 13. Kết quả nuôi hải sâm cát trong ao 36
Bảng 14. Hoạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi hải sâm thương
phẩm tại Phú Yên 38
Bảng 15. Hoạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi hải sâm thương
phẩm tại Khánh Hòa 39

New Guinea: 1.450 tấn.
Theo nghiên cứu điều tra về nguồn lợi hải sâm ở các nướ
c Inđônêsia,
Philippin, Ấn Độ… cho thấy rằng nguồn lợi hải sâm ở vùng ven biển các nước
này đã bị suy giảm. Nguyên nhân của sự suy giảm là do nhu cầu sản phẩm tăng
ở các nước như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông…và sự quản lí nguồn lợi
không hợp lí ở các nước này.
1.2. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo hải sâm
Năm 1988, Ấn Độ là nước đầu tiên sản xuất giống thành công loài hải
sâm cát Holothuria scabra. James (1996)
đã dựa trên cơ sở của kỹ thuật sản
xuất giống loài Apostichopus japonicus của Trung Quốc và Nhật Bản để sản
xuất giống loài này. Mục đích chính của nghiên cứu là để phục vụ cho nuôi
thương phẩm và phục hồi nguồn lợi. Kỹ thuật sản xuất giống Hải sâm cát đã
được áp dụng sản xuất ở các nước như Úc, Inđônêsia, New Calêđônia, đảo
Solomon trong những năm sau đó .
Các nghiên cứu của Hamel và cộng sự (2000) ở đảo Solomon cho thấy, Hải
sâm cát là một trong những loài hải sâm có nhiều triển v
ọng nhất cho nghề nuôi
trồng thủy sản bởi giai đoạn phát triển của ấu trùng ngắn, khả năng chịu đựng cao
với sự thay đổi của điều kiện môi trường, có thể thích hợp ở nhiều mô hình nuôi.
Theo Battaglene (1999), Hải sâm cát là loài có tiềm năng nhất trong việc
thả phục hồi nguồn lợi so với các loài hải sâm nhiệt đới khác do nó là loài có
giá trị kinh tế cao, phân bố rộng, dễ
nuôi và chi phí thấp. Trong sản xuất giống
nguồn bố mẹ thường là những cá thể đánh bắt từ tự nhiên. Những cá thể này có
thể cho sinh sản ngay hoặc nuôi nhốt ở trong bể sau đó cho đẻ. Tuy nhiên,
trong điều kiện nuôi nhốt hải sâm thường giảm bắt mồi, dẫn đến giảm khối
lượng cơ thể và khối lượng của tuyến sinh dục.
Theo Yanagasiwa (1998), hải sâm cho sinh sản vớ

cỡ 8 - 12µm, kế đến là tảo Chaetoceros muelleri cỡ 5 - 8µm, cuối cùng là tảo C.
calcitrans cỡ 3 - 6µm. Mậ
t độ tảo cho ăn là 20.000 – 40.000 tế bào/ml. Đồng
thời ông cũng cho rằng, nếu cho ăn kết hợp giữa tảo Rhodomonas salina và
Chaetoceros muelleri thì tốt hơn khi chỉ cho ăn R. salina
Cũng theo Battaglene và cộng sự (1999), H. scabra mới bám ăn vi khuẩn
tảo giáp, chất chiết xuất từ Sargassum. sp. Khi giống đạt 10 - 20mm, chúng có
thể thay đổi chuyển sang sống trên nền đáy cát và ăn bột tảo Ulva lactuca. Tỷ
lệ
chết cao xảy ra ở giai đoạn giống mới bám (5mm). Sau một tháng tỷ lệ sống
trung bình 34,4%. Trên tấm bám hải sâm có thể đạt 13mm sau một tháng. Thí
nghiệm cũng cho thấy, sẽ tốt hơn nếu giống đạt 20mm mới chuyển sang sống ở
trên nền đáy. Tỷ lệ sống của Hải sâm cát >20mm là rất cao (>96%), cần hạn
chế nuôi ở mật độ cao và ánh sáng yếu. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng ánh
sáng có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thức ăn là tảo đáy và tảo phù du cho ấu
trùng. Tuy nhiên việc bổ sung bột tảo không làm cải thiện tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống trừ những bể nuôi ở mật độ cao.
Sun Huiling và cộng sự (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức
prôtêin khác nhau lên sinh trưởng và sự phát triển của loài Apostichopus
japonicus. Kết quả nghiên cứu cho thấ
y, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử
dụng thức ăn của vật nuôi tăng cao tỷ lệ thuận với mức cao prôtêin. Ở mức
prôtêin 21,5% trở lên thì đảm bảo cho sinh trưởng của hải sâm. Cũng theo tác
giả, vai trò của các acid amin thiết yếu đặc biệt là Lysin và Arginin là những
acid amin thiết yếu đối với tôm, cá cũng rất quan trọng trong thành phần dinh
dưỡng của hải sâm. Mặt khác tỷ lệ
Ca/P là một yếu tố quyết định ảnh hưởng
đến tỷ lệ sinh trưởng của hải sâm. Theo nghiên cứu cho thấy rằng hải sâm tăng
trưởng nhanh nhất đối với tỷ lệ Ca/P từ 7 - 9. Như vậy sự phát triển của hải sâm
chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, do đó cần thiết kế một chế độ ăn theo nhu cầu

hóa của hải sâm, khi ký sinh với số lượng lớn, chúng có thể gây chết nghiêm
trọng ký chủ; Kato (1998) lại sắp xếp Entovalva perrieri vào giống Devonia,
đồng thời chuyển Entovalva major sang giống Anisodevonia. Becker và cộng
sự (2004) nghiên cứu bệnh lở loét ở Hải sâm cát (H. scabra), các tác giả cho
biết, b
ệnh phát triển rất nhanh, 2/3 lượng Hải sâm bị lở loét chỉ 2 ngày sau khi
phát hiện cá thể đầu tiên bị nhiễm, bệnh có khả năng gây chết nhanh. Hải sâm có
thể bị chết trong vòng ba ngày sau khi phát hiện ra dấu hiệu bệnh lý đầu tiên. Các
tác giả cũng cho rằng vi khuẩn, bao gồm Vibrio sp. và Bacteroides sp. là tác nhân
gây bệnh lở loét ở hải sâm.
Deng và cộng sự (2009) nghiên cứu bệnh lở loét ở loài hải sâm
(Apostichopus japonicus) nuôi trong bể ximăng và ao đất, các tác giả đã phân lập
được 6 loại vi khuẩn khác nhau trong các mẫu bị lở loét thu được trong các bể
ximăng trong nhà, 2 loài vi khuẩn từ các mẫu bị lở loét thu được trong các ao
ngoài trời.
Nhìn chung, có rất ít công trình nghiên cứu về các bệnh ở hải sâm trên th
ế
giới, ở Việt Nam chưa có công bố nào về bệnh ở đối tượng này. Tuy nhiên qua
tổng quan tài liệu và thực tiễn sản xuất có thể thấy bệnh lở loét là bệnh nguy
hiểm thường gặp nhất ở hải sâm nuôi, bệnh có thể lây lan và gây chết với tỷ lệ
lớn trong khoảng thời gian ngắn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh
tế của người nuôi.
1.6. Tình hình nuôi h
ải sâm thương phẩm trên thế giới
Theo Yanagisawa (1998), từ những năm 1930, Nhật Bản bắt đầu nghiên
cứu loài Stichopus japonicus, đến năm 1950 thì sản xuất giống thành công. Tuy
nhiên, việc nuôi thương phẩm cũng mới bắt đầu hơn vài chục năm trở lại đây
với hơn 25 triệu con giống được thả vào năm 1994.
Theo Chen (2004), Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống loài
Apostichopus japonicus vào nhữ

ng nghiên cứu về quy trình nuôi thương phẩm vẫn còn thiếu, chỉ có một
số nghiên cứu về nuôi biển nhưng ở quy mô nhỏ. Vì thế, mặc dù đã có những
thành công nhất định trong sản xuất con giống nhân tạo nhưng vẫn chưa xây
dựng được quy trình nuôi thương phẩm trong ao. Hiện nay hướng nghiên cứu
này đang được các nhà khoa học ở nhiều nước quan tâm, nhất là các nước
thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dươ
ng nơi mà có nhiều diện tích nuôi tôm bị
bỏ hoang do dịch bệnh nhưng có rất nhiều tiềm năng cho nuôi thương phẩm
loài hải sâm này.
2. Tình hình nghiên cứu hải sâm ở Việt Nam
Hải sâm cát là một trong những loài hải sâm thuộc Ngành Da gai có giá
trị kinh tế, dinh dưỡng và y học cao, là mặt hàng ưa chuộng ở các thị trường
như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan…Hiện nay, hải sâm cát có
giá cao nhất so với các loài hải sâm khác trên thị trường thế giớ
i. Hiện với
khoảng 40 – 48 USD/kg khối lượng khô (INNOFISH Trade, 2003. Ferdouse,
2004). Ở trong nước, giá hải sâm khoảng 30.000 – 50.000 đồng/kg tươi tùy
thuộc vào kích cỡ và chất lượng.
Ở Việt Nam, Hải sâm cát mới được quan tâm nghiên cứu trong gần mười
năm trở lại đây. Một số kết quả nghiên cứu về đối tượng này như: Nghiên cứu
về nguồn lợi; nghiên cứu đặc điểm sinh học; nghiên cứu quy trình sinh sản
nhân tạo; nghiên cứu tính năng lọc của hải sâm trong mô hình nuôi ghép với
tôm sú trong ao nuôi tôm, hải sâm nuôi ghép với bào ngư, vẹm xanh, tôm hùm
ngoài đăng biển.

2.1. Nghiên cứu về nguồn lợi hải sâm
Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về nguồn lợi như: Nguồn lợi hải sâm
(Holothuroidea) ở vùng biển phía Nam Việt Nam (Đào Tấn Hổ, 1991); Nghiên
cứu các biện pháp bảo tồn loài hải sâm ở khu vực Nha Trang, Khánh Hoà (Ngô
Chí Thiện, 1996). Các nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi hải sâm ở Việt Nam

Holothuria scabra và Actinopyga echinites” được thực hiện. Thí nghiệm nuôi
hả
i sâm trong bể xi măng và trong ao đất đạt tỷ lệ sống 70% và 85%, tốc độ
tăng trưởng khi nuôi trong bể xi măng là 56,4 g/con/tháng, còn ở trong ao đất là
78,9 g/con/tháng. Kết quả nghiên cứu về các ngưỡng yếu tố môi trường cho
thấy, Hải sâm cát sống phù hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25-33
o
C và ở độ mặn
26-35‰, trong khi đó ngưỡng chết dưới của chúng nằm trong khoảng 4-10
o
C
và 7-12‰, ngưỡng chết trên nằm trong khoảng 40-45
o
C và 45-54‰.
Cũng theo Nguyễn Chính và Nguyễn Thi Xuân Thu (1995), Hải sâm cát
sống ở vùng đáy cát hay cát bùn nên thức ăn của nó chủ yếu là mùn bã hữu cơ
và các sinh vật nhỏ như tảo, trùng có lỗ, trùng phóng xạ và các loài ốc. Theo
nghiên cứu của các tác giả, khi phân tích các mẫu hải sâm thấy thức ăn của
chúng gồm: 75-86,2% cát bùn, 13,8-25% mùn bã hữu cơ và vi sinh vật (có 35
loài vi sinh vật ). Hải sâm bắt mồi theo phương thức bị động, lấy thức ăn thông
qua lọc cát, bắ
t mồi theo chu kỳ ngày đêm. Phân của chúng thường nhiều và
gắn với nhau thành đoạn dài. Đây là dấu hiệu thăm dò vùng tập trung hải sâm.
Hải sâm có ít nhất 1/3 thời gian không lấy thức ăn. Từ 2-4 giờ sáng chúng vùi
mình trong cát, đến 12 giờ trưa chúng trồi mình lên và bắt mồi từ 16 giờ đến 2
giờ sáng ngày hôm sau. Hải sâm cát có mùa vụ sinh sản chính từ tháng 4 đến
tháng 8, chúng có thể đẻ quanh năm ở vùng nhiệt đới. Trong sinh sản nhân tạo
có th
ể cho đẻ quanh năm. Hải sâm cát thuộc loài đực cái dị thể, nhưng nhìn bề
ngoài rất khó phân biệt đực cái.

trong đó ở độ mặn 30‰ thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu
trùng hải sâm. Mật độ
ương nuôi ấu trùng thích hợp 0,2 - 0,8 con/ml. Tỷ lệ
sống của Hải sâm cát tỷ lệ nghịch với mật độ ương .
Có 3 loại vật bám được tiến hành nghiên cứu khi cho sinh sản nhân tạo hải
sâm cát đó là tôn nhựa, tấm bám composite và tấm nilon. Cả 3 loại tấm bám đều
cho kết quả tốt. Vật bám làm bằng tôn nhựa cho tỷ lệ bám cao nhất, ấu trùng
bám nhiều nhất. Chất đáy để ương nuôi hải sâm c
ũng được nghiên cứu, thí
nghiệm đã cho thấy chất đáy thích hợp cho ương nuôi hải sâm là bùn hoặc cát
bùn. Ở ngoài vùng triều đối với những chất đáy này cần bổ sung thêm thức ăn
nếu nuôi ở mật độ cao.
Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2003), khi nuôi ghép tôm sú với hải sâm thì
hải sâm là đối tượng có vai trò cải tạo môi trường sống của tôm sú, chúng góp
phần làm giảm tổng lượng hợp chất hữu cơ trong ao nuôi tôm
đặc biệt là hàm
lượng H
2
S ở đáy ao, đồng thời góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng của tôm
nuôi. Trong giới hạn mật độ từ 90 – 120 g hải sâm/m
2
, mật độ hải sâm càng cao
thì tăng trưởng của tôm càng nhanh. Nghiên cứu này đã phản ánh vai trò tích
cực của hải sâm trong ao nuôi tôm sú, với sự có mặt của hải sâm trong ao nuôi
đã làm tăng tỷ lệ sống của tôm. Trong mô hình nuôi ghép nên thực hiện ở vùng
nuôi có độ mặn dao động từ 25 - 30‰ là thích hợp.
Theo Thái Ngọc Chiến (2006), Hải sâm cát khi nuôi ghép với vẹm xanh,
cá chẽm, ốc hương, rong sụn và tôm hùm ngoài đăng biển bằng hình thức nuôi
kết hợp cho hiệu qu
ả kinh tế cao và cải thiện môi trường nuôi. Hải sâm cát cho


MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1. Xây dựng được quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao,
tỉ lệ sống 80%, năng suất 2,5 tấn/ha.
2. Bước đầu áp dụng trên mô hình nuôi ở Nam Trung Bộ đạt khối lượng sản
phẩm 7,5 tấn, quy cỡ >300 g/con.
cát được lựa chọn là địa điểm triển khai các mô hình áp dụng.
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu:

3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương
phẩm Hải sâm cát trong ao
3.1.1. Nghiên cứu chất đáy thích hợp:
+ Hải sâm thí nghiệm:
- Hải sâm giống dùng để bố trí thí nghiệm có khối lượng 2 – 5g/con (trung
bình 3,67 ± 0,96g).
- Mật độ thả: 3 con/m
2
.
+ Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3
nghiệm thức với 3 loại chất đáy khác nhau: cát, cát bùn và cát san hô.
- Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, thí nghiệm kéo dài 8 tuần.


- Chất đáy dùng bố trí thí nghiệm:
Cát: lấy từ cát mịn sạch từ bãi biển ;
Cát san hô: lấy ở khu vực ao cát san hô nằm gần biển;
Cát bùn: lấy tại ao nuôi tôm sú đã thu hoạch xong trước đó 10 ngày.
Chất đáy được rải đều trong bể với độ dày khoảng 5 cm. Hình 1. Các loại chất đáy dùng bố trí thí nghiệm
+ Chăm sóc, quản lý và thu số liệu
- Thức ăn và lượng cho ăn: trong quá trình thí nghiệm, 4 tuầ
n đầu không
cho ăn, 4 tuần sau cho ăn thức ăn tôm CP9000, với lượng cho ăn 1.5 g/m
2
/ngày
(0,5g/con/ngày).
- Chế độ thay nước: 2 ngày/1 lần, mỗi lần thay từ 30 - 50% lượng nước
trong bể.
- Cách 2 tuần kiểm tra hải sâm thí nghiệm để xác định tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống.
- Xác định khối lượng của hải sâm thí nghiệm bằng cân điện tử KP-1000,
với độ chính xác 0.2g.
- Phương pháp cân hải sâm: thu mẫu hải sâm ở trạng thái bình thường,
không ngậm nước, để trong bóng râm 5 phút trướ
c khi cân.
- Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm
để kịp thời điều chỉnh.
- Nhiệt độ: Đo nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân, đo nhiệt độ hằng ngày
(2 lần: buổi sáng đo vào lúc 7 - 8 giờ, buổi chiều đo vào lúc 14 - 15 giờ).
Cát Cát – san hô Cát - bùn

2
.
+ Thức ăn thí nghiệm: gồm bột đậu nành, bột cám gạo và bột rong khô.
- Hải sâm thí nghiệm được cho ăn 2 lần/ngày, với lượng 1g/m
2
/ngày. Thức
ăn được hòa tan trong nước và tạt đều khắp bể.
+ Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3
nghiệm thức với 3 loại thức ăn khác nhau: bột đậu nành, bột cám gạo và bột
rong khô.
- Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, thí nghiệm kéo dài 8 tuần.
- Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng hình chữ nhật có diện tích
đáy là 15m
2
(2,5m x 6m), hệ thống bể được đặt ở nơi có mái tôn che mát. Đáy
bể được rải một lớp cát sạch, mịn dày 5cm.
- Mực nước trong bể: 0,4m, nước biển có độ mặn 32‰ được lọc qua bể lọc cát.
+ Chăm sóc, quản lý và thu số liệu: chế độ thay nước, quản lý môi trường, thu
số liệu giống thí nghiệm ở trên.
3.1.4. Nghiên cứu bệnh và một số biện pháp phòng trị
* Phương pháp thu và vận chuyển mẫu:
Phương pháp thu mẫu được tiến hành theo hai phương pháp:
- Thu mẫu ngẫu nhiên: thu mẫu hải sâm liên tục để nghiên cứu ký sinh
trùng và vi khuẩn.
- Thu mẫu chọn lọc: thu những con hải sâm có dấu hi
ệu bệnh lý như da
bị lở loét, nhợt nhạt để nghiên cứu ký sinh trùng và vi khuẩn.
Phương pháp vận chuyển: mỗi con hải sâm cho vào mỗi bao nilon nhỏ
có sục khí và cho ít nước rồi buộc chặt miệng bao lại. Cho vào thùng xốp dán

phải có khuẩn lạc rời nhau. Dựa vào màu sắc, hình dạng, kích thước của khuẩn
lạc

để xác định chủng vi khuẩn nghi ngờ.
- Chọn những khuẩn lạc riêng rẽ, chiếm ưu thế nuôi cấy thuần chủng
trên các đĩa thạch TSA.
- Nhuộm Gram để quan sát hình thái vi khuẩn theo phương pháp Plumb
& Bowser (Bản dịch của Nguyễn Ngọc Nhiên, 1992).
- Thực hiện dãy các phản ứng sinh hóa
- Định danh vi khuẩn dựa vào đặc điểm hình thái, Gram, các phản ứng sinh
hóa và hệ thống phân loại vi khuẩn của Holt và cộng sự (1994), Frerichs (1993).
*
Đề xuất biện pháp phòng trị:
Thử độ nhạy của một số loại kháng sinh thông dụng đối với hai chủng vi
khuẩn có tần số bắt gặp cao phân lập từ hải sâm bệnh. Thử độ nhạy kháng sinh
theo phương pháp đĩa giấy của Kirby Bauer.
Các kháng sinh được dùng thử độ nhạy như sau: Tetracilin, Nofloxacin,
Erythromyxin, Streptomycin, Cephalexin và Ampicilin.
3.2. Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao
đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ s
ống 80%.
3.2.1 . Xây dựng dự thảo quy trình
Trên cơ sở của việc nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật nêu trên, từ
đó lựa chọn các chỉ tiêu thích hợp để xây dựng quy trình công nghệ. Quy trình
công nghệ dự thảo như sau :
a) Điều kiện ao nuôi :
- Vị trí ao nuôi gần biển chất đáy thích hợp (lựa chọn chất đáy cát, cát bùn hoặc
cát san hô).
- Độ mặn ổn định từ 25-35‰, nguồn nước không b
ị ảnh hưởng bởi nước ngọt

ăn bột đậu nành, bột cám gạo hoặc bột rong khô).
e) Theo dõi tốc độ tăng trưởng:
- Kiểm tra xác định tốc độ tăng trưởng của hải sâm định kỳ 15 ngày/lần. Bắt
ngẫu nhiên 30 con, cân khối lượng từng cá thể.
f) Thu hoạch:
- Sau khoảng 8-12 tháng nuôi, hải sâm đạt kích cỡ 300 - 400g /con thì tiến
hành thu hoạch. Tháo cạn ao bắt thủ công, kéo lưới hoặc lặn bắ
t.
3.2.2. Thiết kế mô hình :
Tại Phú Yên, hai ao nuôi với 5.000m
2
/ao (ký hiệu PY1, PY2) thả con
giống cỡ 10g/con với mật độ 1con/m
2
.
Tại Khánh Hòa, 2 ao nuôi 9500m
2
và 4.500m
2
(ký hiệu KH1, KH2) thả
con giống cỡ 2g/con với mật độ 1con/m
2
.
Tại Ninh Thuận, hai ao nuôi với diện tích 4.000m
2
và 6.000m
2
(ký hiệu
NT1, NT2) thả con giống cỡ 20g/con cũng với mật độ 1con/m
2

Trong đó :
ADG: là tốc độ tăng trưởng về khối lượng trung bình theo ngày
(g/con/ngày)
W
1
: khối lượng hải sâm cân lần trước (g)
W
2
: là khối lượng hải sâm cân lần sau (g)
t
1
là thời gian cân hải sâm lần trước.
t
2
là thời gian cân hải sâm lần sau.
- Công thức tính giá trị trung bình.
X
=
n
1


=
n
i
i
X
1
.
Trong đó:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status