MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG .............................................................................1
1. Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.............................................................1
1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại..........................................................................1
1.2 Vai trò, chức năng của ngân hàng thương mại ...........................................................2
1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại......................................................2
1.3.1 Nghiệp vụ nguồn vốn...............................................................................................2
1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn.................................................................................3
1.3.3 Dòch vụ ngân hàng và các họat động kinh doanh khác ...........................................4
2. Tính tất yếu của sự đa dạng hóa sản phẩm dòch vụ của ngân hàng thương mại..........4
3. Sản phẩm bao thanh toán (factoring)............................................................................7
3.1 Lòch sử hình thành sản phẩm bao thanh toán..............................................................7
3.2 Khái niệm bao thanh toán...........................................................................................9
3.2.1 Khái niệm bao thanh toán trong quá khứ.................................................................9
3.2.2 Khái niệm bao thanh toán phổn biến hiện nay........................................................9
3.3 Các lọai hình bao thanh toán ......................................................................................9
3.3.1 Căn cứ vào lọai hình bao thanh toán .......................................................................9
3.3.2 Căn cứ vào tính chất có truy đòi hay không truy đòi.............................................10
3.3.3 Căn cứ vào phương thức bao thanh toán................................................................10
3.3.4 Căn cứ vào cách thức thực hiện ............................................................................10
3.4 Các khoản phải thu không được áp dụng bao thanh toán.........................................11
3.5 Các lợi ích khi áp dụng sản phẩm bao thanh toán ...................................................12
3.5.1 Đối với đơn vò bao thanh toán................................................................................12
3.5.2 Đối với đơn vò được bao thanh toán .......................................................................13
3.5.3 Đối với các quốc gia áp dụng bao thanh toán........................................................14
3.6 So sánh sản phẩm bao thanh toán với hình thức cho vay bằng tài sản có................15
3.7 Bao thanh toán trên bình diện quốc tế......................................................................18
2.1.1
Ngân hàng nhà nước cần phải nghiên cứu, xây dựng quy chế hoạch toán kế
toán chuẩn mực dành cho hoạt động bao thanh toán......................................................50
2.1.2 Ban hành các quy đònh cụ thể rõ ràng về gia hạn, chuyển nợ quá hạn áp dụng
cho hoạt động bao thanh toán 51
2.1.3
Ngân hàng nhà nước phối hợp với các cơ quan ban ngành hữu quan để ban
hành những quy đònh cụ thể về thuế đối với hoạt động bao thanh toán.........................51
2.1.4 Ban hành hành lang pháp lý chung bảo vệ quyền lợi hoạt động cho đơn vò bao
thanh toán 52
2.1.5
Xây dựng trung tâm điều tiết quản lý thông tin tín dụng, đánh giá chất lượng
các bên mua, bên bán nhằm cung cấp những thông tin xác thực nhất cho các đơn vò
bao thanh toán.................................................................................................................52
2.1.6
Tạo cơ sở hạ tầng cho sản phẩm bao thanh toán phát triển trên cơ sở tăng
cường các biện pháp chế tài và khuyến khích các doanh nghiệp thanh toán không
dùng tiền mặt ..................................................................................................................53
2.2 Đối với những đơn vò đã, đang và sẽ thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tại
Việt Nam ..........................................................................................................................54
2.2.1
Xây dựng tốt công tác quản trò và điều hành.........................................................54
2.2.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ...................................................................55
2.2.3 Xây dựng quy trình lựa chọn, kiểm soát người bán trong hoạt động bao thanh
toán một cách chặt chẽ và có hiệu quả 56
2.2.4
Xây dựng quy trình kiểm soát người mua trong hoạt động bao thanh toán có
hiệu quả...........................................................................................................................60
2.2.5 Xây dựng quy trình ngăn ngừa và xử lý tranh chấp trong hoạt động bao thanh
hàng phải cạnh tranh trực tiệp với nhau để tồn tại và phát triển. Ngân hàng muốn
duy trì lợi nhuận và khả năng cạnh cần phải luôn đổi mới và phát triển về mọi mặt :
Vốn, công nghệ, dòch vụ, cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý , chất lượng hoạt động hệ
thống kiểm soát rủi ro…. Trong đó, việc xây dựng mở rộng các sản phẩm dòch vụ và
nâng cao chất lượng phục vụ là con đường chủ yếu để các ngân hàng có thể nâng
cao sức cạnh tranh, giữ vững và phát triển thương hiệu của mình trong một môi
trường đầy thuận lợi những cũng không ít thử thách này.
Với tầm quan trọng của sự phát triển đa dạng của các loại sản phẩm dòch vụ,
các ngân hàng tại Việt Nam đã và đang nghiên cứu xây dựng một sản phẩm hoàn
toàn mới : Đó là sản phẩm bao thanh toán. Cùng sự phát tiển của ngành ngân hàng
trên thế giới, sản phảm bao thanh toán đã trở nên quen thuộc và được áp dụng rộng
rãi hơn 100 năm qua. Nhưng đối với các ngân hàng Việt Nam, đây là một sản phẩm
còn khá mới mẻ, những nguyên tắc, tính chất và cách thức vận hành sản phẩm này
như thế nào vẫn còn là một vấn đề cần được nghiên cứu lỹ lưỡng trước áp dụng
vào thực tiễn.
Vậy sản phẩm bao thanh toán là gì? Sản phẩm này đóng vai trò quan trọng
như thề nào? Cách thức áp dụng tại Việt Nam có nên giống như cách thức áp dụng
trên toàn thế giới không hay phải xây dựng một cách thức vận hành riêng theo
phong cách Việt Nam ? Ở Việt Nam hiện tại đã có những ngân hàng Việt Nam nào
áp dụng sản phẩm này và hiệu quả đạt được tới đâu? Những thuận lợi và khó khăn
khi áp dụng sản phẩm này trong điều kiện kinh tế thò trường tại Việt Nam và trong
xu thế hội nhập hóa, toàn cầu hóa hiện nay như thế nào?...
Tất cả những vấn đề trên có liên quan mật thiết đến đề tài “ Sản phẩm bao
thanh toán (factoring). Những giải pháp hoàn thiện và phát triển sản phẩm bao
thanh toán tại Việt Nam hiện nay”. Mục tiêu của đề tài này nhằm xây dựng một
cách nhìn cụ thể nhất về sản phẩm bao thanh toán và vấn đề áp dụng sản phẩm
này trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Đề tài dựa trên những cơ sở lý luận chung về ngành ngân hàng, sản phẩm
đích của ngân hàng thương mại là để kinh doanh, là vì lợi nhuận. Ngân
hàng thương mại có cơ cấu, tổ chức bộ máy, quan hệ kinh tế bình đẳng,
tự chủ về tài chính và phải thực hiện những nghóa vụ quy đònh đối với nhà
nước.
• Thứ hai, lónh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ ,tín dụng và dòch
vụ ngân hàng .Đây là lónh vực “đặc biệt ” vì nó liên quan trực tiếp đến
tất cả các ngành ,liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội và
là lónh vực rất“nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành
hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế- xã hội.
• Thứ ba, nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là
vốn huy động từ bên ngoài ,trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại
chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh .
• Thứ tư, trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng
rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình.
• Thứ năm, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chòu sự chi
phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương. Một ngân
hàng thương mại không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi ngân hàng
Trung ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ ,hạn chế lạm phát
và ngược lại .
I.2 Vai trò, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng thương mại
Với tính chất đặc biệt trong hoạt động trong hoạt động của mình, có thể nói
Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng đóng vai trò quan trọng bậc nhất
trong nền kinh tế thò trường. Ngân hàng thương mại là nhòp cầu nối liền giữa những
chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ,các
doanh nghiệp vừa tiêu thụ được sản phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư ,hàng
hóa) với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu tiêu dùng nhưng
thu nhập lại chưa có hay các doanh nghiệp ,các tổ chức kinh tế đang cần nhập vật tư
,nguyên vật liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm).
Sự phát triển của nền kinh tế luôn cần có sự hiện diện và phát triển của các
hao cơ bản ,sửa chữa tài sản ,dự phòng để xử lý rủi ro ….
b. Vốn huy động
Là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại. Nguồn vốn huy động gồm có
+ Tiền gởi không kỳ hạn
+ Tiền gởi có kỳ hạn
+ Nguồn vốn huy động qua phát hành trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu…
c. Nguồn vốn đi vay
Ngân hàng thương mại có thể huy động thêm vốn hoạt động bằng cách vay
vốn của các chủ thể sau
+ Vay ngân hàng nhà nước dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu
chứng từ có giá; cầm cố, tái cầm cố thương phiếu…
+ Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thò trường liên ngân
hàng, hợp đồng mua lại…
+ Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế…
d. Nguồn vốn khác
Là nguồn vốn ngân hàng thương mại tiếp nhận từ ngân sách nhà nước để
thực hiện các chương trình dự án của nhà nước, vốn chiếm dụng trong quá trình thực
hiện thanh toán không thực hiện tiền mặt…
I.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (nghiệp vụ có)
Với nguồn vốn có được, ngân hàng thương mại sử dụng cho các nghiệp vụ
sau
a. Thiết lập các quỹ dự trữ
Ngân hàng thương mại phải dành một phần nguồn vốn để thiết lập quỹ dự trữ
nhằm đáp ứng các nhu cầu sau :
+ Thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy đònh của ngân hàng nhà nước
+ Thực hiện các lệnh rút tiền và chuyển khoản theo yêu cầu của
khách hàng
+ Chi trả các khoản tiền gởi đến hạn, tiền lãi
+ Đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý trong ngày của khách hàng
mại.
II. TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐA DẠNG HÓA
SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Kể từ khi đất nước thống nhất ( 30-04-1975), nền kinh tế đất nước nói chung
và hoạt động của ngành ngân hàng nói riêng còn đã trải qua nhiều khó khăn, thử
thách trên con đường phát triển và hội nhập vào nền kinh tế khu vực, nền kinh tế
thế giới
Đối với lónh vực ngân hàng, so với các nước khác, có thể nói rằng trình độ
nước ta còn rất hạn chế. Chất lượng dòch vụ yếu kém, phong cách phục vụ chưa
chuyên nghiệp, hạn chế về công nghệ và nhân lực, khó khăn trong việc phát triển
đa dạng hóa sản phẩm, chưa hình thành được thói quen thanh toán không dùng tiền
mặt trong dân chúng, thiếu kế hoạch kinh doanh dài hạn … luôn được coi là những
căn bệnh trầm kha của ngành ngân hàng.
Qua hơn 30 phát triển, ngành ngân hàng nói chung đã có những bước phát
triển vượt bậc. Sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động trong
lónh vực ngân hàng đã khiến lónh vực này trở nên khởi sắc hơn rất nhiều. Chính sự
ra đời của các hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần đã góp phần năng cao
sức cạnh tranh giữa các hệ thống ngân hàng. Sản phẩm dòch vụ ngày càng được cải
thiện và mở rộng thông qua sự hiện đại hóa công nghệ, trình độ và chất lượng
nguồn nhân lực được nâng cao và áp dụng các mô hình quản lý hiện đại của những
nước phát triển. Chưa bao giờ khách hàng lại có nhiều cơ hội được sử dụng các sản
phẩm dòch vụ của ngân hàng với chất lượng cao đến vậy.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, hoạt động ngân hàng còn có nhiều
hạn chế nhất đònh, nhất là trong hoạt động tín dụng. Những đặc trưng cơ bản trong
hoạt động tín dụng hiện nay tại Việt Nam là :
Thứ nhất, hoạt động tín dụng tại Việt Nam hiện nay được xem là
hoạt động có nhiều rủi ro. Điều này xuất phát từ những đặc điểm hiện có của
nền kinh tế xã hội của đất nước và sự phát triển không đồng đều giữa các hệ
thống ngân hàng. Thông tin, yếu tố quan trọng nhất trong việc ra quyết đònh
thương mại, xuất nhập khẩu và dòch vụ…đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất
nước.
Kinh tế phát triển với tốc độ cao cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội
phát triển, hệ thống pháp lý được xây dựng và cải thiện thường xuyên nhằm tạo ra
những nguyên tắc hoạt động chung nhất, cơ bản nhất cho một xã hội hiện đại đã cơ
bản được thiết lập. Chính phủ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết
nền kinh tế xã hội ở tầm vó mô. Đặc biệt trong lónh vực tài chính, dước sự điều tiết
quản lý của chính phủ, đã phát triển nhanh nhưng vẫn đảm bảo sự ổn đònh cần thiết
về tiền tệ và lãi suất thò trường.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển đa dạng hoá các doanh
nghiệp, công ty thuộc các thành phần kinh tế khác nhau là điều đất yếu. Đối với
một nền kinh tế đïc đánh giá là đang phát triển như Việt Nam, đây là điều lạc
quan những đồng thời cũng là thách thức đối với các nhà quản lý trong việc ổn đònh
thò trường tài chính. Các doanh nghiệp mới xuất hiện đều có nhu cầu rất lớn về vốn
và vốn tài trợ từ ngân hàng là một kênh không thể thiếu. Tuy nhiên do là những
doanh nghiệp nới nên hạn chế về tài sản đảm bảo khi vay vốn ngân hàng là chuyện
được nhiên. Các ngân hàng ngần ngại khi quyết đònh cấp tín dụng do hạn chế về tài
sản đảm bảo, phần nào cũng cản trở sự phát triển chung của nền kinh tế, khiến thò
trường tài chính có những xáo trộn nhất đònh.
Bên cạnh đó, cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới,
việc mở cửa thò trường trong lónh vực ngân hàng trong nước là điều tất yếu. Mở cửa
thò trường trong lónh vực ngần hàng sẽ làm cho các tổ chức tín dụng trong nước phải
đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn, nguồn thu sẽ giảm và những rủi ro của thò
trường mới ngày càng nhiều hơn. Các ngân hàng thương mại trong nước sẽ phải
cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh họ có nhiều lợi
thế hơn về mặt tài chính, kinh nghiệm quản lý, công nghệ dòch vụ hiện đại. Các
ngân hàng thương mại trong nước sẽ phải chấp nhận cuộc cạnh tranh quyết liệt để
tồn tại và phát triển thông qua nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm dòch vụ
Như vậy, xuất phát từ những yếu tố nội tại và từ bên ngoài, các ngân hàng
dụng như là người mua khiếu nại ngøi bán về số lượng, chất lượng hàng hóa hay
thời gian giao hạn không đúng hạn, đại lý bao thanh toán không tạm ứng toàn bộ số
tiền doanh thu bán hàng. Thay vào đó, họ sẽ giữ lại một phần để dự trữ phải trả
cho người bán cho tới khi tất cả những sự việc không thanh toán không còn tồn tại
nữa. Người mua thường được thông báo là đại lý bao thanh toán đã mau quyền nhận
thanh toán của họ. Vào thời điểm Columbus phát hiện ra Châu Mỹ năm 1492, đại
lý bao thanh toán đã phát triển từ vai trò duy nhât với chức năng marketing thành
đóng hai vai trò vừa có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính.
Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân Mỹ, và cùng với nó là
vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho bao thanh toán- đặc biệt là đối với
những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. Khoảng cách giữa Châu u và
thò trường thực dân rất lớn và càng trở nên lớn hơn khi Mỹ mở rộng biên giới phía
Tây của nó. Khoảng cách lớn này khiến cho các nhà sản xuất Châu u khó quen
với thò trường Châu Mỹ và sự tin cậy về tín dụng của những khách hàng tiềm năng.
Và điều này cũng làm cho vòng tuần hoàn từ khi bắt đầu sản xuất đến khi nhận
được thanh toán cuối cùng dài hơn. Kết hợp những yếu tố trên tạo nên sự căng
thẳng đáng kể đối với những nhà sản xuất này. Vì vậy, những đại lý bao thanh toán
người Mỹ quen thuộc với thò trường và người mau trong nước họ , được tổ chức để
cung cấp cho các nhà sản xuất Châu u những dòch vụ marketing và tài chính tương
tự như trước đây những người anh em của họ ở nước khác đã từng làm.
Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thế giới thương mại đã
xảy ra. Ở trong nước, thực dân Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và trở
nên ít bò phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài. Sự phát triển của ngành công nghiệp
trong nước là do dân số và lực lïng lao động trong nước tăng rất nhanh, tài nguyên
thiên nhiên dư thừa,và sự áp đặt biểu thuế gắt gao đối với hàng hóa nước ngoài.
Đồng thời, những nhà sản xuất Mỹ phát triển đội ngũ kinh doanh (marketing) của
mình và vì vậy, nhu cầu chức năng marketing mà trước đây các đại lý bao thanh
toán thường thực hiện giảm đi. Tuy nhiên, môt lần nữa, các đại lý bao thanh toán
lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu của nền kinh tế mới trong nước, tập trung
+ Dự tính các tổn thất có thể xảy ra khi tình hình tài chính của khách
hàng không thể trả được nợ (tổn thất tín dụng)
Các khoản phải thu có thể được mua bán trên cơ sở “ không có quyền truy
đòi”, do đó bên bao thanh toán dự tính rủi ro tổn thất có thể xảy ra do không có
khả năng về mặt tài chính của khách hàng hay trên cơ sở “ có quyền truy đòi”
trong đó khách hàng của bao thanh toán chòu phần rủi ro này.
II.2.2 Khái niệm bao thanh toán phổ biến hiện nay
Bao thanh toán là việc một tổ chức tài chính mua các tài khoản phải thu của
một công ty, mà tổ chức tài chính đó có thể là một ngân hàng hay là một công ty
tài chính chuyên nghiệp.
Hay nói một cách khác, dưới góc độ hoạt động của ngân hàng thương mại,
bao thanh toán là việc cấp tín dụng cho khách hàng là bên bán thông qua việc
mua lại các khoản phải thu của bên bán hàng phát sinh từ việc mua bán đã được
bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Như vậy, đơn vò bao thanh toán làm chức năng là một đơn vò chấp thuận tín
dụng đồng thời là một đơn vò cung cấp tiện ích và bảo lãnh thanh toán.
II.3. Các loại hình bao thanh toán
II.3.1 Căn cứ vào loại hình bao thanh toán : có 2 loại
- Bao thanh toán trong nước : là hình thức cấp tín dụng của một ngân hàng
thương mại hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua
việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên
bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa,
trong đó, bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc
gia.
- Bao thanh toán xuất nhập khẩu : là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng
thương mại hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua
việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên
bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà
việc mua bán hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.
liên hệ với đơn vò bao thanh toán để biết chắc rằng đơn vò bao thanh toán có mua
lại các khoản phải thu cho bên bán hay không trước khi thực hiện mua bán theo
thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.
- Phương thức thực hiện phi truyền thống (reverse factoring) : đơn vò bao
thanh toán sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán
đủ điều kiện thực hiện bao thanh toán tại đơn vò bao thanh toán đó. Trên cơ sở
chuẩn xếp hạng, đơn vò bao thanh toán sẽ cấp hạn mức bao thanh toán cho cả bên
bán và bên mua. Nếu những quan hệ giao dòch mua bán phát sinh mà bên mua và
bên bán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vò này sẽ tiến hành thực hiện bao thanh
toán, miễn là tổng số tiền ứng trước không được vượt quá hạn mức bao thanh toán
đã được cấp cho bên mua hay bên bán.
III.4 Các khoản phải thu không được áp dụng bao thanh toán
Cơ sở để áp dụng sản phẩm bao thanh toán là các khoản phải thu. Tuy nhiên
không phải khoản thu nào cũng được bao thanh toán. Điều kiện cơ bản để các
khoản phải thu được bao thanh toán là những khoản phải thu phải hợp pháp, hợp lệ,
minh bạch và không nằm trong các trường hợp sau ( hạn chế rủi ro cho những đơn vò
bao thanh toán) :
- Phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa bò pháp luật cấm
- Phát sinh từ các giao dòch, thỏa thuận bất hợp pháp
- Phát sinh từ các giao dòch, thỏa thuận đang có tranh chấp
- Phát sinh từ các hợp đồng mua bán dưới hình thức ký gởi. Tức là hình
thức người mua không phải trả tiền hàng cho đến khi hàng hóa được bán
đi. Nếu sau thời gian hợp lý mà hàng chưa bán được, người mua hoàn lại
hàng cho người bán.
- Các khoản phải thu đã được gán nợ hay cầm cố, thế chấp
- Các khoản phải thu đã quá hạn thanh toán theo hợp đồng mua bán hàng
hóa.
- Các khoản phải thu phát sinh sau quá trình lắp đặt thiết bò sản xuất. Quá
trình lắp đặt thiết bò sản xuất luôn đòi ỏi cần có quá trình chạy thử và bảo
quan trọng đối với các ngân hàng thương mại vì một ngân hàng càng có nhiều sản
phẩm dòch vụ thì không những có nhiều nguồn thu mà còn nâng cao hình ảnh
thương hiệu, tăng sức cạnh tranh của mình. Có thể nhận thấy rằng, hiện tại sản
phẩm bao thanh tóan đã không đơn thuần là một sản phẩm dòch vụ tạo nguồn thu
cho ngân hàng mà còn là một yếu tố quan trọng, mang tính “marketing” giúp các
ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, mục tiêu rất quan trọng của ngành nghề
ngân hàng.
Thứ tư, các đơn vò bao thanh tóan có thể lọai trừ được các khỏan nợ xấu
thông qua việc thực hiện bao thanh tóan có quyền truy đòi. Ngòai ra, quy trình thực
hiện sản phẩm bao thanh tóan đều yêu cầu đơn vò bao thanh tóan xem xét đến khả
năng tài chính của bên bán và bên mua, họat động mua bán phải thực hiện đúng
những thỏa thuận và không trái pháp luật; đây là cơ sở vững chắc trong việc thu
hồi các khỏan phải thu sau khi đơn vò bao thanh tóan đã mua lại từ bên bán.
Thứ năm, trên cơ sở ước tính các khỏan chi phí liên quan đến sản phẩm
dòch vụ, lợi nhuận mong đợi, kiểm tra tín dụng và chấp nhận rủi ro tín dụng; các
ngân hàng sẽ quyết đònh một tỷ lệ ứng trước phù hợp với từng lần bao thanh tóan.
Điều này cho phép ngân hàng có thể hạn chế những rủi ro tín dụng đến mức có thể.
Thứ sáu, thực hiện nghiệp vụ bao thanh tóan đồng nghóa với việc ngân hàng
cung cấp tài chính để đổi lấy các khỏan phải thu, lưu giữ sổ cái bán hàng và tiến
hành thu nợ các hóa đơn bán hàng chưa thanh tóan. Nếu thực hiện bao thanh tóan
thường xuyên, ngân hàng có thể kiểm sóat chặt chẽ họat động kinh doanh của các
khách hàng hiện có, mở rộng quy mô họat động và có thể tiếp thò được những
khách hàng tiềm năng trong tương lai.
III.5.2 Đối với đơn vò được bao thanh tóan (bên bán)
Thứ nhất, bên bán được cải thiện luồng tiền mặt, được cung cấp nguồn tài
chính để đảm bảo họat động sản xuất kinh doanh ổn đònh. Bao thanh tóan truyền
thống cho phép khách hàng vay tiền ngay lập tức dựa trên số lượng bán hàng của
họ, trong khi đồng thời cũng cho phép khách hàng có thời hạn bán háng bình
thường. Kết quả là, luồng tiền mặt của bên bán hàng tăng do thời hạn bán hàng
Ở những nước đang phát triển, nhu cầu về vốn họat động đối với các doanh
nghiệp luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, do trình độ phát triển ngân
hàng ở những quốc gia này và không phải doanh nghiệp nào cũng có tài sản đảm
bảo, nên việc ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp họat động còn nhiều hạn
chế và kéo dài, đôi khi bỏ phí những cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, bao thanh tóan phần nào giải quyết được những hạn chế nêu trên,
các đơn vò bao thanh tóan sẽ thẩm đònh các quan hệ mua bán và quyết đònh có cấp
số tiền ứng trước hay không một cách nhanh chóng. Nguyên nhân là do các đơn vò
bao thanh tóan thường liên quan nhiều đến khả năng trả nợ của bên mua, chất
lượng của hàng hóa dòch vụ của bên bán hơn là khả năng tài chính của bên bán và
tài sản đảm bảo của họ.
Thứ sáu, bên bán có cơ hội tiếp cận với những cơ hội giao thương quốc tế
mới khi bao thanh tóan được áp dụng rộng rãi, được sự tư vấn của đơn vò bao thanh
tóan để hạn chế những rủi ro trong quan hệ mua bán với các nước khác tới mức
thấp nhất.
III.5.3 Đối với các quốc gia áp dụng bao thanh tóan
Thứ nhất, bao thanh tóan có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh và thu hút giao
thương quốc tế trong điều kiện quốc gia đó còn nhiều hạn chế về luật thương mại
và thực thi luật thương mại, hệ thống luật phá sản và kinh nghiệm quản lý.
Đối với những quốc gia này, sự hạn chế về pháp luật và hành lang pháp lý
vững chắc và trình độ kinh nghiệm là trở ngại lớn cho hoạt động giao thương trong
và ngoài nước. Đăïc biệt là trong hoạt động giao thương quốc tế, các bên bán rất
hạn chế giao dòch với đối với bên mua tại các quốc gia có luật thương mại yếu kém
vì cơ sở giao dòch không được bảo đảm. Điều này cũng đồng nghóa với sự phát triển
của quốc gia đó có nhiều hạn chế, sự hấp dẫn đầu tư cũng giảm sút.
Thông qua việc áp dụng bao thanh toán, vấn đề này được cải thiện rất nhiều.
Với vai trò hoạt động của mình, các đơn vò bao thanh toán phải có trách nhiệm tư
vấn, kiểm tra những nghiệp vụ mua bán chung nhằm đảm bảo có thể kiểm soát theo
dõi khoản phải thu trong tương lai được chặt chẽ và loại trừ được nợ xấu. Điều này
động của 2 loại sản phẩm dòch vụ này có vẻ hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, khi
xem xét dưới nhiều khía cạnh mở rộng thì hai sản phầm này hoàn toàn khác nhau.
Sản phẩm bao thanh toán và sản phẩm cho vay bằng tài sản có giống nhau ở chỗ:
Thứ nhất, cả hai sản phẩm đều cung cấp vốn lưu động cho bên bán
dựa trên các khoản phải thu. Khoản phải thu là yếu tố cốt lõi để ngân hàng
quyết đònh có tài trợ hay không tài trợ vốn cho bên bán. Khoản phải thu này
phải hợp pháp, tức là những khoản mua bán phải minh bạch, có chứng từ hợp
đồng chứng minh và thực hiện đúng theo quy đònh của pháp luật.
Thứ hai, cả hai sản phẩm đều có thể sử dụng để tài trợ cho các công
ty có rủi ro và hoạt động không minh bạch. Thông thường, đối với ngân
hàng khi ra quyết đònh tín dụng thường căn cứ trên tình hình hoạt động cụ
thể của doanh nghiệp đó cũng như khả năng kiểm soát của ngân hàng về
hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, đối với những doanh nghiệp có hoạt
động không minh bạch, để hạn chế rủi ro, ngân hàng thường từ chối tài trợ.
Ngân hàng dư vốn nhưng không dám cho vay, còn doanh nghiệp thiếu vốn
nhưng không thể vay được. Cung cầu vốn trở nên xa vời do sự không tin
tưởng lẫn nhau giữa nguồn cung và nguồn cầu về vốn.
Khi áp dụng sản phẩm bao thanh toán hay sản phẩm cho vay thế chấp
bằng tài sản có thì vấn đề này được hạn chế triệt để. Đối với sản phẩm bao
thanh toán đơn vò thực hiện bao thanh toán không cần nhất thiết phải quan
tâm đến toàn bộ hoạt động của bên bán, bên mua mà chỉ cần quan tâm tới
tính minh bạch, hợp pháp của lần giao dòch mua bán cần được bao thanh toán
và khả năng thanh toán của bên mua trong lần giao dòch này như thế nào mà
thôi.
Đối với sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có, ngân hàng bắt
buộc phải theo dõi hoạt động kinh doanh của bên mua, bên bán có minh bạch
và hợp pháp hay không. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ phần nào hạn chế được rủi
ro khi nhận tài sản có của bên vay làm tài sản đảm bảo. Trong trường hợp
xấu nhất, thông qua các biện pháp đảm bảo tiền vay như công chứng-đăng
bằng tài sản có thì không. Nguyên nhân chính cho khoản phí có thêm là do
đơn vò bao thanh toán phải quản lý sổ sách, thu hồi khoản phải thu thay cho
đơn vò được bao thanh toán và chấp nhận rủi ro cao hơn so với sản phẩm cho
vay thế chấp bằng tài sản có.
Thứ hai, sản phẩm bao thanh toán không tài trợ cho hàng hóa hay
thiết bò. Sản phẩm bao thanh toán chỉ tài trợ trên khoản phải thu hợp pháp
hợp lệ và minh bạch. Hay nói một cách khác, “tài sản đảm bảo” trong sản
phẩm bao thanh toán chỉ có thể là khoản phải thu mà thôi.
Ngược lại, sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có lại tài trợ cho
hàng hóa thiêt bò. Điều này được thể hiện trong thực tế là doanh nghiệp có
thể yêu cầu ngân hàng tài trợ vốn cho doanh nghiệp hoạt động dựa trên
những hàng hóa thiết bò sẵn có tại doanh nghiệp, dù nguyên nhân chính
khiến doanh nghiệp thiếu hút nguồn vốn hoạt động là do doanh nghiệp bò
chiếm dụng vốn quá nhiều hay các khoản phải thu chưa đến hạn thu hồi.
Trong sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có, khái niệm “ tài sản đảm
bảo” được mở rộng hơn rất nhiều so với sản phẩm bao thanh toán.
Thứ ba, với lòch sử phát triển lâu đời của mình, sản phẩm bao thanh
toán đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới trong khi sản phẩm cho vay thế
chấp bằng tài sản có không phổ biến.
Điều này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế, trình độ
công nghệ ngân hàng và vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt tại các quốc
gia. Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ dòch vụ ngân hàng
cao và thanh toán qua ngân hàng là phổ biến thì sản phẩm bao thanh toán
được áp dụng rộng rãi bởi những lợi ích của nó. Sự nhanh chóng tiện lợi, an
toàn, đơn giản và các đơn vò bao thanh toán có thể kiểm soát tốt các khoản
phải thu là những yếu tố cơ bản giúp sản phẩm này được áp dụng rộng rãi.
Sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có lại không được áp dụng do tính
chậm chạp, rườm rà, phức tạp là điều khó có thể chấp nhận trong một môi
trưởng kinh doanh phát triển, cơ hội kinh doanh nhiều khi được tính bằng
không được chuyển cho đơn vò
cho vay. Các khoản phải thu
không được loại bỏ khi phá sản
Không tài trợ cho hàng hóa
thiết bò
Tài trợ cho hàng hóa thiết bò
KHÁC NHAU
Bao thanh toán phổ biến tại
các nước có nền kinh tế phát
triển, ngày càng phổ biến
trên toàn thế giới
Phổ biến đối với các nước có nền
kinh tế đang phát triển nhưng
theo xu thế chung của xã hội, sản
phẩm này ngày hạn chế sự xuất
hiện của mình.
III.7 Bao thanh toán trên bình diện quốc tế
Trong thời gian gần đây có thể nói rằng sản phẩm bao thanh toán đã trở nay
phổ biến trên khắp thế giới. Số lượng các quốc gia trên thế giới sử dụng sản
phẩm bao thanh toán khoảng hơn 60 nước và chắc chắn con số này sẽ không dừng
lại tại đó. Không những sản phẩm này được áp dụng tại những nước có nền tài
chính phát triển như Khối liên hiệp vương quốc Anh, Mỹ, Pháp, Nhật, Đức… mà
còn phổ biến tại những nước tại khu vực Châu Phi, Trung Đông như Thailand, Sri
Lanka, Lebanon…
Doanh số sản phẩm bao thanh toán tại các quốc gia trong giai đoạn từ 1999-2004
được thể hiện như sau :
ĐVT : TRIỆU EURO
DOANH SỐ/ NĂM 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Khu vực Châu u
1.Austria 2007 2275 2181 2275 2932 3013
1. China 31 212 1234 2077 2640 3215
2. Hong Kong 1800 2400 2690 3029 3250 4018
3. Indonesia 33 3 0 1 1 1
4. India 257 470 690 1290 1615 1825
5. Japan 55347 58473 61566 50380 60550 61554
6. Malaysia 805 585 842 610 718 783
7. Singapore 1970 2100 2480 2600 2435 2815
8. South Korea 5120 115 85 55 38 46
9. Sri Lanka 62 99 115 110 102 108
10. Taiwan 2090 3650 4511 7919 16000 16512
11. Thailand 1010 1268 1240 1274 1425 1685
CỘNG 68525 69375 75453 69345 88774 92562
( Theo báo cáo của WorldBank năm 2004) 352212
414382
468324
522851
546935
565688
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
TỶ EURO
BIỂU ĐỒ DOANH THU BAO THANH TOÁN GIAI