Nghiên cứu chế tạo máy tự động cho cá ăn sử dụng pin mặt trời lập trình điều chỉnh đa định mức bằng thời gian quay trục vít cho lồng bè nuôi thủy sản tại Nha Trang - Pdf 25



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
ĐỒ ÁN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài:
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MÁY TỰ ĐỘNG CHO CÁ ĂN SỬ DỤNG
PIN MẶT TRỜI LẬP TRÌNH ĐIỀU CHỈNH ĐA ĐỊNH MỨC BẰNG
THỜI GIAN QUAY TRỤC VÍT CHO LỒNG BÈ NUÔI THỦY SẢN
TẠI NHA TRANG
Cán bộ hƣớng dẫn :
TS. TRẦN TIẾN PHỨC
Sinh viên thực hiện :
LÊ VĂN TƢ

Khóa 51 Khánh Hòa, 2013



LỜI CẢM ƠN
Việt Nam là một nƣớc có đƣờng bờ biển dài 3.260km, vấn đề nuôi trồng thủy sản
đang chiếm vị trí cao trong lĩnh vực vực nuôi trồng và khai thác thủy sản mà đặt biệt là
nuôi lồng ở các vùng ven biển. Theo số liệu thống kê của Hội Nghề Cá Khánh Hòa,
Nha Trang có khoảng 10.000 ô lồng bè nuôi thủy sản trên biển. Trong đó, lồng nuôi cá
biển chiếm gần 80%.
Do vị trí địa lý của những lồng bè nuôi thuỷ sản trên biển nằm cách xa đất liền nên
việc đƣa nhân công ra phục vụ và máy móc cơ giới hóa gặp nhiều khó khăn, tốn kém.
Vì vậy, để nuôi trồng thủy sản biển ở nƣớc ta ngày càng phát triển hơn nữa trong
tƣơng lai. Việc nghiên cứu chế tạo máy cho cá ăn tự động bằng năng lƣợng mặt trời
cho lồng bè là hết sức cần thiết.
Với các lý do trên và đƣợc sự đồng ý của BCN khoa Điện – Điện tử Trƣờng Đại
Học Nha Trang, em đã thực hiện đề tài: “NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MÁY TỰ ĐỘNG
CHO CÁ ĂN SỬ DỤNG PIN MẶT TRỜI LẬP TRÌNH ĐIỀU CHỈNH ĐA ĐỊNH
MỨC BẰNG THỜI GIAN QUAY TRỤC VÍT CHO LỒNG BÈ NUÔI THỦY SẢN
TẠI NHA TRANG ”. Đề tài đƣợc thực hiện từ ngày 25/02/2013 đến ngày 08/6/2013.
Mặc dù bản thân đã có cố gắng nhƣng những hạn chế và thiếu sót không thể tránh
khỏi. Kính mong đƣợc sự thông cảm và góp ý từ thầy cô và các bạn để các kết quả
nghiên cứu trong đồ án đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy trong Khoa nuôi trồng thủy sản, Chú Ba làm
việc trên lồng bè của Trƣờng Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và
giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong suốt quá trình triển khai thiết bị thí nghiệm.
Đặc biệt cảm ơn thầy giáo TS.TRẦN TIẾN PHỨC, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn đồ
án. Thầy đã tận tình chỉ bảo, cung cấp những tài liệu quý giá cho em trong suốt quá
trình làm đồ án.
Xin cảm ơn tất cả thầy cô trong Khoa Điện- Điện tử, Trƣờng Đại Học Nha Trang đã
trang bị kiến thức cho em trong suốt khóa học để em hoàn thành đồ án này.
Khánh Hòa, ngày 1 tháng 7 năm 2013
Sinh viên

2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ NHA TRANG 30
2.1.1. Vị trí 30
2.1.2. Địa hình 30
iii

2.2. NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN VỊNH NHA TRANG 31
2.2.1. Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản 31
2.2.2. Khu vực Vũng Ngán 32
2.2.3. Khu vực Đầm Bấy 34
2.2.4. Khu vực Bích Đầm 34
2.2.5. Khu vực Hòn Miễu 35
2.2.6. Khu vực Hòn Một 35
2.2.7. Khu vực lân cận 36
CHƢƠNG 3 NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MÁY CHO CÁ ĂN TỰ ĐỘNG SỬ DỤNG
PIN MẶT TRỜI LẬP TRÌNH ĐA ĐỊNH MỨC 37
3.1. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 37
3.2. SƠ ĐỒ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 37
3.3. TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHO CÁ ĂN TỰ ĐỘNG VÀ BÁN TỰ ĐỘNG 38
3.3.1. Máy cho tôm cá ăn bán tự động [7] 38
3.3.2. Máy tự động cho cá tra ăn ở đồng bằng Sông Cửu Long [8] 40
3.3.3. Máy cho tôm ăn tự động [9] 42
3.4. NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ MÔ HÌNH CHO LỒNG BÈ NUÔI THỦY SẢN ĐẠI
HỌC NHA TRANG 44
3.4.1. Yêu cầu 44
3.4.1.1. Yêu cầu thiết kế 44
3.4.1.2. Yêu cầu sử dụng 44
3.4.2. Thiết kế cơ khí 46
3.4.2.1. Thiết kế cơ cấu trục vít 46
3.4.2.2. Thiết kế bộ vỏ chống gỉ 47
3.4.3. Thiết kế mạch vi điều khiển 50

PHỤ LỤC 1 72
PHỤ LỤC 2 78

v

DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1. Bản đồ năng lƣợng nhiệt thế giới 4
Hình 1.2. Công suất lắp đặt điện mặt trời trên thế giới từ năm 2000 – 2010 5
Hình 1.3. Công suất điện mặt trời đã đƣợc lắp trên thế giới 8
Hình 1.4. Bản đồ Việt Nam 9
Hình 1.5. Chiếu sáng công viên bằng LED 15
Hình 1.6. Chiếu sáng cho nhà ở 16
Hình 1.7. Chiếu sáng công cộng cho ký túc xá 17
Hình 1.8. Mô hình thiết kế 18
Hình 1.9. Dự án nƣớc nóng năng lƣợng mặt trời 19
Hình 1.10. Dự án pin mặt trời tại Trung tâm y tế Tam Kỳ (Quảng Nam) 20
Hình 1.11. Sục khí cho tôm bằng năng lƣợng mặt trời 21
Hình 1.12. Nuôi cá lồng bè sử dụng năng lƣợng mặt trời 22
Hình 1.13. Đo và ghi số liệu độ rọi 25
Hình 1.14. Số liệu đo đƣợc hiển thị trên đồng hồ đo 25
Hình 1.15. Biểu đồ đƣờng thể hiện độ rọi ngày 12/3/2013 (đơn vị tính: Lux) 26
Hình 1.16. Biểu đồ đƣờng thể hiện độ rọi ngày 13/3/2013 (đơn vị tính: Lux) 27
Hình 1.17. Đèn báo hiệu giao thông 28
Hình 1.18. Toàn bộ hệ thống chiếu sáng điện đƣờng bằng Led 28
Hình 1.19. Toàn cảnh hệ thống chiếu sáng công cộng 29
Hình 1.20. Hệ thống chiếu sáng bức tƣờng nƣớc bằng led 29
Hình 2.1. Toàn cảnh thành phố Nha Trang 30

Hình 3.23. Bộ điều khiển sạc 60
Hình 3.24. Ắc-quy lƣu trữ điện 60
Hình 3.25. Mạch điều khiển 62
Hình 3.26. Bàn phím điều khiển và hiển thị LCD 62
Hình 3.27. Nhìn toàn bộ máy từ trên cao 63
Hình 4.1. Thí nghiệm sự hoạt động 64
Hình 4.2. Máy đang chạy thí nghiệm 65
Hình 4.3. Máy đƣợc lắp thử nghiệm tại lồng nuôi cá Chim biển 66
Hình 4.4. Nhìn máy từ xa khi đã lắp đặt cố định 66
Hình 4.5. Toàn cảnh máy cho cá ăn 67
vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Số liệu về bức xạ mặt trời tại Việt Nam 11
Bảng 1.2. Lƣợng tổng bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong năm ở một
số địa phƣơng của nƣớc ta, (đơn vị: MJ/m
2
.ngày) 11
Bảng 1.3. Thống kê số liệu một số điểm chính của Việt Nam 24
Bảng 1.4. Số liệu đo độ rọi nắng tại G3 – ĐHNT ngày 12/3/2013 26
Bảng 1.5. Số liệu đo độ rọi nắng tại G3 – ĐHNT ngày 13/3/2013 27
Bảng 3.1. Thành phần dinh dƣỡng (feed data and proximate analysis) 45
Bảng 3.2. Hƣớng dẫn cho ăn (recommended feeding guide) 45


Ton of Oil Equivalent
CSP
Điện mặt trời tập trung
EVN
Vietnam Electricity
CPNL
Cổ phần năng lƣợng
ĐHQG
Đại học Quốc Gia
ALU
Aluminum composite 1

MỞ ĐẦU
 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Đƣợc lợi thế từ sự chuyển đổi cơ cấu nuôi thủy sản mà ngày càng nhiều lồng bè
nuôi cá biển đƣợc mở rộng trong thời gian gần đây, giúp cho nhu cầu cho cá ăn bằng
nhân công cũng tăng lên.
Công việc cho ăn bằng thủ công đạt hiệu quả đối với thủy sản nuôi trong lồng bè
trên biển cần nhiều thời gian và nhân lực. Trong thực tế, do nhân lực ít, mỗi bè lại có
nhiều lồng nên số lần cho cá ăn và lƣợng thức ăn mỗi lần không thể đạt đƣợc nhƣ kế
hoạch đề ra.

Chƣơng 4: THỬ NGHIỆM TRÊN LỒNG BÈ NUÔI THỦY SẢN TẠI NHA
TRANG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ: đánh giá kết quả đạt đƣợc khi sử dụng máy
cho cá ăn tự động, phân tích đƣợc ƣu và nhƣợc của máy để nhằm đƣa ra khuyến cáo
khi chuyển sang bƣớc nghiên cứu triển khai.
3

CHƢƠNG 1
TIỀM NĂNG ĐIỆN MẶT TRỜI
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG
Tƣơng tự nhƣ nguồn năng lƣợng đến từ gió, công nghệ ánh sáng (Solar
technologies) sử dụng nguồn năng lƣợng Mặt trời để biến thành điện năng là một trong
các nguồn năng lƣợng tái tạo phổ biến nhất hiện nay.

. Trong thực tế
trữ lƣợng NLMT có thể sử dụng khoảng 170 TOE/năm, ở quy mô toàn cầu thì năng
lƣợng này không lớn lắm, nhƣng nó lại có ý nghĩa đối với các quốc gia mạng lƣới điện
phân phối điện năng vẫn còn thƣa thớt nhƣ : Ấn Độ, Trung Quốc hoặc Châu Phi.

Hình 1.1. Bản đồ năng lƣợng nhiệt thế giới
Khả năng ứng dụng NLMT thay đổi theo từng vùng miền, điều kiện thời tiết.
Nếu tính trung bình cho toàn bộ diện tích trái đất, trong vòng 24 giờ, một ngày, trung
bình 1m
2
nhận đƣợc 4,2 kWh. Ở sa mạc, không khí rất khô và có ít mây che phủ,
nguồn NLMT là nhiều nhất, hơn 6,0kWh/ngày/m
2
. Ánh sáng mặt trời cũng thay đổi
theo mùa, có những vùng nhận đƣợc rất ít nguồn NLMT vào mùa đông chỉ khoảng 0,7
kWh/ngày.
Năng lƣợng mặt trời có tiềm năng lớn, nhƣng trong năm 2008 chỉ chiếm 0,02%
của tổng cung cấp năng lƣợng của thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng đã tăng lên gấp
đôi mỗi năm, trong đó có tiềm năng cung cấp hơn 1000 lần tổng mức tiêu thụ năng
lƣợng và sẽ trở thành nguồn thống trị trong vòng một vài thập kỷ tới.
Năng lƣợng mặt trời là nguồn năng lƣợng mà con ngƣời biết sử dụng từ rất sớm,
nhƣng ứng dụng năng lƣợng mặt trời vào các công nghệ sản xuất và trên quy mô rộng
thì mới chỉ thực sự vào cuối thế kỷ 18 và cũng chủ yếu ở những nƣớc nhiều năng
lƣợng mặt trời, những vùng sa mạc. Từ sau các cuộc khủng hoảng năng lƣợng thế giới
5

năm 1968 và 1973, năng lƣợng mặt trời càng đƣợc đặc biệt quan tâm. Các nƣớc công
nghiệp phát triển đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lƣợng mặt
trời.
Với chi phí lắp đặt ngày một giảm, việc sử dụng năng lƣợng mặt trời đang trở

biển thành nƣớc ngọt cung cấp đủ nƣớc canh tác và sinh hoạt cho nhân dân. Đất nƣớc
này đang tiêu tốn tới 15 triệu thùng dầu để cung cấp năng lƣợng cho khoảng 30 nhà
máy khử muối hoạt động trong một năm.
Tính đến cuối năm 2009, tổng công suất quang điện trên toàn thế giới lên tới
23000 MW, tƣơng đƣơng với công suất phát điện của 23 nhà máy điện hạt nhân.
Với một nhà máy có công suất quang điện gần 10000 MW đã đƣợc lắp đặt, Đức
đã bỏ xa nƣớc đứng đầu thế giới về công suất phát điện của các nhà máy quang điện
đơn lẻ.
Đến năm 2020, tổng công suất của các nhà máy quang điện trên toàn thế giới có
thể lên tới 1,5 triệu MW. Mặc dù đây là một mục tiêu xem ra quá tham vọng, nhƣng
trên thực tế điều đó có thể đạt đƣợc bởi nếu 1,5 tỷ ngƣời đang thiếu điện hàng ngày mà
lại có đủ điện dùng vào năm 2020 thì chắc chắn là họ cần lắp đặt các hệ thống năng
lƣợng mặt trời tại nhà. Nhiều trƣờng hợp, việc lắp đặt các thiết bị năng lƣợng mặt trời
cho các hộ gia đình rẻ hơn là phải xây cả một mạng lƣới cung cấp điện từ một nhà máy
phát điện trung tâm.
Ngoài quang điện, một phƣơng pháp khác là biến nhiệt năng của mặt trời thành
điện năng cũng đƣợc áp dụng. Đây chính là phƣơng pháp giúp xây dựng các nhà máy
7

điện mặt trời tập trung (CSP) công suất lớn. Phƣơng pháp này sử dụng những tấm
gƣơng parabol tập trung nhiệt lƣợng mặt trời làm nóng chảy muối, sản xuất ra hơi
nƣớc để vận hành quạt gió và sản xuất điện năng. Nhiệt lƣợng thu đƣợc từ mặt trời có
thể đƣợc lƣu trữ trong muối nóng chảy ở nhiệt độ trên 1.000
0
F. Sau đó, số nhiệt lƣợng
đƣợc lƣu trữ này lại biến thành hơi nƣớc quay turbine phát điện trong khoảng thời gian
từ 8 – 10 tiếng đồng hồ sau khi mặt trời lặn.
CSP đầu tiên đƣợc xây dựng trong năm 1991 cùng với khu nhà máy liên hợp
nhiệt năng 350 MW ở California. Đó là cơ sở sản xuất nhiệt năng qui mô tiện ích duy
nhất trên thế giới cho đến khi hoàn thành nhà máy năng lƣợng 64 MW ở tiểu bang

Báo cáo của hai Tổ chức: “Hòa Bình Xanh” và Hiệp hội Công nghiệp sản xuất
điện từ ánh sáng mặt trời châu Âu” (EPIA) cho biết các hệ thống sản xuất điện từ ánh
sáng mặt trời hiện có khả năng cung cấp 0,5% nhu cầu điện của thế giới và có thể tăng
lên 2,5% vào năm 2025, sau đó tăng vọt lên 16% vào năm 2040. Cũng theo báo cáo
trong năm 2005 thị trƣờng các hệ thống quang điện sử dụng ánh sáng mặt trời đã thu
về 8,1 tỷ Euro (10,41 tỷ USD). Theo dự kiến con số này sẽ tăng 113,8 tỷ Euro vào
năm 2025.
Ở châu Âu, khoảng 2 triệu ngƣời Đức đang sử dụng các hệ thống năng lƣợng trên
mái nhà để làm nóng nƣớc và sƣởi ấm.
Việc giá thành các tấm panel pin mặt trời đã thu hút nhiều quốc gia khác tham
gia nhƣ Israel, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tận dụng khai thác nguồn năng lƣợng mặt
trời.

Hình 1.3. Công suất điện mặt trời đã đƣợc lắp trên thế giới
9

Ngay cả tại Châu Lục đen, Nam Phi cũng đang thúc đẩy việc phát triển các máy
làm nóng nƣớc bằng năng lƣợng mặt trời trên mái nhà,
1.3. TIỀM NĂNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐIỆN MẶT TRỜI Ở VIỆT NAM
1.3.1. Tiềm năng điện mặt trời trên lãnh thổ Việt Nam

Hình 1.4. Bản đồ Việt Nam
Việt Nam có nguồn NLMT dồi dào cƣờng độ bức xạ mặt trời trung bình ngày
trong năm ở phía bắc là 3,69 kWh/m
2
và phía nam là 5,9 kWh/m
2
. Lƣợng bức xạ
mặt trời tùy thuộc vào lƣợng mây và tầng khí quyển của từng địa phƣơng, giữa các
địa phƣơng ở nƣớc ta có sự chênh lệch đáng kể về bức xạ mặt trời. Cƣờng độ bức

5,815kWh/m
2
/ngày).
+ Vùng phía Nam:
Ở vùng này, quanh năm dồi dào nắng. Trong các tháng 1, 3, 4 thƣờng có nắng
từ 7h sáng đến 17h.
Cƣờng độ bức xạ trung bình thƣờng lớn hơn 3,489kWh/m
2
/ngày. Đặc biệt là
khu vực Nha Trang, cƣờng độ bức xạ lớn hơn 5,815kWh/m
2
/ngày trong thời gian 8
tháng/năm.
Dƣới đây là bảng số liệu về lƣợng bức xạ mặt trời tại các vùng miền nƣớc ta.

11

Bảng 1.1. Số liệu về bức xạ mặt trời tại Việt Nam
(Nguồn: Theo sổ tra cứu về bức xạ mặt trời của Việt Nam)
Vùng
Giờ nắng
trong năm
Bức xạ
(kcal/cm
2
/năm)
Ứng dụng

Bảng 1.2. Lƣợng tổng bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong năm ở một
số địa phƣơng của nƣớc ta, (đơn vị: MJ/m
2
.ngày)
(Nguồn: Theo sổ tra cứu về bức xạ mặt trời của Việt Nam)
STT
Địa phƣơng
Tổng xạ bức xạ Mặt Trời của các tháng trong năm
(đơn vị: MJ/m
2
.ngày)
1
7
2
8
3
9
4
10
5
11
6
12
1
Cao Bằng
8,21
8,72
10,43
12,70
16,81

12,65
14,45
16,84
17,89
17,47
12

4
Láng
(Hà Nội)
8,76
8,63
9,09
12,44
18,94
19,11
20,11
18,23
17,22
15,04
12,40
10,66
5
Vinh
8,88
8,13
9,34
14,50
20,03
19,78

16,38
15,54
15,25
16,38
8
Đà Lạt
16,68
15,29
16,38
15,54
15,25
16,38
18,94
16,51
15,00
14,87
15,75
10,07
Nhƣ vậy lƣợng tổng xạ nhận đƣợc ở mỗi vùng miền cũng khác nhau ở mỗi
tháng. Ta nhận thấy rằng các tháng nhận đƣợc nhiều nắng hơn là tháng 4, 5, 6, 7, 8,
9, 10. Nếu sử dụng bình năng lƣợng mặt trời vào các tháng này sẽ cho hiệu suất rất
cao.
1.3.2. Tình hình sử dụng điện mặt trời tại Việt Nam
Việt Nam là nƣớc có tiềm năng về NLMT, trải dài từ vĩ độ 8
0
34’ Bắc đến 23
0
23'
Bắc, nằm trong khu vực có cƣờng độ bức xạ mặt trời tƣơng đối cao, với trị số tổng
xạ khá lớn từ 100 – 175kcal/cm

bình cả năm trong khoảng 1800 đến 2100 giờ. Nhƣ vậy, các tỉnh thành ở miền Bắc
nƣớc ta đều có thể sử dụng hiệu quả. Tuy nhiên, do có sự bức xạ mặt trời mùa hè
nhiều hơn mùa đông nên mùa hè sử dụng thiết bị đun nƣớc nóng bằng năng lƣợng
mặt trời đạt hiệu quả cao hơn. Còn ở miền Nam, từ Đà Nẵng trở vào, năng lƣợng
mặt trời rất tốt và phân bố tƣơng đối điều hòa trong suốt cả năm. Trừ những ngày có
mƣa rào, có thể nói trên 90% số ngày trong năm đều có thể sử dụng năng lƣợng mặt
trời để đun nƣớc nóng dùng cho sinh hoạt. Số giờ nắng trung bình cả năm trong
khoảng 2000 đến 2600 giờ. Đây là khu vực ứng dụng năng lƣợng mặt trời rất hiệu
quả.
Cả nƣớc hiện có khoảng 2,5 triệu bình đun nƣớc nóng bằng điện có công suất
trong khoảng 2 đến 5 kW, hàng năm tiêu tốn khoảng 3,6 tỷ kWh điện năng và sẽ
tăng nhanh theo tốc độ xây dựng nhà ở, dịch vị du lịch. Khi thay thế toàn bộ bằng
thiết bị năng lƣợng mặt trời, mỗi năm sẽ tiết kiệm đƣợc khoảng hơn 1 tỷ kWh điện,
tƣơng đƣơng 1/2 lƣợng điện nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2009 từ Trung Quốc,
chiếm khoảng 1,5% lƣợng điện tiêu thụ trên toàn quốc. Đây là một con số rất lớn
cho thấy một thị trƣờng đầy tiềm năng đối với thiết bị bình đun nƣớc nóng năng
lƣợng mặt trời.
Trên tổng thể, điện mặt trời chiếm 0,009% tổng lƣợng điện toàn quốc. Gần đây
có dự án phát điện ghép giữa pin mặt trời và thủy điện nhỏ, công suất 125kW đƣợc
lắp đặt tại xã Trang, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, và dự án phát điện lai ghép
14

giữa pin mặt trời và động cơ gió với công suất 9kW đặt tại làng Kongu 2, huyện
Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, do Viện Năng Lƣợng (EVN) thực hiện, góp phần cung cấp
điện cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Từ thành công của dự án này, Viện
Năng Lƣợng (EVN) và Trung tâm Năng lƣợng mới tiếp tục triển khai ứng dụng dàn
pin mặt trời nhằm cung cấp điện cho một số hộ gia đình và các trạm biên phòng ở
đảo Cô Tô (Quảng Ninh), đồng thời thực hiện dự án “Ứng dụng thí điểm điện mặt
trời cho vùng sâu, vùng xa ” tại xã Ái Quốc, tỉnh Lạng Sơn.
Mặc dù có nhiều ƣu điểm, nhƣng thời gian qua, các sản phẩm sử dụng năng

trữ sinh quyển thế giới”. Cũng chính vì điều kiện tự nhiên đặc thù nhƣ trên nên
nhiều vùng bị chia cắt, thiếu điện và nƣớc ngọt nghiêm trọng, gây nhiều khó
khăn trong công tác quản lý và phát triển rừng phòng hộ.
Đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của TP, Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ Cần Giờ
đã đầu tƣ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác quản lý phát triển rừng ngập
mặn Cần Giờ. Công ty CPNL Mặt Trời Đỏ rất vinh dự khi đƣợc tín nhiệm là
đơn vị cung cấp và lắp đặt hệ thống điện Mặt trời cho dự án trên.
+ Một số hình ảnh cho dự án:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status