Nghiên cứu tạo kháng thể kháng Streptococcus iniae gây bệnh ở cá chẽm bằng công nghệ tạo kháng thể IgY ở gà - Pdf 25

i

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
o0o

TRẦN THỊ CẨM TIÊN
NGHIÊN CỨU TẠO KHÁNG THỂ KHÁNG Streptococcus iniae
GÂY BỆNH Ở CÁ CHẼM BẰNG CÔNG NGHỆ
TẠO KHÁNG THỂ IgY Ở GÀ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ SINH HỌC
GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ KIM CÚC


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH viiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Kháng thể lòng đỏ trứng gà (IgY) 3
1.1.1. Lịch sử phát triển 3
1.1.2. Tổng quan về trứng gà 4
1.1.3. So sánh IgY (kháng thể lòng đỏ trứng gà) và IgG (kháng thể động vật hữu nhũ) 6
1.1.3.1. So sánh cấu trúc của IgY và IgG 6
1.1.3.2. Ưu và nhược điểm của việc sản xuất IgY so với IgG 6
1.1.4. Tính chất của IgY 8
1.2. Tổng quan về đáp ứng miễn dịch ở gà 9
1.2.1. Nguyên lý tạo kháng thể lòng đỏ trứng 9
1.2.2. Các tế bào và cơ quan tham gia vào hệ thống miễn dịch 10
1.2.2.1. Các tế bào tham gia vào hệ thống miễn dịch 10
1.2.2.2. Các cơ quan tham gia vào hệ thống miễn dịch 11
1.2.3. Các giai đoạn của đáp ứng miễn dịch 11
1.2.4. Các tính chất của đáp ứng miễn dịch 13
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo miễn dịch ở gà 14
1.2.5.1. Kháng nguyên 14
1.2.5.2. Liều lượng tiêm 15
iii

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên

2.4.3. Phương pháp SDS - PAGE 30
2.4.4. Phương pháp tách chiết và tinh sạch IgY từ lòng đỏ trứng gà 35
2.4.4.1. Tách chiết và tinh sạch theo phương pháp Polson 35
2.4.4.2. Tách chiết và tinh sạch IgY theo phương pháp Polson có hiệu chỉnh 37
2.4.4.3. Tách chiết và tinh sạch IgY theo phương pháp acid hóa 38
2.4.5. Phương pháp xác định hiệu giá ngưng kết (agglutination) vi khuẩn
Streptococcus iniae với IgY tinh sạch 38
2.4.6. Phương pháp ELISA 39
2.4.7. Phương pháp Dot Blot 40
2.4.8. Phương pháp xác định khả năng ức chế Streptococcus iniae của IgY tinh
sạch 42
2.4.9. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1. Kết quả nồng độ IgY qua các tuần với các liều kháng nguyên khác nhau 44
3.2. Kết quả tách chiết và tinh sạch IgY 47
3.2.1. Hàm lượng protein (IgY) của các phương pháp tinh sạch 48
3.2.2. Kết quả SDS-PAGE 48
3.3. Một số đặc điểm của IgY kháng Streptococcus iniae 51
3.3.1. Kết quả SDS-PAGE xác định khối lượng phân tử của IgY 51
3.3.2. Tính đặc hiệu và hiệu giá ngưng kết vi khuẩn của IgY trong dịch kháng thể
tinh sạch từ lòng đỏ trứng 53
3.3.2.1. Kết quả ngưng kết vi khuẩn Streptococcus iniae của IgY tinh sạch 53
3.3.2.2. Kết quả ELISA 54
3.3.2.3. Kết quả Dot Blot 55
3.4. Kết quả xác định khả năng ức chế Streptococcus iniae của IgY tinh sạch 56
v

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
4.1. Kết luận 58

TEMED N,N,N,N’– Tetramethylethylenediamine
vii

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Các thành phần chính trong quả trứng, vỏ ngoài, lòng trắng và lòng đỏ 4
Bảng 1.2. Các thành phần protein và lipid trong lòng đỏ trứng gà 5
Bảng 1.3. So sánh hiệu suất thu nhận kháng thể đa dòng của thỏ và gà (trong suốt giai
đoạn hai tuần theo sau lần miễn dịch thứ hai) 7
Bảng 1.4. Qui trình đề nghị liên quan đến miễn dịch trên gà 16
Bảng 1.5. Thành phần lipid và protein trong dịch nổi khi sử dụng các loại gum khác
nhau 20
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây tạo miễn dịch trên gà mái ở 2 lần tiêm đầu 28
Bảng 2.2. Nồng độ dung dịch BSA dựng đường chuẩn 30
Bảng 2.3. Thành phần và các dung dịch điện di protein 34
Bảng 3.1. Nồng độ IgY tinh sạch từ lòng đỏ trứng gà qua các tuần sau khi gây miễn
dịch 44
Bảng 3.2. Bảng ANOVA kiểm định kết quả đáp ứng miễn dịch giữa các nhóm miễn
dịch (T
1,
T
2,
T
3
) và nhóm đối chứng (X) 46
Bảng 3.3. Bảng ANOVA kiểm định ảnh hưởng của các liều kháng nguyên khác nhau
đến sự đáp ứng miễn dịch trên gà 47
Bảng 3.4. Hàm lượng protein (IgY) của 3 phương pháp tinh sạch 48

defined.
Hình 3.4. Kết quả ELISA ở các nồng độ pha loãng IgY 54
Hình 3.5. Đường cong ức chế sinh trưởng của S. iniae 57

1

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị chống nhiễm
trùng cho con người, động vật đã gây ra một vấn nạn đáng lo ngại, đó chính là sự
kháng kháng sinh của nhiều vi khuẩn có hại như: Streptococcus pneumoniea,
Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumanii, Pseudomonas aeruginosa, Neisseria
gonorrhoeae [38]. Điều này thúc đẩy các nhà khoa học phải tìm ra phương pháp mới
vừa tiêu diệt được vi khuẩn gây hại mà không gây ra tình trạng xuất hiện các vi khuẩn
kháng lại kháng sinh. Phương pháp dùng kháng thể ra đời đã mở ra cuộc cách mạng
mới trong điều trị bệnh cho người và động vât. Sản xuất kháng thể theo cách truyền
thống lấy từ huyết thanh của động vật hữu nhũ (thỏ, cừu, dê , ngựa ) đã gặp những
cản trở lớn: gây đau đớn cho động vật, tốn kém trong việc chăm sóc, tinh sạch kháng
thể và lượng kháng thể thu được không đáng kể, nên chỉ dùng trong điều trị cho người,
gây khó khăn trong công tác điều trị cho các loại động vật. Việc tìm ra cơ chế tạo
kháng thể lòng đỏ trứng từ gà đã giải quyết được khó khăn khi dùng động vật hữu nhũ
vì kháng thể trứng gà có thể thu nhận dễ dàng dựa trên việc thu nhận trứng, ngoài ra
sản xuất IgY có nhiều thuận lợi do chi phí nuôi gà thấp, chăm sóc dễ dàng và năng xuất
sản sinh kháng thể cao.
Việc ứng dụng công nghệ tạo kháng thể IgY trong điều trị và chẩn đoán bệnh
trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đối tượng chúng tôi chọn
làm kháng nguyên là vi khuẩn Streptococcus iniae gây bệnh trên cá chẽm - một loài cá
có giá trị kinh tế cao đang được đưa vào nuôi trồng trong thời gian gần đây. Cá chẽm là
loài giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu thị trường ngày càng mở rộng và là loài phân bố
rộng, dễ nuôi nên được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ,

3

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Kháng thể lòng đỏ trứng gà (IgY)
1.1.1. Lịch sử phát triển
Năm 1893, Klemperer lần đầu tiên chứng minh rằng việc tiêm một kháng
nguyên vào gà mái dẫn đến việc chuyển giao các kháng thể đặc hiệu tương ứng từ
huyết thanh vào lòng đỏ trứng. Trong hơn một trăm năm không có ứng dụng khoa học
cho kiến thức này. Nhưng khi vấn đề đạo đức khoa học được coi trọng thì kết quả của
Klemperer đã thu hút sự chú ý lớn, đặc biệt là từ những năm 1980. Sản xuất kháng thể
từ lòng đỏ trứng tỏ ra ưu thế hơn so với phương pháp lấy huyết thanh lúc bấy giờ vì
hạn chế đau đớn cho động vật thí nghiệm, lượng kháng thể thu được cao từ đó giảm số
lượng động vật thí nghiệm [28], [29].
Từ năm 1980, kháng thể lòng đỏ trứng (IgY) đã được ứng dụng rộng rãi theo sự
xuất hiện các dạng thương mại như kit tinh sạch IgY, các loại kháng thể thứ cấp kháng
lại IgY gắn kết với các enzyme như alkaline phosphatase, peroxidase… Để mô tả việc
sản xuất, ứng dụng IgY thuật ngữ kỹ thuật IgY ra đời và đã được chấp nhận trên toàn
cầu vào năm 1996. Cũng cùng năm đó, Trung tâm Phê chuẩn Các phương pháp thay
thế ở Châu Âu (European Centre for the Validation Alternative methods - ECVAM) đã
khuyến khích việc sử dụng IgY thay thế cho IgG trong động vật hữu nhũ, để nhằm làm
giảm bớt đau đớn gây ra bởi việc thu nhận kháng thể ở huyết thanh. Đồng thời
ECVAM cũng đưa ra nhiều thông tin về chăm sóc gà đẻ, gây tạo miễn dịch, sử dụng tá
dược và các phương pháp tinh sạch IgY. Năm 1999 cơ quan thú y của chính phủ Thụy
Sĩ đã chấp nhận kỹ thuật IgY như là một phương pháp thay thể để bảo về động vật tốt
hơn [28].
Ngày nay kháng thể IgY từ lòng đỏ trứng đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực như phát hiện và điều trị bệnh. IgY có thể ứng dụng trong các phương pháp
miễn dịch kiểm nghiệm, mà theo truyền thống thường sử dụng với kháng thể động vật
hữu nhũ, đặc biệt là phương pháp miễn dịch huỳnh quang, miễn dịch enzyme, Western

(60-63%)
Lòng đỏ
(28-19%)
66,1

1,6

87,6

48,7
12,8 - 13,4

6,2 - 6,4

9,7 - 10,6

15,7 - 16,6
10,5 - 11,8

0,03

0,03

31,8 - 35,5
0,3 - 1,0

Dạng vết

0,4 - 0,9


T
ỉ lệ %

Protein
Apovitellenin I
-
VI

Lipovitellin apoprotein
α-Lipovitellin
β-Lipovitellin
Livetins
α-Livetin (albumin lòng trắng)
β-Livetin (α-2-glycoprotein)
γ-Livetin (γ-globulin)
Phosvitin
Biotin gắn với protein
37,
326,7
13,3

2,7
4,0
2,7
13,3
Dạng vết
Lipid

làm giới hạn sự linh động. IgY có điểm đẳng điện là 5,7 - 7,6 thấp hơn IgG và có tính
kị nước hơn IgG [23].

Hình 1.2. Mô hình đơn giản cấu trúc của kháng thể động vật hữu nhũ (IgG) của
thỏ so với kháng thể lòng đỏ trứng gà (IgY) [23]
1.1.3.2. Ưu và nhược điểm của việc sản xuất IgY so với IgG
a. Ưu điểm
Việc sử dụng phương pháp sản suất kháng thể IgY từ lòng đỏ trứng gà thay cho
phương pháp lấy huyết thanh truyền thống từ động vật hữu nhũ góp phần đáng kể trong
7

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
việc giảm đau đớn cho động vật thí nghiệm vì lấy huyết thanh thường gây đau đớn, ảnh
hưởng đến sức khỏe động vật thí nghiệm và vi phạm vấn đề đạo đức. Thay vì lấy máu
định kì theo phương pháp lấy huyết thanh truyền thống thì chỉ cần thu trứng hàng ngày
sau khi gây tạo miễn dịch. Bên cạnh đó gà có phổ phát sinh thấp hơn động vật hữu nhũ
nên mức độ nhạy cảm thần kinh thấp hơn, do đó giảm đau đớn khi tiêm kháng nguyên
tạo miễn dịch.
Sản xuất kháng thể từ lòng đỏ trứng còn làm giảm đáng kể số lượng động vật thí
nghiệm vì gà sản xuất ra lượng IgY cao hơn nhiều so với IgG của động vật hữu nhũ
cùng kích thước [20]. Gà đẻ trứng có thể cho gần 250 - 300 trứng một năm và có thể
thu nhận 17 – 35 g IgY tinh sạch từ lòng đỏ của những trứng này. Ngược lại, phương
pháp thu nhận huyết thanh thu được huyết thanh miễn dịch 40 – 50 ml/con thỏ nên chỉ
có khoảng 1400 mg của IgG tinh sạch thu nhận được. Ngoài ra chi phí cho việc nuôi gà
mái sản xuất IgY thấp hơn so với động vật hữu nhũ. Vì vậy, IgY là phương pháp miễn
dịch có hiệu quả kinh tế cho sản xuất qui mô lớn cho kháng thể đặc hiệu khi so với
phương pháp miễn dịch động vật truyền thống [13], [24], [28], [37].
Bảng 1.3. So sánh hiệu suất thu nhận kháng thể đa dòng của thỏ và gà (trong suốt
giai đoạn hai tuần theo sau lần miễn dịch thứ hai) [23]
Đ


Thu nhận trứng hàng ngày
14 trứng = 210 ml lòng đỏ
1120 mg
2 - 10% (22,4 - 112 mg)
1
1
Không

8

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
Protein của động vật có vú có tính bảo tồn cao thỉnh thoảng lại không đáp ứng
miễn dịch trong thỏ nhưng kháng thể kháng lại những protein này lại thường thành
công trong hệ thống miễn dịch của gà [30].
IgY không gắn kết với protein A và G, không ràng buộc bổ sung cho động vật
có vú, không xuất hiện để phản ứng chéo với globulin miễn dịch động vật có vú, do đó
làm giảm nguy cơ cho kết quả dương tính giả. Đồng thời không kết gắn với protein A
và G, không có phản ứng chéo đối với những nhân tố gây bệnh thấp khớp [20], [28].
b. Nhược điểm
Bên cạch các ưu điểm vượt trội so với IgG thì IgY cũng còn những mặt hạn chế sau:
 IgY không có khả năng trong việc kết dính với protein A và G, mà những
protein này thường sử dụng trong việc phân lập IgY. Tuy nhiên, hiện nay đã có các
nghiên cứu cho phép tách chiết IgY đơn giản. Bên cạnh đó, nghiên cứu “protein
A/protein G” nhằm cho quá trình phân lập IgY đã được tiến hành [32].
 IgY là có khả năng kết tủa kháng nguyên thấp hơn IgG. Đôi lúc kết tủa có thể
tốt hơn bằng cách tăng nồng độ muối trong dung dịch đệm, nhưng khả năng kết tủa
kháng nguyên thấp của IgY vẫn còn là sự thiếu sót có thể ngăn cản việc sử dụng của
của nó trong chuẩn đoán bệnh [32].
 Ngoài ra còn có một số nguyên nhân phụ như: ít sử dụng gà là động vật thí

sang thông qua giai đoạn sớm của trứng. Do đó, gà mới nở được bảo vệ bởi cơ chế
miễn dịch thụ động cho đến khi hệ thống miễn dịch của chính chúng phát triển một
cách đầy đủ [28].
Kháng thể ở gà gồm có ba loại: IgA, IgM và IgY. Khi trứng gà vẫn còn trong
buồng trứng, gà mái tiến hành chuyển kháng thể vào trứng theo cơ chế sau: IgA và
IgM (nồng độ khoảng 0,15 và 0,7 mg/mL) được tiết ra cùng với những protein khác là
thành phần của lòng trắng trứng gà tại vòi trứng. Trong khi đó, IgY trong huyết thanh ở
nồng độ khoảng 25 mg/mL được chuyển một cách đặc hiệu sang màng lòng đỏ vào
trong lòng đỏ trong suốt quá trình phát triển. Vì receptor đặc hiệu cho việc chuyển IgY
xuất hiện trên bề mặt của màng lòng đỏ. Ở gà con mới nở, IgY được tìm thấy trong
máu, còn IgA và IgM trong đường tiêu hóa [24], [33].
Dựa trên nguyên lý này, muốn thu kháng thể đặc hiệu thì tiến hành gây miễn
dịch trên gà mái. Sau khi bị tiêm kháng nguyên thì gà mái sẽ tự động tạo ra IgY đặc
hiệu cho kháng nguyên quan tâm. IgY đặc hiệu này sẽ được chuyển vào trong lòng đỏ
trứng gà. Tiến hành thu nhận lòng đỏ trứng của gà miễn dịch sẽ thu được kháng thể đặc
hiệu mong muốn.
10

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
1.2.2. Các tế bào và cơ quan tham gia vào hệ thống miễn dịch
1.2.2.1. Các tế bào tham gia vào hệ thống miễn dịch [2]
Các tế bào chính của hệ miễn dịch là tế bào lympho, tế bào trình diện kháng
nguyên, và tế bào hiệu quả. Tế bào lympho là những tế bào có khả năng nhận diện một
cách đặc hiệu kháng nguyên lạ và tạo phản ứng chống lại chúng. Do vậy, lympho bào là
tế bào trung gian của cả miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào. Có nhiều tiểu quần thể
tế bào lympho khác nhau về cả cách nhận diện kháng nguyên lẫn chức năng của chúng.
Tế bào lympho B là tế bào duy nhất có thể sản xuất kháng thể hòa tan. Chúng
nhận diện kháng nguyên ngoại bào (kể cả kháng nguyên trên bề mặt tế bào) và biệt hóa
thành tế bào tiết kháng thể, do đó chúng có tác dụng như tế bào trung gian của miễn
dịch thể dịch. Tế bào lympho T nhận diện kháng nguyên của vi sinh vật nội bào và có

nguyên). Sau đó là sự trở lại hằng định nội môi và duy trì tính nhớ miễn dịch.

Hình 1.4. Các giai đoạn của đáp ứng miễn dịch thu được [2]
12

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
a. Nhận diện kháng nguyên [2]
Thuyết clon lần đầu tiên được đưa ra bởi Niels Jerne vào năm 1955 và được
Macfarlane Burnet làm sáng tỏ vào năm 1957. Nội dung của thuyết chỉ ra rằng, mỗi cá
thể sở hữu một lượng tế bào lympho với rất nhiều clon khác nhau. Mỗi clon mang sẵn
những yếu tố để nhận diện và đáp ứng với một quyết định kháng nguyên nhất định. Khi
kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể nó tìm đến clon tương ứng và hoạt hóa nó.
Weill và Reynaud (1996) lại đưa ra cơ chế gene để giải thích cho sự đa dạng của
kháng thể. Theo giả thuyết này, động vật có vú hay gà không thể sản xuất ra kháng thể
đa dạng khổng lồ nếu mỗi phân tử kháng thể được mã hóa với những gene riêng biệt.
Thực tế chỉ ra rằng chỉ có một phần gene được dùng trong mã hóa kháng thể. Theo
Weill và Reynaud, có ba cơ chế cơ bản giải thích cho sự đa dạng này: sự sắp xếp lại
của gene, sự đổi chỗ gene và đột biến thể soma.
b. Hoạt hóa tế bào lympho
Sự hoạt hóa tế bào lympho đòi hỏi 2 tín hiệu khác nhau: tín hiệu thứ nhất là
kháng nguyên và tín hiệu thứ hai là các sản phẩm vi sinh vật hoặc là các thành phần
của đáp ứng miễn dịch bẩm sinh đối với vi sinh vật. Ý tưởng này được gọi là thuyết hai
tín hiệu đối với sự hoạt hóa lympho bào. Yêu cầu về kháng nguyên (tức tín hiệu 1)
nhằm đảm bảo tính đặc hiệu của đáp ứng miễn dịch. Còn yêu cầu về kích thích phụ do
sản phẩm vi khuẩn hoặc của đáp ứng bẩm sinh đối với vi sinh vật nhằm đảm bảo phản
ứng chỉ được tạo ra khi cần thiết (tức để chống vi sinh vật) chứ không chống lại các
chất vô hại bao gồm kháng nguyên bản thân.
c. Giai đoạn hiệu quả của đáp ứng miễn dịch: loại bỏ kháng nguyên
Trong suốt giai đoạn hiệu quả của đáp ứng miễn dịch, các lympho bào đã được
kháng nguyên hoạt hóa để tạo ra những chức năng hiệu quả để tiến đến việc loại bỏ

 Tính không tự phản ứng với bản thân: Ngăn ngừa các tổn thương đối với cơ thể
chủ trong suốt quá trình phản ứng với kháng nguyên lạ.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo miễn dịch ở gà
1.2.5.1. Kháng nguyên
Tất cả các chất sinh miễn dịch đều là kháng nguyên, song một số chất được coi
là kháng nguyên nhưng không gây đáp ứng miễn dịch. Ví dụ, hapten là các chất có
khối lượng phân tử thấp có thể gắn với kháng thể đặc hiệu nhưng bản thân nó không
kích thích tạo kháng thể. Hapten bao gồm các phân tử đường, axit amin, các polime
nhỏ và nhiều loại kháng sinh [3].
Điều kiện bắt buộc của một chất sinh miễn dịch phải có ba yếu tố sau đây [3]:
 Tính lạ: Chất được gọi là kháng nguyên trước hết phải là một chất lạ với cơ thể,
bởi vì bình thường cơ thể không đáp ứng bảo vệ với các chất của bản thân. Chất càng
lạ với cơ thể bao nhiêu, khả năng kích thích tạo kháng thể càng mạnh bấy nhiêu.
 Khối lượng phân tử lớn: Nhìn chung kháng nguyên có khối lượng phân tử lớn
hơn 10000 Da. Nếu < 1000 Da (penicilin, progesteron, aspirin…) thì không có tính
sinh miễn dịch. Từ 1000 đến 6000 Da (insulin) có thể có hoặc không có khả năng đáp
ứng miễn dịch.
 Cấu trúc phân tử phức tạp: Một chất có tính sinh miễn dịch phải là chất có cấu
trúc hóa – lí tương đối phức tạp. Các chất có cấu trúc càng phức tạp thì tính sinh miễn
dịch càng cao.
Kháng nguyên có thể hiện diện với hệ thống miễn dịch là phức hợp kháng
nguyên (ví dụ, vi khuẩn, virus và kí sinh vật) hay là kháng nguyên đơn giản (ví dụ,
protein hay polysaccharide). Protein được nhận diện là kháng nguyên hiệu quả bởi vì
15

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
cấu trúc và sự khác biệt xuất hiện giữa các loài và các cá thể. Peptide (khối lượng phân
tử thấp dưới 10 kDa) có thể được sử dụng là kháng nguyên, nhưng nó nên được kết
hợp với chất mang ví dụ Bovine Serum Albumin hay keyhole limpet haemocyanin theo
Schade (2005) và các cộng sự. Kháng nguyên polysaccharide cũng hiệu quả. Tuy


GVHD: Ths. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Trần Thị Cẩm Tiên
dưới chân cần tránh, vì chúng có thể dẫn đến việc đi khập khiểng [32]. Đối với gà
trưởng thành việc tiêm dưới da dễ tiến hành thường tiêm dưới da ở phần cánh, việc
tiêm dưới da cần tránh các mạch máu, vị trí tiêm cần có độ lan tốt, không nên bị ứ đọng
gây nên các u cục tại vị trí tiêm.
Gần đây, phương pháp miễn dịch bằng đường miệng cũng thu hút nhiều sự chú
ý. Mặc dù khả năng kích thích theo miễn dịch theo đường miệng là thấp hơn nhiều so
với phương pháp tiêm. Tuy nhiên, miễn dịch bằng đường miệng thường được xem là
bớt gây đau hơn cho động vật, và được xem là sự tiến bộ trong các phương thức miễn
dịch tạo kháng thể. Phương pháp này được thực hiện bằng cách đưa hỗn hợp kháng
nguyên và tá dược qua đường miệng và qua đường mũi họng [12].
1.2.5.4. Số lần tiêm và khoảng cách giữa các lần tiêm
Bảng 1.4. Qui trình đề nghị liên quan đến miễn dịch trên gà [32]

Đ
ề nghị

Tá dư
ợc (adjuvant)Lượng kháng nguyên
Vị trí tiêm

Thể tích tiêm
Tần số tiêm

Khoảng cách giữa thời gian tiêm
Độ tuổi của gà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status