Đạo đức Tin lành và lối sống đạo đức của tín đồ tại Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ PHÚC THANH TƢƠI ĐẠO ĐỨC TIN LÀNH
VÀ LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI – 2013



Tác giả luận án Mã Phúc Thanh Tươi
LỜI TRI ÂN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hồng Dƣơng, PGS. TS.
Nguyễn Thanh Xuân – ngƣời hƣớng dẫn khoa học – đã tận tình giúp tôi nhiều
kiến thức quý báu.

Cho phép tôi đƣợc bày tỏ lời tri ân tới Ban Chủ nhiệm Khoa Triết học,
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, các
nhà khoa học trong và ngoài Khoa đã giúp đỡ, góp ý và tạo điều kiện thuận
lợi trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án.

Cảm ơn các Mục sƣ, gia đình, Ban Trị sự - Chấp sự Hội Thánh Chiên
Đàn, các tín hữu và bạn bè thân yêu đã động viên khích lệ, tạo điều kiện và
động lực để tôi hoàn thành luận án này.

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2013.
Tác giả luận án MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt và các ký hiệu

2.2.3 Về chức năng đạo đức 71
2.3 QUY LUẬT VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO ĐỨC TIN
LÀNH 77
2.3.1 Quy luật vận động đức tin tôn giáo và thực tiễn đạo đức 77
2.3.2 Quy luật kế thừa và tiến trình hoàn thiện đạo đức 82
2.3.3. Quy luật tƣơng phản giữa nhận thức và thực tiễn đạo đức 84
2.4 NỀN TẢNG, NĂNG LỰC, MỤC TIÊU VÀ TRI THỨC CỦA ĐẠO ĐỨC
TIN LÀNH 87
2.5 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC TIN LÀNH 94
2.5.1 Phạm trù lẽ sống 94
2.5.2 Phạm trù hạnh phúc 96
2.5.3 Phạm trù nghĩa vụ 99
2.5.4 Phạm trù lƣơng tâm 101
2.5.5 Phạm trù thiện và ác 103
Chƣơng 3: LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO TIN LÀNH Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 109
3.1 LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO TIN LÀNH TRONG TINH
THẦN HỘI NHẬP VĂN HÓA 109
3.2. MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG VỀ LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ TIN
LÀNH TẠI VIỆT NAM 115
3.2.1. Lối sống đạo đức của tín hữu Tin Lành tại thành phố 116
3.2.2. Lối sống đạo đức của tín hữu Tin Lành tại nông thôn 121
3.2.3. Lối sống đạo đức của tín hữu Tin Lành tại miền núi 124
3.3 LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ ĐẠO TIN LÀNH ĐỐI VỚI CÁC
VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ VĂN HÓA - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
126
Chƣơng 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI LỐI
SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA TÍN ĐỒ TIN LÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
140
4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LỐI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA

3. Lê-vi Ký Lê
4. Dân-số Ký Dân
5. Phục-truyền Luật-lệ Ký Phục
6. Giô-suê Giôs.
7. Các Quan Xét Quan
8. Ru-tơ Ru
9. I Sa-mu-ên I Sa
10. II Sa-mu-ên II Sa
11. I Các Vua I Vua
12. II Các Vua II Vua
13. I Sử-ký I Sử
14. II Sử-ký II Sử
15. Ê-xơ-ra Êxra
16. Nê-hê-mi Nê
17. Ê-xơ-tê Êxtê
18. Gióp Gióp
19. Thi-thiên Thi
20. Châm-ngôn Châm
21. Truyền-đạo Truyền
22. Nhã-ca Nhã
23. Ê-sai Ês.
24. Giê-rê-mi Giê
25. Ca-thƣơng Ca
26. Ê-xê-chi-ên Êxê
27. Đa-ni-ên Đa
28. Ô-sê Ôs.
29. Giô-ên Giôên
30. A-mốt Am.
31. Áp-đia Áp
32. Giô-na Giôna

62. I Giăng I Gi
63. II Giăng II Gi
64. III Giăng III Gi
65. Giu-đe Giu
66. Khải – Huyền Khải MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đạo đức học là một bộ phận của tri thức triết học nghiên cứu về đời
sống đạo đức của xã hội loài ngƣời. Tất cả các lĩnh vực xã hội từ kinh tế,
chính trị, giáo dục, khoa học, nghiên cứu, cho đến tôn giáo không thể thiếu sự
tham gia của đạo đức. Đạo đức đƣợc phát triển và hoàn thiện trên cơ sở lịch
sử, tiến trình này có những thay đổi từ thấp đến cao, mỗi hình thái ý thức xã
hội có những quan điểm đƣợc đề cao hay có vài chuẩn mực đạo đức thay đổi
phù hợp trong từng thời kỳ. Hiện nay có sự tiến bộ về nhận thức, những thành
tựu của khoa học công nghệ và nhiều thay đổi về cấu trúc xã hội đã tác động
tích cực đến sự phát triển các quốc gia, nhƣng cũng tạo ra nhiều vấn đề nan
giải, nghịch lý đối với sự phát triển nhân cách đạo đức trên toàn cầu.
Với chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra đƣờng lối hội nhập
kinh tế quốc tế để theo kịp trào lƣu của thời đại, phù hợp với nguyện vọng
nhân dân và tiếp cận những thành tựu khoa học, tạo ra sự tăng trƣởng kinh tế
đƣa nƣớc ta lên một vị trí xứng đáng trên trƣờng quốc tế. Từ khi đất nƣớc
Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thì đạo đức trở thành vấn đề vừa có tính cấp bách
vừa có tính lâu dài. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế bộc lộ tính hai
mặt tích cực và tiêu cực, tác động đến các giá trị đạo đức của con ngƣời trong
xã hội. Đạo đức ảnh hƣởng rất lớn đến sự nghiệp đổi mới của quốc gia, nếu
chỉ quan tâm đến kinh tế vững mạnh mà thiếu quan tâm đến việc nâng cao ý
thức đạo đức thì không thể đạt đến thành công và phát triển vững bền.

rất ít ỏi, chƣa đủ để đáp ứng nhu cầu hiểu biết về tôn giáo này. Mặt khác, theo
các nhà nghiên cứu tôn giáo, đạo Tin Lành ở nƣớc ta trong những thập niên
cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI phát triển với tốc độ nhanh, không chỉ ở các tỉnh phía nam, mà cả ở các tỉnh phía bắc, không chỉ trong cộng đồng ngƣời
Kinh ở đồng bằng, mà cả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên, duyên hải miền trung và miền núi phía bắc. Do vậy, đạo đức Tin
Lành đã và đang tác động không nhỏ đến một bộ phận dân cƣ ở nƣớc ta ở
đồng bằng cũng nhƣ ở miền núi, ở thành thị cũng nhƣ ở nông thôn. Việc
nghiên cứu đạo tôn giáo nói chung, đạo đức Tin Lành nói riêng và tác động
của nó đến đời sống xã hội nƣớc ta hiện nay là một nhu cầu cấp thiết nhằm
phát huy những giá trị tốt đẹp của nó, hạn chế những mặt tiêu cực có thể có để
xây dựng cuộc sống “tốt đạo, đẹp đời” trong cộng đồng tín đồ nói riêng và
trong đời sống xã hội nói chung. Xuất phát từ nhu cầu đó, tác giả chọn đề tài:
“Đạo đức Tin Lành và lối sống đạo đức của tín đồ tại Việt Nam hiện nay” để
triển khai luận án tiến sĩ của mình.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích của luận án: tiếp cận từ góc độ triết học, luận án nhằm làm
rõ điều kiện, tiền đề hình thành tƣ tƣởng đạo đức Tin Lành và nội dung cơ
bản của nó trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XVI. Từ đó nêu bật những giá trị
tích cực của đạo đức Tin Lành, làm cơ sở đánh giá lối sống đạo đức của tín đồ
Tin Lành tại Việt Nam, rút ra những điểm hạn chế của lối sống này và nêu lên
định hƣớng phát triển của lối sống đạo đức tôn giáo trong xã hội hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: để đạt đƣợc mục đích trên luận án cần thực
hiện những nhiệm vụ dƣới đây:
- Phân tích bối cảnh xã hội thế kỷ XVI và những điều kiện kinh tế,
chính trị dẫn đến sự hình thành phong trào Cải Cách và sự xuất hiện của đạo
Tin Lành. Trình bày về sự du nhập của đạo Tin Lành vào Việt Nam đầu thế
kỷ XX và khái quát tình hình đạo Tin Lành ở nƣớc ta hiện nay.


4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tƣợng nghiên cứu: Trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo,
nhận diện đúng vai trò và phát huy những giá trị tốt đẹp của đạo đức Tin
Lành; dƣới cái nhìn của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận
án tập trung nghiên cứu những quan niệm về đạo đức của đạo Tin Lành và về
lối sống đạo đức của tín đồ tại Việt Nam trên hai phƣơng diện: chủ thể và
khách thể.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án không giải quyết những vấn đề lý luận
chung của đạo Tin Lành cũng nhƣ những vấn đề liên quan đến chính trị, pháp
luật và xã hội; chỉ tập trung nghiên cứu đạo đức Tin Lành và sự liên đới đƣợc
thể hiện trong lối sống của tín đồ Tin Lành giữa xã hội Việt Nam, theo chuẩn
mực tôn giáo gắn với điều thiện và điều ác là trung tâm, đức tin là động lực,
lối sống công chính và từ ái là biểu hiện. Luận án cũng giới hạn trong hai tổ
chức giáo hội đã có tƣ cách pháp nhân là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền
Bắc và Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam. Dầu vậy, lối sống này
cũng đƣợc thực hành trong tín đồ các giáo phái Tin Lành đồng tín lý.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về đạo đức Tin
Lành ở Việt Nam, về một tập thể những ngƣời đã nhờ niềm tin và tình yêu đổi
mới trở thành nhân tố tích cực đem an vui vào cuộc sống xã hội, gây dựng và
nuôi dƣỡng mối tƣơng quan huynh đệ tốt đẹp.
- Luận án làm rõ những suy tƣ đạo đức của ngƣời tín đồ Tin Lành,
những chuẩn mực đạo đức mà họ tuân giữ và lý do nhân đạo khiến họ hành
động.
- Luận án chỉ ra và góp phần khắc phục những mâu thuẫn hay cách biệt
còn tồn đọng giữa ngƣời có đạo và ngƣời không theo tôn giáo nào, giữa các
nhà quản lý tôn giáo của các cấp chính quyền và tín hữu Tin Lành.
1.1.1 Tổng quan tư liệu, tài liệu
Tại Việt Nam, từ khi có chính sách Đổi mới, tôn giáo trong đó có
đạoTin Lành là đề tài nghiên cứu của nhiều học giả nhƣ: Đặng Nghiêm Vạn
(2003) Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Chính Trị
Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hồng Dƣơng (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ
Văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội; Đổ Minh
Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh (2005), Tôn giáo lý
luận xưa và nay, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; Đỗ Quang Hƣng
(2008) Vấn đề tôn giáo trong Cách mạng Việt Nam, Nxb. Lý luận Chính trị;
Nguyễn Thanh Xuân (2002), Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và
ở Việt Nam. Nxb. Tôn giáo; (2005), Một số Tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn
giáo; Vƣơng Thị Kim Oanh (2006), Nhận thức và niềm tin đối với đạo Tin
Lành của tín đồ người dân tộc thiểu số ở Gia Lai (luận án tiến sĩ Tâm lý học).
Ngoài ra còn có một số bài viết về đạo Tin Lành đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo và tạp chí Công tác Tôn giáo
của Ban Tôn giáo Chính phủ. Ở các công trình và bài viết mà các nhà nghiên
cứu đã công bố thƣờng chỉ tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến
đạo Tin Lành nhƣ sự du nhập, vấn đề tổ chức, sự phát triển hay một số ý về
thần học chung của các giáo phái Tin Lành.
Đề cập tới đạo đức tôn giáo có các công trình nhƣ: Hồ Trọng Hoài
(1995), Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (luận án PTS Triết học; Đặng Thị Lan (2004), Ảnh hưởng
của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức xã hội hiện nay (luận án TS Triết học).
Nội dung các luận án này thƣờng đề cập một cách khái quát đến đạo đức của
các tôn giáo hiện diện tại Việt Nam, đạo Tin Lành chƣa phải là tôn giáo có
tầm ảnh hƣởng sâu rộng trong xã hội nên thƣờng đƣợc khảo cứu chung theo
hệ thống đạo đức Kitô giáo.
Năm 2005, Trƣơng Nhƣ Vƣơng đã cho xuất bản cuốn Tìm hiểu tư

kỷ XIII, Thomas Aquinô (1225-1274) đã đƣa ra mục đích cuộc sống là hạnh
phúc theo ý tƣởng của Aristốt (384-322) với bốn nhân đức (thông hiểu, công
lý, dũng lực và tiết độ) và ba thần đức (tin, cậy và yêu mến).
Trong phong trào Cải Cách, Georg Calixt (1586-1656) đã triển khai
thêm về chủ thể đạo đức cần phải đƣợc tái sinh trong tác phẩm ”Epitome
Theologiae Moralis” (Đại cƣơng Thần học Đạo đức, 1634). Trong các thế kỷ
từ XVII đến XIX tiếp tục có những nghiên cứu về các lĩnh vực nhân đức và
hạnh phúc đời sống. Về sau có sự phân chia thần học đạo đức thành hai phần
riêng biệt: Đạo đức Cơ Bản nghiên cứu về những vấn đề khái quát và Đạo
đức Chuyên Biệt nghiên cứu các chuyên đề mới và cấp bách của thời đại xã
hội. [64, tr. 26, 27].
Một thần học gia vào cuối thế kỷ 19 là E. Troeltsch, thêm bƣớc tiến khi
đƣa Cơ Đốc giáo vào mạch sống văn hóa, với nền văn minh tiến hóa và những
thay đổi lịch sử với các tác phẩm “Protestantisme et Modernité”, “The
essence of the Modern Spirit”, “The Social Teaching of the Churches”. Tƣ
tƣởng của Troeltsch đã ảnh hƣởng đến bạn tri kỷ của ông là Max Webber,
một nhà xã hội học, xuất hiện rõ rệt trong tác phẩm “Nền đạo đức Tin Lành
và tinh thần của chủ nghĩa tƣ bản” (1905). Cả E. Troeltsch và M. Webber đã
đƣa ra vai trò hệ trọng của đức tin Tin Lành, lối sống theo giáo lý đã ảnh
hƣởng trên xã hội, thực tiễn gián tiếp tạo thành chủ nghĩa tƣ bản. M.Webber
phân tích giáo lý “sự kêu gọi” M. Luther và giáo lý “tiền định” của Calvin để chứng minh ảnh hƣởng của đạo đức Tin Lành trong việc hình thành nền tƣ
bản Âu Châu.
M. Webber cho thấy điểm chính yếu trong nguyên lý mối liên hệ phổ
biến giữa bản chất tôn giáo biểu hiện trong đời sống đạo đức và môi trƣờng
lịch sử. Ông không cho rằng toàn bộ chủ nghĩa tƣ bản đều do giáo lý Tin
Lành làm nảy sinh nhƣng nêu lên hình thức đặc thù của đạo đức Tin Lành và
hình thức đặc thù của tƣ bản chủ nghĩa. Lý luận này đã nhận đƣợc sự chú ý

Thứ nhất, Các nhà nghiên cứu về đạo Tin Lành ở nƣớc ta thƣờng chỉ
tập trung vào vấn đề giáo lý, tổ chức của một giáo hội hay một cộng đồng
ngƣời theo đạo tại Việt Nam, mà chƣa quan tâm nghiên cứu đến vấn đề đạo
đức Tin Lành, do vậy, ít khi giúp độc giả nhận diện đƣợc việc một tín đồ đạo
Tin Lành thực hành đạo đức trong sự thờ phụng hay lối sống của họ nhƣ thế
nào. Nhiều ngƣời có suy nghĩ một tín hữu Tin Lành cũng giống nhƣ một giáo
dân Công giáo vì cùng thờ Chúa, cùng đi nhà thờ, cùng cầu nguyện, cùng đọc
Kinh Thánh. Tuy nhiên giữa Công giáo và đạo Tin Lành có nhiều khác biệt
trong quan điểm đức tin và thực hành lối sống đạo. Do những lý do chủ quan
và khách quan, việc nghiên cứu về đạo đức Kitô giáo nói chung và đạo đức
Tin Lành nói riêng ở Việt Nam vẫn còn ít ỏi. Trƣớc đây, một phần vì quan
điểm cực đoan đối với tôn giáo và chƣa nhận thấy đƣợc giá trị của đạo đức
tôn giáo đối với đời sống xã hội, nên ít nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài
này.
Thứ hai, một số nhà nghiên cứu về đạo Tin Lành thƣờng chỉ đề cập tới
từng vấn đề riêng lẻ của tôn giáo này vì nhu cầu cấp thiết cung cấp kiến thức
cho công tác quản lý, tuyên truyền chính sách hay đảm bảo an ninh và trật tự
xã hội. Khi có hiện tƣợng phát triển khác thƣờng của đạo Tin Lành ở một khu
vực nào đó, chẳng hạn nhƣ tại Tây Bắc, hay việc một số ngƣời lợi dụng sự
bức xúc của quần chúng tín đồ đã kích động họ làm điều sai trái với pháp luật Việt Nam nhƣ vấn đề Đề ga tự trị tại Tây Nguyên, thì có các bài nghiên cứu
đƣa ra những quan điểm tham mƣu cho các cơ quan quản lý Nhà Nƣớc có giải
pháp đảm bảo an ninh chính trị. Làm nhƣ thế vô hình trung đã tạo cho độc giả
không có thiện cảm với đạo Tin Lành và tạo ra sự cách biệt với ngƣời theo
tôn giáo này. Do vậy cần có những tài liệu nghiên cứu phản ánh trung thực và
khách quan về giáo hội Tin Lành cũng nhƣ về cộng đồng tín hữu của tôn giáo
này trong đời sống xã hội Việt Nam nhằm góp phần xây dựng và củng cố
vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.

nƣớc dƣới góc độ triết học, chúng tôi nhận thấy rằng, đề tài “Đạo đức Tin
lành và lối sống đạo đức của tín đồ ở Việt Nam hiện nay” chƣa đƣợc đề cập
cụ thể và trực tiếp trong các công trình của những ngƣời đi trƣớc. Do vậy,
việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm phong phú thêm kiến thức về đạo
đức tôn giáo và lối sống đạo đức của tín đồ một trong số các tôn giáo hiện
hữu ở Việt Nam, đó là đạo Tin Lành. Những tác phẩm trên cũng là những tài
liệu tốt để phát triển trong luận án này.
1.1.3 Một số thuật ngữ sử dụng trong luận án
Bởi vì luận án này có trích nhiều thuật ngữ có trong các xuất bản phẩm
của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã đƣợc chuyển dịch từ các bản dịch Pháp
văn, Anh văn và Trung văn trong các lĩnh vực thần học, tâm linh và tôn giáo.
Ngƣời viết đã cố gắng chuyển đổi và chú thích một số thuật ngữ sau đây để
tiện việc tra cứu:
- Kitô giáo (Christianity) hay còn gọi là Cơ Đốc giáo hoặc là Thiên
Chúa giáo, là tôn giáo thờ phụng Đức Chúa Trời, xuất hiện từ những năm đầu
công nguyên với giáo lý Chúa Jêsus (Chúa Cơ Đốc) là Đấng Cứu Thế đƣợc
Đức Chúa Trời sai phái đến trần gian để cứu rỗi nhân loại. Kitô giáo chủ yếu
bao gồm: Công giáo (Catholicism), Chính Thống giáo (Orthodoxy) và đạo Tin Lành (Protestantism). Trong luận án, ở những đoạn trích tài liệu tham
khảo, thuật ngữ đạo Cơ Đốc hay Cơ Đốc giáo, trong nhiều trƣờng hợp đƣợc
hiểu theo nghĩa chung theo đó nguồn gốc của đạo Tin Lành.
- Kinh Thánh : Đối với ngƣời Công giáo, Kinh Thánh là quyển sách
hai phần Cựu Ƣớc và Tân Ƣớc có 72 sách. Tuy nhiên, đối với đạo Tin Lành
thì Kinh Thánh chỉ gồm 66 sách: 39 sách trong Cựu Ƣớc và và 27 sách trong
Tân Ƣớc.
- Hội Thánh: thƣờng dùng để chỉ các giáo hội Kitô giáo, nhƣ Hội
Thánh Tin Lành, Hội Thánh Công giáo, Hội Thánh Chính Thống Đông
Phƣơng.

tin tƣởng rằng “đất thánh” đã đƣợc ban cho họ theo giao ƣớc của Đức Chúa
Trời và họ là dân tộc duy nhất có quyền chiếm giữ nó. Do Thái giáo là một
tôn giáo phô bày những niềm tin và tập tục của ngƣời Do Thái có từ thế kỷ VI
TCN. Do Thái giáo là tôn giáo cổ nhất trong các tôn giáo độc thần của thế
giới. Niềm tin vào một Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, là Đấng cai quản
muôn vật là trái tim của Do Thái giáo. Đức Chúa Trời hiện hữu vĩnh hằng, ở
mọi nơi và biết mọi sự; Ngài phán bảo với dân Do Thái qua các vị tiên tri;
Ngài đã chọn họ làm tuyển dân để đem phƣớc hạnh cho cả nhân loại [69, 11
(Sáng 12:1-3)].
Kế thừa Do Thái giáo là Kitô giáo (Christianity) hay còn gọi là Cơ Đốc
giáo. Đông đảo ngƣời Do Thái đã lìa bỏ Do Thái giáo để gia nhập Kitô giáo
bởi tính cách sáng tạo tâm linh và tinh thần nhân đạo. Vƣợt lên từ bối cảnh xã
hội khắc nghiệt, Kitô giáo đã lan tràn khắp nơi với giáo lý và chuẩn mực đạo
đức đặt trên bác ái, có lối sống thanh bạch hƣớng đến cuộc sống tƣơng lai
vĩnh phúc. Trong Kitô giáo con ngƣời tìm thấy những điều vƣợt trội hơn các tín ngƣỡng đƣơng thời với đặc tính vừa thiêng liêng vừa đạo đức, giúp ngƣời
tin đạo tìm ra lẽ sống và có khả năng đạt đến cuộc sống tốt đẹp.
Tuy nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển của Kitô giáo, năm 1054
tôn giáo này đã phân ly thành hai tôn giáo là Công Giáo La Mã và Chính
Thống giáo; gần 5 thế kỷ sau, năm 1520 đạo Tin Lành lại tách ra khỏi Công
giáo La Mã. Các khảo cứu thƣờng cho rằng nguyên nhân “bị phân hóa do
những bất đồng trong nội bộ giáo quyền về giáo lý, nghi lễ, giáo luật và cả lợi
ích, quyền lực trần thế” [133, tr. 7]. Căn cứ vào yếu tố lịch sử, sau này C.
Mác đã đƣa ra luận đề chung là “con ngƣời sáng tạo ra tôn giáo.”
Đạo Tin Lành bắt đầu với tƣ cách một phong trào cải cách tôn giáo vào
đầu thế kỷ XVI, khi cơ cấu của xã hội Trung Cổ có chiều hƣớng tan rã, dấy
lên một thế giới mới năng động và mở rộng. Giáo hội Công giáo đã không
chấp nhận những đề nghị đổi mới của những nhà cải cách thành tâm, rốt cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status