ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
NGHIÊN cú u VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP x ử LÝ Ỏ NHIẺM
CHÌ (Pb) TRONG ĐẤT BANG PHƯƠNG PHÁP HOÁ HỌC
MÃ SỐ: QT.02.27
CHỦ TRÌ: CN. CÁI VĂN TRANH
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP xử LÝ Ở NHIẺM
CHÌ (Pb) TRONG ĐÂT BANG PHƯƠNG PHÁP HOÁ HỌC
M ã số:
QT.02.27
Chủ trì:
CN. Cái Vãn Tranh
Cún bọ phoi hợp:
ThS. Phạm Vãn Kliaiiịỉ
HVCH. Ngu vẻn Ngọc Minlì
11À NÓI - 2003
BẢO CAO TOM TÁT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP x ứ LÝ Ỏ NHIẺM CHÌ (Pb)
TRONG ĐẤT BÀNG PHƯƠNG PHẤP HOÁ HỌC
I. Mục tiêu nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới đã tiến hành nhiều phương pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng
trong đất, trong đó có đề cập đến những giải pháp xử lý ô nhiễm chì (Pb) do độc tính
cao của nguyên tô này. Tuy nhiên, những giải pháp này chù yếu là những biện pháp
sinh học. Những hạn chẽ của biện pháp sinh học là hiệu q ‘jả của việc xử lý thường
không cao. Trong khi đó cũng đã xuất hiện những giải pháp M'ang tính hoá học thuần
tuý được áp dụng để xử lý ô nhiễm kim loạ năng nói chung và -hì nói riêng. Dựa trên
các cơ sở đó, nhóm nghiên cứu cũng đã bước đẩu thực hiện nhi Tig thí nghiệm ở quy
mô phòng thí nghiệm để xem xét tính hiệu quả của biện pháp hũc' học nhằm xử lý ô
Việc sử dụng 3 loại dung dịch trên để tách chì ra khỏi đất đã đem lại những kết quả
nhất định, trong đó đặc biệt phải kẻ đến việc sử dụng dung dịch HCI (pH = 1). Trong
3 dung dịch trên thì dung dịch HCI (pH = 1) đã mang lại hiệu quả xử lý cao hơn cả,
tuy nhiên việc làm mất đi các nguyên tô dinh duỡng khác như Ca và Mg cũng rất
đáng kể, đây là điều tất yếu không thể tránh khỏi trong quá trình xử lý.
Hai dung dịch là HCI (pH = 3) và dung dịch EDTA 0,01 M cho hiệu quả xử lý thấp hơn
so với dung dịch HCI (pH = 1). Điều này la tất yếu, bởi vì dung dịch HCI (pH = 1) có
độ axit mạnh hơn hai dung dịch kia. Ngược lại việc sử dung hai dung dịch HCI (pH =
3) và EDTA 0,01 M cho hiệu quả xử lý thấp hơn nhưng việc làm mất các nguyên tố
dinh dưỡng như Ca và Mg lại thấp hơn so với việc sử dụng (.'ung dịch HCI (pH = 1).
Việc sử dụng dung dịch HCI (pH = 1) nên ốp dụng cho những loại đất bị coi là ô
nhiễm trầm trọng, còn việc sử dụng hai dung dịch HCI (pH 3) và EDTA 0,01 M thi
nên áp dụng cho các loại đất bị coi là ô nhiễm nhẹ và trung L ình.
Kết quả nghiên cứu này đã phản ánh một kết quả tương đồng với những nghiên cứu
tương tự của một số nước trên thế giới như Mỹ và Anh. Tuy nhiên việc áp dụng tại
Việt Nam sẽ cần phải được cân nhắc trước khi tiên hành, ngu>ận nhân ở đây là gÍ3
thành chi phí cho việc xử lý sẽ tương đối cao.
V. Tỉnh hình kinh phí để tài: 8.000.000 đ (Tám triệu đống chẵn)
Đã chi theo dự toán và đã quyết toán xong với Phòng Tài vụ của 1 rường Đại hoc
Khoa học Tự nhiên.
XÁC NHẬN CỦA BAN CHÙ NHIỆM KHOA CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI
(Kỷ và ghi rõ họ tên)
P G S.TS . TR INH THI TH AN H
CAI V Ã N T R A N H
ABSTRACT
Title:
RESEARCH AND PROPOSAL OF SOME RESOLUTIONS OF TREATMENT FOR
LEAD POLLUTION IN SOIL BY CHEMICAL METHODS
Code:
QT. 02.27
The value of pH was run from 4.68 - 5.05; The content of Calcium was run from 2.3 -
2.7%; the content of Magnesium was run from 1.3 - 1.7% and the content of lead was
run from 400 - 800 ppm.
The use of three solutions for washing lead out of soil gave some efficiencies, among
which typification is HCI (pH = 1) solution. Among three solutions that had been used,
then HCI {pH = 1) solution broughfyliighest treatment efficiency. However, some othei
elements was washed out of soil such as Ca, Mg with quite a lot of content, that is
the problem will have to happen indispensably in treatment process.
Two solutions are HCI (pH = 3) and 0.01 M EDTA brought lower treatment efficiency
comparing with HCI (pH = 1) solution. That is due to HCI (pH = 1) solution has a
stronger acidity than two solutions of HCI (pH = 3) and 0.01M EDTA. However, the
washing out of soil to Ca and Mg were lower than HCI (pH = 1) solution.
The use of HCI (pH = 1) solution should be applied to heavy pollution soil. On the
contrary, the use of HCI (pH = 3) and 0.01 M EDTA solution should be applied to light
and medium pollution soil.
The result of research indicated similar result together with the research of some
countries in the world such as England and American. However, the applying in
Vietnam will have to consider carefully before implement, that is due to the cost of
treatment is quite high.
M Ụ C L Ụ C
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ NGHIÊN cứ u VỀ Pb TRÊN THẾ GIỚI VẦ ở VIỆT
N A M 3
1. Những nghiên cứu ỏ M ỹ 3
1.1. Chì trong đất và b ụ i 3
1.2. Chì trong nước u ống
3
2. Những nghiên cứu tại A n h 4
2.1. Chì trong nước uống 4
2.2. Chì trong đất và b ụ i 5
3. Một sô nghiên cứu về chỉ trong đất nông nghiệp ở Việt Nam 6
nhiễm môi trường nói chung và ô nhiẻm môi trường đất nói riêng là những vân
đề bức xúc hiện nay không những ứ một quốc gia mà còn mang lính loàn cầu.
Trong một thời gian phát triển lâu dài, con người đến nay dã chú trọng hưn vào
công tác khắc phục và xử lý ô nhiễm môi trương.
Trong số các loại ỏ nhiễm mỏi trườnii. chúng lôi quan tâm !ó'i van etc ô nhiễm
kim loại nặng trong môi trường đất. Có thế nói, môi trường đất là nơi tập trung
của hầu hết mọi loại chất thái, do dó ỏ nhiẻm mỏi trường đất có nét ricng biệt
hơn so với các ô nhiễm môi trường khác. Đến nay con người đã có những công
nghệ tiên tiến trong việc khắc phục và xử lý ỏ nhiễm môi Irường nước và không
khí, trong khi đó việc xử lý ô nhiễm môi trườn<Ị đâl trcn thế giới lương dối hạn
chế do tính phức lạp của loại môi trường này. Tạ; Việt Nam cũng dã xuất hiện
một số công nghệ xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong mỏi trường đất, tuy nhiên,
các cồng nghệ này chủ yếu là áp dụng biện pháp sinlì học và kết quá vần còn rất
hạn chế. Trên thế giới, một số nghiên cứu tập trung vao công nghệ áp dụng biện
pháp hoá học để xử lý ô nhiễm kim loại nặng và đã cỏ những kết qua nhất định.
Trong phần nghiên cứu này, sẽ thử nghiệm và đồ xiial phưưng pháp xử lý ỏ
nhiễm kim loại nặng cụ thế là ô nhiễm kim loại chì (P t) trong dái băng việc áp
dụng biện pháp hoá học.
2
CHƯƠNG 1. MỘT SỔ NGHIÊN cứu VỂ Pb
TRÊN THÊ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1. NHỮNG NGHIÊN cứu ở MỸ
1.1. Chì trong đất và bụi
Phần lớn chì (Pb) được phát hiện thấy trong đất va hụi bát nguồn từ sưn, khí thái
của các loại xe chạy bàng động cư và phế thái từ các nguồn công imhiệp. Hàm
lượng chì tìm thấy trong một số khu vực ứ nông thôn là rất thấp, trong một số
khu vực thành thị mức chì trcn 1000 ng.g'1. Tuy nhiên, Cư quan đăng kiêm vé
bệnh tật và độc chất (ATSDR) cho rằng không có những cách thức chuẩn trong
việc thu thập mẫu, do đó rất khó khăn cho việc lổng quát hoá các kết quá dã
được công bố cho tới nay. Đến năm 1988 thì ATSDR dã có kết luận, tuy nhiên
ATSDR dã đánh giá rằng năm 1983 irong tổng số 21 triệu trc em ớ Mỹ dưới 6
tuổi có 13% tương đương với 2,73 triệu trẻ em dã sõng trong những căn hộ cỏ sừ
dụng nước bị nhiễm chì.
EPA đã đánh giá rằng nãm 1986 xấp xí 62 triệu người Mỹ đã tiếp nhận nguồn
nước có tính axit, trong đó có 1
ỉ %
hoặc tương đương 6,8 triệu Ire cm
ờ
độ tuổi
dưới 7. ATSDR cũng cùng quan điểm với EPÀ rằng, nếu một đứa lie sử dụng
nguồn nước có nồng độ Pb lớn hưn 20
ịàịị/L
lliì nóng độ chì trong máu sẽ bị tăng
cao. Có tới 42 triộu người đã được xác là dã sứ dụng nguồn nước uống cỏ hàm
lượng chì trên 20 I-Ig/L.
Năm 1993, EPA dã tập hợp được các kél quá đôi với vòng hai của các hệ thòng
quan trắc lớn và vòng một đối với các hệ thống quan iruc trung bình. Hàm lượng
Pb cao nhất đã được phát hiện là 484 |ig/L, cao hơn 32 lần so với tiêu chuẩn của
EPA đề ra là 15 |ig/L được phát hiện tháy ớ Bác Carolina.
2. NHỮNG NGHIÊN cứ u TẠI ANH
2.1. Chì trong nước uổng
Một nghiên cứu vào năm 1980, dã phái hiện Ihây từ 15 - 20% cúc máu nước thu
thập từ những ngồi nhà xây dựng trước năm 1944 có hàm lưựng Pb trên 50 |ig/L,
trong khi đó chỉ có khoang
5%
thuộc VC những ngôi nhà xây dựng sau khi chiến
tranh Thế giới lẩn thứ hai kết thúc. Năm 1982, Trung Tâm Nghiên Cứu Nước
(WRC) Berkshire đã báo cáo tới chính phú Anh ve vân đe chì Irong nước uống
không chỉ đối với Anh mù còn ứ một sỏ nước khác iươnị: đôi nghiêm Irọng.
Vào giữa những năm 70, có khoang 29% hộ gia ớ Scotland có nước chảy ra ban
nước ở Scottish có hàm lưựng chì trên 10 |ig/L, tuy v ậ ứ Anh và xứ Wales tưưng
ứng với con sô dưới 1%. Một nghiên cứu ớ Bắc Ireland dược tiến hành trong giai
đoạn cuối những năm 70 cho thây, có 3% các mău nuxV có hàm lượng chì trên
50 Hg/L và 1
%
là trcn 100 Í-Ig/L.
Trong nửa giai đoạn đầu những năm so, những kháo sát du (hây hàm lưựng chì
trong nước được Cling cập tới xáp xỉ 5 triệu dàn Irong 130 vùn ’ có hàm lượng chì
trên 50 |J.g/L. Có khoáng 75% trong lổng số 2500 mẫu thu I"lập ớ Blackburn
trong 10 năm cho tới năm 1989 có hàm lượng chì Irên 50 |ig/L, Vi. trên 30% mau
có hàm lượng chì liên 500 ỊLig/L.
2.2. Chì trong đất và bụi
Nghiên cứu toàn diện nhất vé chì trong dát và bụi ớ Anh được uý nhiệm Kíi Cục
Môi Trường. Các kết quá thu được dã xuất bán chi tiết vào năm 1990, các mẫu
được thu thập từ tháng 11 năm 1981 đến tháng 6 năm 1982. Các mầu đất và hụi
đã được thu thập từ 53 vùng
ở
Anh, Scotland va Wales bao gổm 7 khu vựi Ư
Luân Đôn, những điểm nóng như những làng cổ ứ Derbyshire cỏ sự khai thác
mỏ, và một vài vùng nông ihôn. Có khoáng 4600 mẫu bụi và 4100 mảu đát đã
tlưực phàn lích.
5
Báng 1.3. Hàm lượng
Pb trong các vùng kháo sát
Loại mâu
Toàn bộ các vùng
nghiên cứu không
loại trừ các điêm
nóng
Các khu
Dao động (ụg/g)
11 - 6860 93 - 6860
1190 - 13400
53 - 21700
3. Đất vườn
Sô mẫu
4126
578 89
433
Trung binh (/.ig/g)
266
654
5610 493
Dao động (ug/g)
13- 14100 66 - 13700
1180 - 22100
49 - 8340
Nguồn: J.Erick Millstone. 1997.
Bảng 1.4. Mức chì trong bụi và trong đất ớ Anh năm 1982
Sự đánh giá tỷ lệ trc cm dưới 6 luòi vói các mức chì trong
111 á 11
Địa diêm Bụi nhà
(fig/g)
Đất
Otg/g)
% trẻ em với
% trẻ em với
mức Pb
mức Pb trong
trong máu > máu > 25
241
131 8,3 < 0,05
xây từ năm 1960 -
1986
Nguồn: J.Brick Millstone, 1997.
3. MỘT SỐ NGHIÊN c ử u VỀ CHỈ TRONG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ở VIỆT NAM
Việl Nam lù mộl nước nồng nghiệp (khoáng 81K/Í dan sỏ sóng dựa vào nòng
nghiệp), nên đất canh tác có vai trò hốt sức quan trọng dối với nền kinh tế. Vấn
đổ ô nhiễm môi trường dát
111
lììộl lliach thức rãi lớn, Irong sỏ đó phái ké đen ó
nhiễm kim loại nặng mà điên hình là ỏ nhiỏm chì. Tuy nhiên, ỏ nhiem chì chí
6
xảy ra mang tính cục bộ tại các khu vực tái chế chì và sứ dụng chì làm nguyên
liệu sản xuất.
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khang (2001), hàm lượng chì Irong đát nông
nghiệp tại khu vực tái chế chì ở thông Đỏng Mai - huyện Mỹ Vun - tinh Hưng
Yên như sau: 14,29% số mãu đất có hàm lưựng chì từ 100 - 200 ppm; 9,259í sô
mẫu đất có hàm lượng chì từ 200 - 300 ppm; 18,05% sô mau đất có hàm lượng
chì từ 300 - 400 ppm; 9,52% số mẫu đất có hàm lượng chì từ 400 - 500 ppm;
9,52% số mẫu đất có hàm lượng chì lừ 500 - 600 ppm; 18,05% sỏ mảu đãt có
hàm lượng chì từ 600 - 700 ppm; 9,52% sổ mầu đất có hàm lượng chì từ 700 -
800 ppm; 4,76% số mẫu đài có hàm luọng chì lừ 900 - 1000 ppm và 4,76% sô
mầu đất có hàin lượng chì lớn hơn 1000 ppm (Irong tổng sô 21 mảu đất phán
tích). Như vậy, 100% số mẫu phân tích có liàin lượng chì vượt quá tiêu chuẩn
cho phép (TCCP là 100 ppm).
Cũng theo nghicn cứu của Phạm Văn Khang (2001), hàm lượng chì Irong đất
nông nghiệp của 16 mẫu đất được phán tích tại khu vực khu công nghiệp Hancl -
Sài Đổng dao động từ 15,69 - 38,76 ppm. Hàm lượm’ chì Irong 16 mẫu đất tại
khu vực này đcu nàm trong giới hạn licu ehuán cho p[u p.
tràn từ các khu vực khác nhau ở dô thị nhu chỗ đỗ xe là 30 - 130 I-Ig/L; kho bãi là
30 - 330 Hg/L; đường phô là 30 - 150 Ị.IỈ-7L và chỗ sửa xc là 75 - I 10 I-Ig/L (Pitt
& Baron, 1989).
Các hoạt động khai IT
1
Ỏ cũng thai ra mội liMiig lớn các kim loại nặng như Pb vào
dòng nước góp phần gây ô nhiễm đất. Sự rò rí chất thái ứ Táy úc dã làm gia lãng
hàm lưựng Pb Irong nước gần nguồn phát lluii lên lới 100 Í-Ig/L. Hàm lượng Pb
trong trầm tích lớn hơn 9.600
1
-ig/g. Theo Nriagu (1979), lượng phát thai Pb từ
hoạt động khai thác mỏ trước năm 1850 là 55 10' tấn; từ năm 1850 - 1900 là 25.
103 tấn; từ năm 1900 - 1940 là 51. 101 tân; năm 1950 là 1670. 103 tấn; năm 1960
là 2387. 103 tấn; năm 1970 là 3395. 10’ tán và năm 1980 là 3096. 1Q- tấn
(Nriagu, 1979 ; Nriagu & Pacyna, 1987).
4.2. Các dạng tồn tại
Theo các nhà khoa học Mỹ, chì tồn lai trong dãi dược chia thành 10 dạng bao
gồm: hoà tan trong nước, trao dổi, có khá nang bị thay thè bời bạc, cacbonal,
dạng dễ khử, phức với hữu cơ, kết hợp với oxit Fe ứ dạng vô định hình, kết hợp
với oxit Fc
ử
dạng tinh the, dạng sunlit và các dạng còn lại.
Dạng không tan của chì bao gồm Pb(OH)-,, PbCO,, PbS, PbS04, PbO, Pb,(P04):,
Pb40(P 0 4)2, Pb?(P04),0H. Chì tổn tại trong mõi trường axil hoặc mỏi Irường cỏ
chứa các ion C l, CO-1. S042 với nồng độ ihấp. Các dạng chì gây ỏ nhicm do
8
hoạt động nhân tạo có thể là PbCIBr, PbS04, PbS, PbCOị (trong công nghiệp
khai khoáng); PBCO3, Pb(OH)2, PbCr04 (trong công nghiệp sơn). Chì là kim loại
ít di động trong số các nguyên tỏ kim loại nặng. Chì ớ dạng di dộng trong dát là
Pb2+, dạng này thường bị hấp phụ bới khoánii SCI, các oxit Fe và Mn, tạo phức
10
Sự phát triển trí tuệ
< 10
Nguồn: J.Hrick Millstone, 1997.
Bảng 1.6. Một sô quá trình sinh hoá ứ thực vật bị anh hướng bới chì
Quá trình Nguyên tô
Thay đổi tính thấm của màng tế bào
Pb
Kìm hãm sinh tổng hợp Protein
Pb
ức chế một số enzym
Pb
ảnh hưởng đến quá trình hô hấp
Pb
ảnh hưởng đến quá trình quang hợp
Pb
ảnh hưỏng đến quá trình mở lỗ khí
Pb
ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước
Pb
Nguồn: Jack E. Fergusson, 1991.
10
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
Nghiên cứu tập trung vào đối iưựng là đất lự nhiên dùng cho canh tác nòng
nghiệp. Các mẫu đất được thu thập tại những khu vực có hiếu hiện của sự ỏ
nhiễm chì, đó là các mẫu đất thu thập tại khu vực túi chế chì thuộc thòng Đỏng
Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yen.
Việc thực hiện thí nghiệm sẽ được tiến hành đối với các mẫu dât cỏ hùm lượng
chì lớn hơn 100 ppm và nhỏ hơn 1000 ppm.
2. HIỆU QUẢ RỬA CHÌ BẰNG VIỆC sử DỤNG AXIT HCI (pH = 1)
Việc xử lý ô nhiễm chì bàng dung die.ì HCl (pH = l) được tiến hành vứi
các khoảng thời gian tương ứng là 6 giờ; 12
5
ŨỪ; 18 giờ và 24 giò' với tỷ lệ 1/20
(khối lượng/thể tích). Kết quá nghicn cứu cluov trình bày trong bang 3.2 và hình
1.
Bảng 3.2. Kết qua tách chì khỏi đát bâiiụ .lung dịch 1IC1 (pH = 1)
Thời gian
6 h 12 h 18 h
24 h
% bị tách ra
80 (640) 85 (680) 90 (720)
90 (720)
(Ghi chú: sỏ liệu trong ngoạc là hàm lượng ppin urơiiL’ ‘lương với giá irị '< )
Sau 6 giờ tương tác thì hàm lưựng chì tn ụ đất đã được tách ra là 80% so
với lượng chì tổng số, tương ứng với 12 íỉiờ là <s ; 18 giờ là 90% và 24 giờ là
90%. Như vậy, đốn khoảng thời gian từ 18 giờ đen
14
giờ lliì hàm lượng chì được
tách ra khỏi đất đã ử mức ổn định là
90%
so với kỉựng chì tổng số có trong đất.
Trong giai đoạn dấu hàm lượng chì được tách ra lang rất nhanh, đạt tới 80% chí
sau 6 giờ.
12
ũ 6 12 18 24
Thui giun Lie limit;, h
Hình 1. Quá trinh tách chi khui (lai bang (id HCl (pll = I )
Bên cạnh việc tách chì ra khỏi đát, nghiên cứu cũng đã tiến hành tính toán việc
80
^ 70
“ 60
1 50
^ 40
£ 30
- 20
10
0 "
0
13
3. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC XỬ LÝ Ô NHIỄM c h ỉ b ằ n g d u ng dịch EDTA 0,01M
Khác với việc sử dụng dung dịch axil HC1 (pH = 1), việc sử dụng dung dịch
EDTA là m ột dung dịch gần như không có tính axit, chính vì vậy mà việc làm
mất các nguyên tố dinh dưỡng khác sẽ có phần được hạn chế. EDTA có khá
năng tạo phức rất mạnh với. nhiều nguyên lố kim loại dưới dạng phức bền. Vì
vậy, đất có thể không bị phá vỡ nhiều về các đặc tính lý cũng như hoá học.
Nghiên cứu được thực hiện cũng giống như quy trình thực hiện khi sử dụng dung
dịch axit HC1 (pH = 1).
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.4.
Bảng 3.4. Két quả tách chì khỏi đất băng dung (lịch EDTA 0,01 M
Thời gian
6 h
12 h
18 h 24 h
% bị tách ra 30 (240) 35 (280)
37 (296) 37 (296)
(Ghi chú: số liệu trong ngoạc là hàm lượng ppm tuưng đương với giá trị
°/()
Kết quả ở trên đã chỉ ra ràng việc dùng dung dịch EDTA 0,01 M là chất tách
hiệu quả cao, nhưng việc mất đi cúc nguyên tò dinh dưỡng cũng khá cao. Ngược
lại, việc dùng dung dịch EDTA 0,0IM thì việc lách chì cỏ phán bị hạn chế, son':
việc mất đi các nguyên tố dinh dưỡng lại giám đáng ke.
4. HIỆU QUẢ XỬ LÝ Ô NHIỄM CHỈ BẰNG DUNG DỊCH AXIT HCI (pH = 3)
Việc sử dụng dung dịch HC1 (pH = 3 >, đây là một dung dịch axil, luy nhiên, mức
độ axit của dung dịch này Ihấp hưn nliieu so với dung dịch axil HCI (pH - 1) dã
sử dụng ở trên. Quy trình tiến hành cũng lương lự như hai quy trình xử lý trên.
Kết quả được thể hiện trong báng 3.6 dưới dây.
Bảng 3.6. Kết quá tách chì klioi đất bảng dung dịch HCI (pH = 3)
Thời gian
6 h 12 h 18 h 24 h
% bị tách ra
45 (360) 48(384) 51 (408) 51 (408)
(Ghi chú: sô liệu trong ngoạc là hàm lượng P I 111 ttrưng đưưng với giá trị
c,c)
Cũng giống như hai quá trình xử lý trcn, hàm lượng chì được tách ra khỏi đất
tăng mạnh trong khoảng thời gian đầu (ít giờ) và đạt đến độ ổn định trong
khoảng thời gian từ 18 - 24 giờ. Mức đạt dược nếu so sánh với việc sử dụng dung
dịch HC1 (pH =1) chỉ bằng 57%.
15
40
30
20
1 0
0
1 8
-C a
M g
24
Tiu'ũ u la 11 lưiin i.
£.
20
5
ũ
10
0
— Mg
D Ca
0 6 12 18 24
111
ới gun lining uic, li
Hình 6. Ca và Mg bị lách khỏi đái bới (Jd HC1 (pH = 3)
Hàm lượng hai nguyên tô Ca và Mg bị mất đi khi so sánh với việc sử dụng (Jung
dịch axit HC1 (pH = 1) chỉ bằng 55% và 57% tương ứng. Nếu so sánh với vviệc
sử dụng dung dịch EDTA 0,0IM thì lượng Ca và Mg bị mất di bàng 180% và
186% tương ứng.
Hiệu quả so sánh về việc xử lý chì của 3 dung dịch được thế hiện trong hình 7
dưới đây.
~~s— Lưựng Pb b| mái ell (pH = I )
o Lưọiig Pb bị mill (li (pH = 3)
A Lượng Pb bị mát (1| (HJTA
0.01 M)
Thời gian tương tác, h
Hình 7. Quá trình tách chì bằng dd các dung dịch khác nhau
Kết quả dược minh hoạ trên hình 7 cho thây, lượng chì bị tách ra khói đất giám dán
theo thứ tự sau: dung dịch HC1 (pH = I) > dung dịch HC1 (pH = 3) > dung dịch EDTA
(0,01M).
ĐAI h o c q u o c g ia h a n ô i
TRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIỀN
Õ Ũ T ĨÕ
pll = 3)
Thờ gianiuơng tác, h
6 12 18 24 a -y .
Hình 9. Quá trình mât Mg trong quá trình tách chì bởi các dd khác nhan
Kết quả được minh hoạ ở hình sô 8 và hình sỏ 9 cho thấy, lượng Ca và Mg bị mát đi
giảm dần theo thứ tự: dung dịch HCl (pH = 1) > dung dịch HC1 (pH = 3) > (Jung dịch
EDTA (0.0IM).
18
KẾT LUẬN
Việc sử dụng 3 loại dung dịch trên đế tách chì ra khỏi đát đã dem lại nhưng kếi
CỊuả nhất định, trong đó đặc biệt phái kc đến việc sử dụng dung dịch HC1 (pH —
1). Trong 3 dung dịch trên thì đung dịch HC1 (pH = 1) đã mang lại hiệu quá xử
lý cao hơn cả, tuy nhicn việc làm mấl đi các nguyên tố dinh dưỡng khác như Ca
và Mg cũng rất đáng kể, đây là điêu tất yêu không thê tránh khỏi Irong quá trình
xử lý.
Hai dung dịch là HC1 (pH = 3) và dung dịch EDTA 0,01 M cho hiệu quá xử lý
thấp hơn so với dung dịch HC1 (pH = I). Đicu này là lất yếu, bởi vì dung dịch
HC1 (pH = 1) có độ axil mạnh hơn hai dung dịch kia. Ngược lại việc sứ dụng hai
dung dịch HC1 (pH = 3) và EDTA 0,0IM cho hiệu quá xứ lý thấp hơn nhưng
việc làm mất các nguycn tố dinh dưỡng như Ca và Mg lại thấp hơn so với việc sử
dụng dung dịch HC1 (pH = 1).
Việc sử dụng dung dịch HC1 (pH = 1) nên áp dụng cho những loại đâl bị coi là ỏ
nhiễm trầm trọng, còn việc sử dụng hai dung dịch HC1 (pH = 3) và EDTA 0,01 M
thì nên áp dụng cho các loại đất bị coi là ồ nhicm nhẹ và trung bình.
Kết quả nghiên cứu này dã phán ánh một kết quá tương đỏng với những nghiên
cứu tương tự của một số nước trên thê giới như M ỹ và Anh. Tuy nhiên việc áp
dụng tại Việt Nam sẽ cần phai được cân nhắc trước khi tiên hành, nguyên nhân ớ
đây là giá thành chi phí cho việc xử lý sẽ tương dối cao.
19